ÐÂU LÀ SỨC MẠNH TRUYỀN
THÔNG?
(Mc 10:46-52)
Theo thống kê, trên thế giới trung bình
mỗi gia đình coi truyền hình chừng ba
hay bốn tiếng một ngày. Phương tiện
truyền thông tràn ngập dưới mọi hình
thức, nhất là truyền hình, internet
v.v. Giáo Hội hôm nay rất quan tâm tới
việc rao giảng Tin mừng qua phương tiện
truyền thông. Quan tâm như thế có quá
trễ không ? Dân Chúa đã nắm bắt được
vấn đề như các vị lãnh đạo không ? Nắm
bắt được vấn đề, nhưng có cơ hội và
phương tiện để thực hiện không ? Ngay
tại những nơi truyền thông Công giáo
đang hoạt động mạnh như Âu Mỹ, Giáo Hội
có thực sự thành công không ? Nếu
không, tại sao ?
Ðó là vấn đề có thể tìm được câu giải
đáp qua phép lạ Chúa làm cho người mù
hôm nay. Giữa đám đông quần chúng, anh
chỉ là một chấm nhỏ. Càng nhỏ hơn nữa
khi anh thiếu một phương tiện quan trọng
nhất trong việc gặp gỡ với tha nhân :
đôi mắt. Rất may anh còn cái miệng.
Nhưng làm sao anh có thể trấn át đám
đông ? Giữa những luồng âm thanh hỗn
độn, chắc chắn tiếng nói của anh như rơi
vào sa mạc. Vậy mà, thực tế, anh đã
thực hiện được mộng ước sau bao năm ấp
ủ. Cơ may đã tới với anh khi Chúa Giêsu
đi ngang qua Giêrikhô. Anh cương quyết
không để lỡ cơ hội ngàn vàng.
Tin mừng Mátcô có hai câu truyện về
người mù. Người mù đầu tiên vô danh tại
Bếtxaiđa.[1] Người mù thứ hai tên
Batimê ở Giêrikhô. Họ cùng chia sẻ một
số phận và cùng được sáng mắt. Ði theo
người nào cũng có một đám đông. Nhưng
diễn tiến và phương cách chữa bệnh khác
nhau. Người mù đầu tiên được dân chúng
đem đến cho Chúa Giêsu. Tên tuổi và
tiếng nói không ai biết. Trái lại,
người mù thứ hai có tên. Tiếng anh kêu
lớn đến nỗi át cả đám đông.
Ðó là những diễn biến ai cũng thấy.
Nhưng tại sao người mù ở Giêrikhô mới có
tên và tiếng nói, trong khi người mù tại
Bếtxaiđa được chữa trị kỹ hơn nhiều?
Anh mù ở Bếtxaiđa không có một cố gắng
nào. Anh hoàn toàn thụ động. Anh được
dân chúng đem đến và được Chúa đưa ra
khỏi làng. Trái lại, anh mù tại
Giêrikhô hoàn toàn chủ động. Anh Batimê
có bản lãnh hơn nhiều. Bản lãnh đó
chính là niềm tin của anh. Anh không
phải là người tầm thường, vì anh không
chịu thua đám đông. Anh cũng không chịu
đầu hàng trước những tiếng quát nạt, hăm
dọa, áp đảo muốn chôn vùi giấc mộng lớn
lao của đời anh.[2] Như thế, anh bị
hai áp lực rất mạnh buộc anh phải im
tiếng. Thứ nhất là sự ồn ào của quần
chúng. Thứ hai là sự đe loi của những
người lớn tiếng “quát nạt.” Nhưng cuối
cùng chỉ có tiếng nói của đức tin mới
thắng vượt tất cả và thu hút được quyền
năng Thiên Chúa. Ðức tin là yếu tố
quyết định sự thành công của anh, chứ
không phải tại anh to miệng. Bởi đấy,
anh được lưu danh muôn thuở
Bao nhiêu năm chìm đắm trong đêm tối,
anh không thấy gì hết, ngoài hình ảnh
“ông Giêsu, Con Vua Ðavít”[3] thêu dệt
trong tưởng tượng qua những tiếng đồn
thổi. Ðức tin đã khiến anh lưu danh
muôn thuở. Cũng chính nhờ đức tin, Chúa
đã dễ dàng cứu anh khỏi cảnh đui mù mà
chẳng cần đụng chạm tới anh. Sau cùng,
khác với anh mù ở Bếtxaiđa, nhờ đức tin
vững mạnh, sau khi được Chúa thương,
“anh ta nhìn thấy được và đi theo Người
trên con đường Người đi.”[4] Người đi
đâu, nếu không phải lên Giêrusalem chịu
khổ hình thập giá ? Anh đi theo Chúa,
chứ không theo đám đông ồn ào. Cùng với
anh, nhiều người tội lỗi và đau yếu được
Chúa Giêsu quy tụ để làm thành một dân
tộc tin theo Chúa.
Khi tuyên xưng Ðức Giêsu là Con vua
Ðavít, anh cho thấy niềm tin sâu xa và
chân thật vào Ðấng Thiên Sai. Sau khi
chữa lành anh, Chúa long trọng vào thành
Giêrusalem giữa tiếng hoan hô cùng một
nội dung y như anh. Những lời tuyên
xưng đó càng làm cho các môn đệ Chúa
phấn khởi và nôn nóng về giấc mộng Thiên
sai nặc mùi chính trị. Trước khi chữa
trị anh Batimê, Chúa đã mở mắt cho hai
anh em ông Giacôbê và Gioan cũng như các
tông đồ. Nhưng có lẽ các ông vẫn chưa
tỉnh ngộ. Bởi thế, “việc chữa lành cho
người mù có lẽ trở thành một dụ ngôn nói
về những gì sẽ xảy ra cho các môn đệ.
Hiện tại, trước ý nghĩa của cuộc thương
khó Chúa Giêsu và sự cần thiết phải chia
sẻ nỗi thống khổ của Người, các môn đệ
đang đui mù. Như các người đó đã nhìn
thấy ánh sáng, sau khi Chúa phục
sinh,các môn đệ cũng nhìn thấy điều mà
nay họ đang mù tịt.”[5]
Ðức tin của anh Batimê hơn hẳn các môn
đệ, nhất là sau khi được nhìn thấy ánh
sáng và dung nhan Ðấng Thiên Sai anh vẫn
mơ ước xưa nay. Anh không ôm hoài bão
Thiên Sai như các môn đệ. Bằng chứng,
sau khi được chữa mù, “anh đã đi theo
Người trên con đường Người đi.” Khác
với anh, các môn đệ vẫn theo Chúa trên
con đường riêng của họ. Thày Trò đi
trên hai con đường song song. Bi thảm
thật !
Sức mạnh của truyền thông
cũng phải phát xuất từ đức tin, chứ
không từ những kỹ thuật hay kinh nghiệm
cũng như những đức tính nhân bản.
Có lẽ còn thiếu yếu tố vô cùng quan
trọng đó, nên giữa những ồn ào của
truyền thông hôm nay, lời rao giảng Tin
Mừng qua phương tiện truyền thanh,
truyền hình, internet . . . vẫn chưa
đạt mục đích và kết quả như mong muốn.
Ðó là lý do tại sao Đức Hồng Y Quốc Vụ
Khanh Tòa Thánh Tarcisio Bertone quả
quyết : “Chúng ta phải là những người
thợ đồng hành của sự thật hầu có thể
cung cấp Tin Mừng của Chúa trong những
hình thái nhiều mặt của truyền thông:
nghe, nhìn, đang khi làm chứng cho vẻ
đẹp của tạo dựng”[6] Ðồng hành với sự
thật chỉ có đức tin. Chỉ có những người
tin thực sự và mãnh liệt mới có thể làm
cho Tin Mừng đến với mọi người.
Ðứng trước một lục địa mênh mông như
Châu Á, làm sao có đủ nhân lực và phương
tiện đưa Tin Mừng đến từng nhà ? Ðây là
câu trả lời đích xác : “Giáo Hội cần
khám phá những cách thế để tận dụng mọi
phương tiện truyền thông đại chúng vào
kế hoạch mục vụ và hoạt động mục vụ, nhờ
biết sử dụng cách hữu hiệu mà sức mạnh
của Tin Mừng có thể đến và tiếp xúc một
cách rộng rãi với từng cá nhân cũng như
với toàn cả các dân tộc, đưa các giá trị
của Nước Trời thâm nhập vào các nền văn
hóa của Châu Á¨[7] Nhưng dù phương tiện
hiện đại tới mấy, nhân lực vẫn là yếu tố
quan trọng. Nhu cầu quá lớn, số ít giáo
sỹ và tu sỹ không thể đáp ứng được.
Nhưng không phải vì thế việc loan báo
Tin Mừng mới cần đến giáo dân. Tự bản
chất, người Kitô hữu có sứ mệnh loan báo
Tin Mừng. Họ được kêu gọi làm ngôn sứ
ngay từ khi làm con Chúa tại giếng rửa
tội.
Không biết đến bao giờ
giáo dân mới có thể ý thức chính họ là
Giáo Hội vì Giáo Hội là Dân Thiên Chúa.
“Tất cả đều được kêu gọi nên thánh và
đồng thừa hưởng đức tin trong sự công
chính của Thiên Chúa. Mặc dù theo ý
Chúa Kitô, có những người được chọn làm
tiến sĩ, làm người phân phát các mầu
nhiệm hay chủ chăn lo cho kẻ khác, nhưng
giữa tất cả mọi người vẫn có bình đẳng
thực sự, bình đẳng về phương diện phẩm
giá và hoạt động chung của mọi tín hữu
để xây dựng thân thể Chúa Kitô.”[8] Như
vậy, giáo dân, tu sĩ, và giáo sĩ đều
được mời gọi cộng tác vào công cuộc thi
hành sứ mệnh Giáo Hội. Theo Tgm Daniel
Pilarczyk, Cincinnati, tự căn bản Giáo
Hội là một tổ chức giáo dân được hàng
giáo phẩm phục vụ.[9] Tu sĩ hay giáo sĩ
cũng xuất thân từ giáo dân. Không có
giáo dân, không thể có Giáo Hội. Không
có giáo dân, Giáo Hội không thể phúc âm
hóa thế giới. Giáo dân được kêu gọi
hoạt động để biến đổi thế giới và làm
cho Nước Chúa mau trị đến nhờ đời sống
gia đình, lao động và những dấn thân
chính trị cho một xã hội công bình
hơn.[10]
Giữa một thế giới đầy những biến động và
ồn ào hôm nay, lương tâm thúc đẩy người
giáo dân dấn thân sâu xa và hăng say
“làm cho những giá trị luân lý thấm nhập
vào văn hóa và các công trình của loài
người. Nhờ vậy, cánh đồng thế giới mới
được chuẩn bị kỹ càng hơn để đón nhận
Lời Thiên Chúa.”[11]
Nhưng làm sao có thể chu
toàn sứ mệnh đó, nếu giáo dân không cố
gắng dành thời giờ học hỏi Lời Chúa ?
Lâu nay, có những người phê bình các
linh mục không hoạt động để nâng cao
trình độ hiểu biết của giáo dân về Lời
Chúa và về Giáo Hội, mà chỉ lo gây quỹ
xây nhà thờ v.v. Thực tế không phải
không có. Nhưng cũng xin nhìn đến các
lớp Giáo lý, Kinh Thánh v.v. xem được
mấy người tham dự ? Họ kêu gọi các bậc
cha mẹ phải lo dạy giáo lý cho con cái,
vì các linh mục không quan tâm tới
chuyện quan trọng đó nữa. Nhưng thử hỏi
được mấy cha mẹ có đủ trình độ hiểu biết
về Giáo lý và Kinh thánh để hướng dẫn
con cái ?
Rất may có những người quan tâm tới
tương lai Giáo hội Việt nam. Nhưng
nhiều người chỉ nhằm khơi sâu hố ngăn
cách giữa giáo dân và linh mục. Giải
pháp tích cực không xuất hiện. Họ chỉ
tìm mọi cơ hội để chứng minh cho mọi
người thấy một sự bình đẳng tuyệt đối
giữa giáo dân và linh mục. Viết về Giáo
hội, họ chỉ nhắm triệt hạ hàng giáo phẩm
và nâng cao giáo dân tới mức tuyệt đối.
Nhưng thử hỏi, làm sao Giáo hội tồn tại
trong một tình trạng vô tổ chức như vậy
?
Ðã đến lúc cần làm
cho mọi người nhận thức vai trò giáo dân
trong sứ mệnh phúc âm hóa thế giới và xã
hội hôm nay.
Một Kitô
hữu “không hoạt động hết khả năng cho
thân thể (Chúa Kitô) lớn lên, phải bị
coi là vô dụng đối với Giáo hội và chính
mình.”[12]
Ðặc biệt, rất nhiều giáo dân Việt nam
còn đang trong tình trạng mù lòa. Không
nhìn thấy những giá trị Tin Mừng, làm
sao họ có thể cải hóa và nâng cao thế
giới ? Thực tế, “Thiên Chúa gọi họ, để
dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm,
như men từ bên trong, họ thánh hóa thế
giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ
của mình.”[13] Nói khác, “Kitô hữu hãy
làm cho thế giới sống như linh hồn làm
cho thân xác sống.”[14]
Lạy Chúa,
cảm tạ Chúa đã kêu gọi con làm Kitô hữu
của Chúa. Nhưng con vẫn mù. Xin Chúa
mở mắt cho con nhìn thấy những giá trị
Tin Mừng và những phương tiện hiện đại
hôm nay, để Lời Chúa thành sức mạnh thay
đổi thế giới. Amen.
đỗ lực
dzuize@gmail.com
[1] x. Mc 8:20-26.
[2] x. Mc 10:48.
[3] Mc 10:48.49.
[4] Mc 10:52.
[5] The New American Bible, Saint Jerome
Press 1987:1043.
[6] Vietcatholic News ngày 10.10.2006
[7] Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông
Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 48.
[8] Lumen Gentium, số 32.
[9] x. Doyle D.M., The Church Emerging
from Vatican II, Twenty-Third
Publications, 1992 : 112
[10] ibid., 116.
[11] Lumen Gentium, số 36.
[12] Apostolicam Actuositatem, , số 2.
[13] Lumen Gentium, số 31.
[14] trích từ Lumen Gentium, Epist. ad
Diongtum, 6, Funk I : 400 – x. Th. Gioan
Kim Khẩu, trong Mt, bài giảng 46(47), 2
: PG 58, 478, về men trong bột.
