Bối Cảnh Do Thái Của Kinh Lạy
Cha
Chúa Giêsu là một người Do
Thái thuần thành. Từ những ngày còn trong bụng
Mẹ, Người đã bắt đầu cùng Mẹ cất lời ca ngợi
Thiên Chúa hàng ngày, nhất là dịp Mẹ đi thăm dì
Elizabeth và đem Con vào Đền Thờ (Lc 1:46ff;
2:22ff)). Lớn lên, đã chủ động rất nhanh cuộc
sống thân mật với Thiên Chúa. Cậu bé mười hai tự
ý hay vì say mê quá mà ‘quên cả đường về’ tiếp
tục ở lại Giêrusalem “vừa nghe các thầy dạy, vừa
đặt câu hỏi” khiến “ai nghe cậu nói cũng ngạc
nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của
cậu” (Lc 3:46-47). Diễn trình ấy không phải một
mà hẳn phải rất nhiều lần. Vì mặc dù không đến
trường đào tạo nào, Người cũng đã mặc nhiên trở
thành một rabbi, hiển nhiên đến nỗi những
người khó tính như luật sĩ và biệt phái cũng
không dám tước bỏ danh hiệu. Có điều vị rabbi
này phụng sự Thiên Chúa không phải chỉ ngoài môi
mép mà bằng cuộc sống cầu nguyện nội tâm sâu
sắc, múc từ dòng sữa Mẹ…
Các môn đệ của Người tuy là
những người lao động chất phác, nhưng phần đông
cũng là những tín hữu trung thành của hội đường.
Thầy trò ra vào hội đường không hẳn như một bổn
phận phải chu toàn mà là như một nhu cầu phải
thoả mãn. Hội đường thì hạn hữu mà nhu cầu thì
vô chừng. Thầy trò hiển nhiên phải thoả mãn nhu
cầu thiêng liêng ấy khắp mọi nơi, bất cứ lúc
nào. Bởi thế mà có lời yêu cầu: “Thưa Thầy, xin
dạy chúng con cầu nguyện” và thế là chúng ta có
Kinh Lạy Cha (Lc 11: 1-4; Mt 6:9-13). Thầy không
cần tra cứu lâu la. Trò không cần thắc mắc dài
dòng. Thầy như rút từ trong ruột rút ra. Trò
hiểu nội dung từng câu từng chữ nằm lòng như đã
được nghe cha ngâm, mẹ ngắm từ lúc nằm nôi.
Không một soạn giả Phúc Âm nào nhắc đến bất cứ
câu hỏi nào từ phía các môn đệ, mặc dù, đối với
nhiều vấn đề khác, các ông không những thắc mắc
mà còn “rầm rì” phản đối là đàng khác. Được như
thế là vì Kinh Lạy Cha, dù có rất nhiều nét độc
đáo phi thường, vẫn là Kinh của một người Do
Thái thuần thành, xuất thân từ một dân tộc được
đặc điểm hóa và nổi bật nhất về cầu nguyện.
1.
Tin Tưởng Hoàn Toàn
Người Do Thái có thói quen
đến với Chúa bằng cả một lòng tin tưởng tuyệt
đối rằng Người mong muốn các lời cầu nguyện của
họ và Người sẽ nhận các lời cầu nguyện ấy. Các
thầy rabbis cho hay: “Đấng Thánh Thiện
ước ao lời cầu nguyện của kẻ công chính”. Còn
Thánh Vịnh Gia thì bảo: “Chúa gần gũi những ai
kêu cầu Người, những ai kêu cầu Người trong sự
thật” (Tv 145:18). “Họ kêu cầu Chúa lúc túng
quẫn và Người giải thoát họ khỏi bĩ cực” (Tv
107:6). Thiên Chúa nói về người lành: “Khi nó
kêu cứu đến Ta, Ta sẽ đáp ứng lại nó” (Tv
91:15).
Bởi lẽ trên, người Do Thái
không bao giờ hoài nghi sức mạnh của lời cầu
nguyện. Các thầy rabbis dạy rằng “Cầu
nguyện, khí giới của miệng, hết sức mạnh mẽ”
(1). Họ luôn tin rằng lỗ tai Thiên Chúa và trái
tim Người luôn mở rộng đón nhận lời cầu nguyện
của con cái mình. “Mọi người đều bình đẳng khi
họ cầu nguyện trước nhan Thiên Chúa, dù là đàn
bà hay nô lệ, khôn ngoan hay ngu muội, giầu hay
nghèo” (2). Dù cả thế giới cùng cầu nguyện một
lúc, Thiên Chúa vẫn nghe thấy lời cầu của từng
người. Họ trích dẫn câu: “Ôi Đấng nghe thấu lời
cầu, muôn xác thịt ngỏ cùng Người (một lúc)” (Tv
65:2). Rồi nghĩ thêm: “Một ông vua phàm trần chỉ
lắng nghe được hai hay ba người một lúc, chứ
không thể nghe thêm; Thiên Chúa không như thế,
vì mọi người có thể cầu nguyện với Người, và
Người lắng nghe họ tất cả cùng một lúc. Lỗ tai
con người nghe riết sẽ chán; nhưng lỗ tai Thiên
Chúa không bao giờ chán nghe. Người không bao
giờ mỏi mệt vì lời cầu nguyện của con người”
(3). Người cũng sẽ không bao giờ chán ngán vì bị
con cái quấy rầy. Các thầy rabbis hay kể
lại dụ ngôn này: “Một người kia đến thăm bạn,
được bạn tiếp đón ân cần, đặt anh nằm ghế bành
bên cạnh. Hôm sau anh ta đến nữa, được người bạn
cho ngồi ghế dựa. Hôm sau nữa lại đến, được anh
ta cho ngồi ghế đẩu. Lần thứ tư, anh được bạn
bảo: ‘cái ghế gác chân xa quá, tao lấy không
được cho mày’. Thiên Chúa thì không thế. Vì bất
cứ khi nào Israel gõ cửa nhà Thiên Chúa, Đấng
Thánh đều hớn hở, như lời đã chép: Vì có dân tộc
nào vĩ đại bằng dân tộc có được một Thiên Chúa ở
gần họ như Thiên Chúa chúng ta, bất cứ khi
nào chúng ta kêu cầu” (4). Đối với một con
người, bạn hữu càng lúc càng ít được chào đón
sau mỗi lần viếng thăm, cho đến lúc trở thành
‘của nợ’, còn với Thiên Chúa, không bao giờ như
thế cả.
Khi Đền Thờ
Giêrusalem bị phá hủy năm 70 CN và khi người Do
Thái không thể dâng hy lễ được nữa thì cầu
nguyện đã trở thành hy lễ và lễ dâng tối cao.
Nhưng trước đó nữa, nhiều rabbis đã chủ
trương rằng trước nhan Thiên Chúa, cầu nguyện
cao cả hơn lễ hy sinh. “Thiên Chúa phán với
Israel: Hãy siêng năng việc sùng kính, vì không
có đức tính nào đẹp hơn cầu nguyện. Cầu nguyện
cao cả hơn mọi hy lễ” (5). “Trong luật hy lễ có
qui định: Ai có bò mộng hãy dâng bò mộng; nếu
không, anh ta hãy dâng con dê hay con chiên,
hoặc con bồ câu; và nếu anh ta không đủ sức dùng
bồ câu, anh ta hãy dâng một nắm bột. Còn nếu anh
ta không có cả một nắm bột, thì anh ta khỏi phải
mang gì tới, mà chỉ cần mang tới lời cầu nguyện”
(6).
Các bậc thầy Do Thái cũng cho
hay phải cầu nguyện liên lỉ chứ không phải chỉ
khi cần thiết. Sách Talmud, sau khi nhấn mạnh
câu nói của Sách Huấn Ca “Hãy kính trọng thầy
thuốc trước khi con cần tới ông ta”, đã
nói rằng: “Đấng Thánh phán, cũng như việc của Ta
là tạo cho mưa và sương rơi xuống đất và làm cho
cây cối mọc lên để nuôi sống con người thế nào,
thì con cũng buộc phải cầu nguyện với Ta, và ca
ngợi Ta vì các công trình của Ta như thế; con
không nên nói, con đang thịnh vượng giầu có, cần
chi phải cầu nguyện? Bao giờ bất hạnh xẩy ra cho
con, con mới đến khẩn cầu. Con phải dự ứng trước
và cầu nguyện ngay trước khi bất hạnh xẩy ra!”
(7). Cầu nguyện không hẳn là lời kêu cầu lúc cần
kíp nguy kịch cho bằng lời chuyện trò và tình
bằng hữu liên tiếp và không dán đoạn với Thiên
Chúa.
2.
Giãi Bầy Cõi Lòng
Người Do Thái nói tới các cảm
xúc trong tâm hồn khiến người ta cầu nguyện (8).
Ta phải đem hết mọi điều trong trái tim ta ra
thổ lộ cùng Chúa. Nhờ thế, ta buộc phải khảo sát
các thèm muốn trong tâm hồn mình xem chúng có
chứa một điều chi không thánh thiện, không công
chính hay đê tiện hay không.”Cầu nguyện đem lại
hậu quả hữu ích là thanh tẩy, gọt dũa và làm tâm
hồn ta cao thượng. Nó xua đuổi các tư tưởng xấu
và do đó giúp ta thoát được nhiều đau đớn buồn
khổ” (9). “Con sẽ chúc tụng Thiên Chúa mọi lúc:
miệng con sẽ luôn luôn ca ngợi Người” (Tv 34:2).
“Ôi lạy Chúa, hãy mở môi con; và miệng con sẽ ca
ngợi Người” (Tv 51:17).
Trước nhất phải tỏ dạ biết
ơn và lời tạ ơn. “Con sẽ ca ngợi
Chúa, vì Chúa đã nghe lời con” (Tv 118:21). “Con
sẽ dâng hy lễ lên Chúa với lời tạ ơn thiết tha”
(Giôna 2:9). Một rabbi từng nói: “Dù
không thể liên tục dâng mọi lời cầu nguyện lên,
song lời cầu nguyện tạ ơn, thì không bao giờ
được gián đoạn”. Ấy thế nhưng phải cẩn thận để
tạ ơn Chúa vì những điều đúng đắn. “Đừng vui
mừng, khi kẻ thù ngươi vấp ngã”. Sách Talmud có
một câu nói rất đáng yêu: “Các Thiên Thần muốn
hát bài ca ngợi Thiên Chúa khi người Ai Cập bị
chết chìm dưới biển, nhưng Thiên Chúa quở trách
các vị mà nói rằng: ‘Ta há lại nghe các ngươi
đàn hát khi con cái Ta chết chìm trước mắt Ta
hay sao?’” (10). Các thầy dạy Do Thái đều nhấn
mạnh rằng: người ta không bao giờ nên tạ ơn Chúa
vì bất cứ bất hạnh nào xẩy tới cho người khác.
Khi cầu nguyện, lúc nào người
ta cũng phải nghĩ đến sự thánh thiện của
Thiên Chúa. Dù đến với Thiên Chúa trong yêu
thương và tin cậy cũng như tin tưởng bao nhiêu,
người ta vẫn phải kính trọng, khiến họ, là tạo
vật, không được xuồng xã với Đấng Hóa Công.
Rabbi Simon nói rằng: “Khi cầu nguyện, con người
phải nghĩ rằng Shechinah (Vinh Quang
Thiên Chúa) đang ngự trước mặt họ” (11). Nghĩ
đến sự thánh thiện của Thiên Chúa khi cầu nguyện
là phải nghĩ đến hai điều khác nữa. Thứ nhất là
ý muốn vâng phục và làm Chúa vui lòng.
Thánh vịnh gia thân thưa: “Lời Chúa dịu ngọt
biết bao đối với con, dịu ngọt thơm tho hơn mật
ong đối với miệng lưỡi con!”. “Miệng con sẽ ngâm
ngợi lời Chúa, vì mọi giới răn Chúa đều chân
thật” (Tv 119: 103, 172). Thứ hai là nỗi sợ
sệt phạm tới Chúa. Chỉ người có bàn tay sạch
sẽ và tâm hồn trong trắng mới được lên đồi Chúa
(Tv 24:3,4). Vì thế, Thánh vịnh gia quyết tâm:
“Lạy Chúa, con sẽ rửa tay con cho vô tội để rảo
quanh bàn thờ Chúa” (Tv 26:6).
Và trên tất cả, khi cầu
nguyện, con người phải giãi bầy cho Chúa mọi yếu
đuối của mình. Họ quá biết rõ sự bất ổn của cuộc
đời, sự vô vọng của họ trước rủi may và đổi thay
của cuộc sống, ánh sáng đời sống có thể đột
nhiên vụt tắt nhường chỗ cho bóng đêm. Thánh
vịnh gia cho hay: “Chúa là thành lũy cho kẻ bị
bóc lột, một thành lũy trong cơn khốn khó” (Tv
9:9). Sách Talmud cho hay: “Cả khi lưỡi gươm đã
kề cổ, cũng không nên mất lòng cậy trông cầu
nguyện cùng Thiên Chúa” (12). “Hãy cậy trông
Chúa và cầu nguyện nữa” (13).
Phần lớn lời cầu nguyện của
người Do Thái là thống hối. “Cổng nước
mắt không bao giờ đóng” (14). Cả khi cộng đoàn
không thể đem gì tới, họ vẫn có thể khóc và cầu
nguyện, và Thiên Chúa sẽ tiếp nhận chúng (15).
Họ gán cho lời kinh thống hối một sức mạnh khá
phi thường. Họ luôn luôn thán phục trước điều ta
có thể gọi là nghịch lý của Thiên Chúa. Điều
Người phán ra là bất di bất dịch; luật lệ của
Người không thể vi phạm; phán xử của Người không
thể tránh được. Cho nên xem ra án Thiên Chúa
phạt kẻ có tội là không thể thay đổi được. Nhưng
một sự kiện vẫn đúng là vẫn có những thứ như
lòng xót thương đầy diệu kỳ của Thiên Chúa.
Người Do Thái tin theo nghĩa đen rằng lời cầu
nguyện của một tâm hồn thống hối có thể biến đổi
cơn thịnh nộ của Thiên Chúa thành lòng thương
xót của Người. “Tại sao lời cầu nguyện của kẻ
công chính lại giống như chiếc cào? Vì chiếc cào
chuyển động thóc lúa từ nơi này đến nơi khác thế
nào thì lời cầu nguyện của người công chính cũng
chuyển động các phẩm tình xót thương như vậy”
(16). Một lần kia, khi Rabbi Ishmael giữ nhiệm
vụ thầy cả, ông đã bước vào nơi cực thánh để
dâng hương. Tại đấy, ông đã thấy Thiên Chúa, và
cầu nguyện cùng Người rằng: “Xin ý Chúa dùng
lòng xót thương khuất phục cơn thịnh nộ của
Ngài”, và Thiên Chúa gật đầu đồng ý (17). Có lẽ
hình ảnh đáng ngạc nhiên nhất trong mọi trước
tác tôn giáo của Do Thái là hình ảnh Thiên Chúa
cầu xin chính mình cho lòng xót thương của mình
thắng vượt. Rab cho hay: lời cầu nguyện của Chúa
như sau: “Chớ chi ý Ta là lòng xót thương của Ta
thắng vượt lòng tức giận của Ta, chớ chi nó
thắng vượt các thuộc tính công bằng và phán xử
của Ta, và ước chi ta đối xử với con cái Ta theo
thuộc tính xót thương, chứ không cư xử với chúng
theo đường công lý nghiêm ngặt” (18). Israel
Abrahams trích một câu của Solomon Ibn Gabirol
trong cuốn Royal Crown được ông coi là
một ca khúc linh hứng bậc nhất chỉ sau Sách
Thánh Vịnh: “Từ Ngài con chạy đến với Ngài”
(19).
Lời cầu nguyện cao qúy nhất
vẫn là lời cầu nguyện của cộng đồng. Lời
cầu nguyện của cá nhân luôn có nguy cơ rơi vào
vị kỷ; và do đó, lời cầu nguyện cao qúy nhất
chính là lời cầu nguyện của cộng đoàn, một cơ sở
mà cá nhân không bao giờ nên phân ly. “Israel
chỉ được cứu chuộc khi hợp lại thành cộng đoàn:
khi mọi người hiệp nhất, họ mới tiếp nhận được
sự hiện hữu của Shechinah (vinh quang
Thiên Chúa)” (20). Chỉ những ai chia sẻ buồn vui
với cộng đoàn, như Mô-sen chia sẻ các khốn quẫn
của dân mình, mới nhận được niềm an ủi của cộng
đoàn (21). Khi người công chính ở cận kề cái
chết, họ vẫn không quan tâm tới chính thân phận
mình nhưng quan tâm tới nhu cầu của cộng đoàn.
Lúc người ta cho biết ông sắp chết (Dân Số
27:12-14), Mô-sen không lo lắng cho chính ông,
nhưng lo lắng để Thiên Chúa đề cử một lãnh tụ
khác thay thế ông (22). Có lẽ trường hợp ngoại
thường nhất trong đường hướng cầu nguyện này là
lời cầu nguyện của các rabbi như sau:
“Lạy Chúa, xin đừng để lời cầu của kẻ gây chiến
được dâng lên trước nhan Chúa” (23). Ý niệm hàm
chứa trong đó là kẻ gây chiến có thể xin cho
thời tiết nắng ấm trong khi toàn thể cộng đồng
lại cần mưa thuận. Không phải vì tư tưởng Do
Thái lên án hay không quan tâm tới lời cầu
nguyện bản thân và tư riêng, trái lại là đàng
khác; mà chỉ là vì họ rất tởm gớm tính vị kỷ
trong lời cầu nguyện, và do đó, nhấn mạnh tới
nhu cầu cầu nguyện trong và với cộng đoàn. Và ta
hẳn nhớ rằng các chữ như con, cho con, của
con không hề có mặt trong Kinh Lạy Cha.
3.
Các đặc điểm của cầu nguyện
Người Do Thái tin vào sự
bền bỉ trong cầu nguyện. Mô-sen vẫn cứ cầu
xin lòng xót thương của Chúa, dù Chúa đã cho ông
hay: “đủ rồi, đừng nói với Ta việc ấy nữa!” (Đệ
Nhị Luật 3:26). Người khác chắc đã chấm dứt từ
lâu khi lời cầu nguyện của họ không được đáp
ứng! Sau cái tội thờ bò vàng, Mô-sen khẩn cầu
cho dân suốt bốn mươi ngày (Đệ Nhị Luật 9:18,
25). Các Rabbis thường nhắc lại truyện
Vua Hezekiah trong cơn bệnh hiểm nghèo vẫn không
ngừng cầu nguyện dù tiên tri Isaiah, nhân danh
Thiên Chúa, thông báo cho ông hay ông sẽ chết
chứ không sống được (Isaiah 38:1-5). Ông cho vị
tiên tri này hay: trong gia đình ông, có một
truyền thống, dù gươm sắc đã kề vào cổ một
người, người đó cũng không ngưng van xin thương
xót (24). Cầu nguyện, thống hối và bố thí là ba
thứ có thể làm cho Thiên Chúa rút lại các sắc
lệnh của Người (25). Người Do Thái thấy không có
gì sai và bất tự nhiên trong việc nài nẵng Thiên
Chúa.
Bền bỉ kiên nhẫn đã đành, lời
cầu nguyện cũng phải kèm theo lòng khiêm tốn.
Người cầu nguyện luôn minh xác mình không
muốn điều gì khác ngoài thánh ý Thiên Chúa.
Người Do Thái luôn coi những lời mở đầu kinh cầu
nguyện sau đây như là tiêu chuẩn: “Xin Chúa vui
lòng ban…”; “nếu đẹp mắt Chúa, xin hãy…”. “Hãy
học cách nói: Đấng Toàn Năng làm bất cứ điều chi
cũng là vì lợi ích chúng ta” (26). Không ai được
cầu nguyện mà lại mong việc đáp trả như một
quyền lợi. Lời cầu nguyện cao ngạo luôn là điều
tởm gớm. Có một câu ngạn ngữ hơi lạ: “Có ba điều
tội người ta thường phạm hàng ngày: tư tưởng
xấu, trông chờ vào cầu nguyện, và vu vạ.
Người cầu nguyện nào nghĩ mình đáng được đáp
ứng, sẽ không được đáp ứng bao giờ” (27). Ý niệm
đàng sau câu ngạn ngữ đó là nhiều người tin
tưởng vào cầu nguyện đến độ kiêu căng cho rằng
Thiên Chúa phải thực hiện điều họ cầu
xin. Sự đáp trả lời cầu xin luôn luôn là một ân
huệ chứ không hề là một quyền lợi. “Đừng biến
lời cầu nguyện của ngươi thành một yêu sách hay
một đòi hỏi cố định, cần phải được thực hiện đầy
đủ, mà chỉ là lời khẩn khoản xin ơn thương xót,
một khẩn khoản có thể được ban cho mà cũng có
thể không” (28). Ngay trong cầu nguyện, người ta
vẫn phải nhớ rằng Thiên Chúa là Đấng Hoá Công,
còn mình chỉ là tạo vật.
Đối với người Do Thái,
nguyện giúp cầu thay hết sức qúy giá. Nó là
lời cầu nguyện nhân danh người khác. Lời cầu
nguyện này luôn được đáp ứng trước hết (29). Rab
cho hay: “Bất cứ ai có quyền cầu nguyện nhân
danh người khác mà bỏ lỡ không làm như thế là
một kẻ có tội” (30). Đây là một điển hình khác
cho thấy người Do Thái rất tởm gớm tính vị kỷ
trong lời cầu nguyện. Cầu nguyện cho người khác
ít nhất cũng quan trọng như cầu nguyện cho chính
mình.
4.
Hình thức chủ nghĩa
Chính vì lời cầu nguyện giữ
một vị thế cao như thế trong tư tưởng và cuộc
sống của người Do Thái như thế, nên nó rất dễ
rơi vào nguy hiểm và lạm dụng, những nguy hiểm
và lợi dụng Chúa Giêsu biết rất rõ khi Người nói
với các môn đệ về việc cầu nguyện. Nguy hiểm tai
hại nhất đương nhiên là hình thức chủ nghĩa.
Vì người Do Thái lo lắng sao cho lời cầu
nguyện không bị xao lãng, trái lại phải có chỗ
đứng xứng đáng trong cuộc sống, nên họ có khuynh
hướng muốn tạo ra nhiều quy luật và qui định bao
quanh nó. Tuy nhiên rất nhiều người viết đã tỏ
ra bất công đối với người Do Thái trong việc
đương đầu với vấn đề này. Ta thấy có hai lý do
chính cho thái độ bất công ấy. Thứ nhất, cái
hình thức chủ nghĩa kia sở dĩ có đó là hoàn toàn
phát sinh do quyết tâm và ý muốn muốn đem lại
cho việc cầu nguyện chỗ đứng xứng đáng của nó.
Thứ hai, không ai khác đã ý thức được nguy cơ
kia bằng chính người Do Thái, nên chính họ đã
đưa ra nhiều biện pháp để vượt qua hình thức chủ
nghĩa ấy và quả thực họ đã vượt qua trong nhiều
trường hợp.
A. Hình thức chủ nghĩa về
thời gian
Người Do Thái đạo hạnh cầu
nguyện mỗi ngày ba lần: lúc 9 giờ sáng, lúc 12
giờ trưa và lúc 3 giờ chiều. Người Do Thái thích
truy nguyên sự vật, nên họ thường gán lời cầu
nguyện ban sáng cho Abraham (Sáng Thế 19:27),
lời cầu nguyện buổi trưa cho Isaac (Sáng Thế
24:63) và lời cầu nguyện buổi chiều cho Giacóp
(Sáng Thế 28:11). Đanien cũng cầu nguyện ngày ba
lần, mặt hướng về Giêrusalem (Đanien 6:10). Quả
tình điều này dễ trở thành hình thức chủ nghĩa,
như một dịp để khoa trương, chọn nơi cầu nguyện
để ai ai cũng thấy lúc mình cầu nguyện. Chính
vua Đavít đã từng nói: “Buổi chiều, rồi buổi
sáng, buổi trưa, tôi cầu nguyện và la lớn (cho
mọi người nghe?) (Thánh vịnh 55:17). Dĩ nhiên
điều này dễ trở thành một chu kỳ cầu nguyện có
tính nghi thức; nhưng quả tình, người Do Thái
sùng đạo thường vẫn khát khao “cầu nguyện liên
lỉ ngày đêm” (31).
B. Hình thức chủ nghĩa về
nơi chốn
Ngoài việc phải cầu nguyện
đúng giờ, người Do Thái còn phải cầu nguyện đúng
chỗ nữa. Abba Benjamin cho hay: “Lời cầu nguyện
của người ta chỉ được Thiên Chúa nghe khi được
thực hiện trong Hội Đường” (32). Rabbi Huna thì
nói: “Ai muốn xác định một địa điểm để cầu
nguyện, sẽ được Thiên Chúa của Abraham giúp đỡ”
(33). Rabbi Jochanan cho rằng người ta nên dành
một chỗ riêng biệt cho cầu nguyện (34). Hai
thánh Phêrô và Gioan lên Đền Thờ vào lúc 3 giờ
chiều ‘giờ cầu nguyện” khi các ngài gặp người
què ở Cửa Đẹp và chữa cho anh ta (Công Vụ 3:1).
Nhưng sẽ lầm lẫn nếu coi việc đó như qui luật
duy nhất của cầu nguyện. Cũng chính vị Rabbi
Jochanan này đã thêm :”người cầu nguyện tại nhà
mình sẽ bao bọc nhà ấy bằng những bức tường sắt”
(35), một câu nói rất đẹp về việc cầu nguyện tại
gia đình. Có lời Diễn Giải (Midrash) về một
trong các Thánh Vịnh như sau: “Thiên Chúa phán
với Israel: Hãy cầu nguyện tại Hội Đường thị xã;
nếu không thể, thì cầu nguyện tại cánh đồng; nếu
không thể, thì cầu nguyện tại nhà; nếu không
thể, thì cầu nguyện tại giường; mà nếu không
được nữa, thì ở im lặng mà cầu nguyện bằng chính
trái tim ngươi” (36). Không có chỗ nào thiếu sự
hiện diện của Chúa. Cả những người đang làm việc
trên ngọn cây hay trên dàn dựng xây cất, vẫn
được phép đứng tại chỗ cầu nguyện vào giờ cầu
nguyện (37). Luật định rằng tại Hội Đường, phải
hướng về Giêrusalem, còn ở Đền Thờ phải hướng về
Nơi Cực Thánh mà cầu nguyện. Nhưng đồng thời
cũng có lời các rabbis dạy rằng: “Người
mù hay người không định được phương hướng, thì
chỉ cần hướng lòng mình lên Cha trên Trời” (38).
Quả có một chủ nghĩa hình thức về nơi chốn,
nhưng bên kia chủ nghĩa hình thức này, người ta
biết rõ Thiên Chúa không cư ngụ trong bất cứ Đền
Thờ nào do tay con người dựng nên.
C. Hình thức chủ nghĩa trong
các kinh soạn sẵn
Hình thức cầu nguyện vĩ đại
nhất của người Do Thái là Kinh Shemoneh
‘Esreh có nghĩa là Kinh Mười Tám. Nó gồm
mười tám lời cầu nguyện dưới hình thức chúc
tụng, tất cả đều bắt đầu bằng câu “Chúc tụng
Chúa”. Nó được xưng tụng là Tefillah có
nghĩa là Kinh Cầu Nguyện, vì nó quả là kinh
tuyệt hảo. Nó là một phần trong phụng vụ tại Hội
Đường, và người Do Thái đạo hạnh nào cũng phải
đọc nó ngày ba lần. Nó còn có cả bản rút ngắn
cho những ai không đọc được bản đầy đủ: “Lạy
Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin cho chúng con
hiểu biết đường lối Chúa; cắt bì tâm hồn chúng
con, kính sợ Chúa, và xin tha thứ tội lỗi để
chúng con được cứu chuộc. Xin gìn giữ chúng con
khỏi sầu buồn. Cho chúng con no nê trong đồng cỏ
đất Chúa, và quy tụ mọi kẻ ly tán khắp mặt địa
cầu. Xin cho người công chính hân hoan trong
việc tái thiết đô thành của Chúa và thiết dựng
Đền Thờ của Chúa, cũng như trong việc triển nở
tù và Đavít, tôi tớ Chúa, và trong việc chiếu
rọi ánh sáng con trai Jesse, người được Chúa xức
dầu. Cả trước khi chúng con kêu cầu, Chúa đã đáp
lời. Lạy Chúa, xin chúc tụng Chúa , Đấng nghe
lời cầu của chúng con” (39).
Đây là bộ kinh cầu nguyện cho
mọi biến cố của cuộc sống. Những lời cầu nguyện
này được trình bầy trong thiên khảo luận thuộc
Bộ Mishnah gọi là Berachoth, có nghĩa là
các lời chúc tụng. Khi thấy hoa trái, rượu nho
hay rau cỏ hoặc bất cứ sản phẩm nào của trái
đất, người ta đều có thể cầu nguyện: “Chúc tụng
Chúa đã dựng nên hoa trái cây này, hoa trái cây
nho, hoa trái trái đất” (6:1). Khi thấy sao
băng, động đất, sấm chớp và bão tố, người ta sẽ
cầu nguyện: “Chúc tụng Đấng mà quyền lực và sức
mạnh phủ đầy thế giới”. Khi thấy nuí non, đồi
nương, sông ngòi, sa mạc, người ta có thể cầu
nguyện “chúc tụng Đấng dựng nên mọi sự”… Nhiều
người coi đó như hình thức chủ nghĩa hoặc một
thứ niệm thần niệm chú nào đó, nhưng người ta
cũng dễ thấy một người có thói quen cầu nguyện
như thế nhất thiết phải sống trong một thế giới
đầy tràn Thiên Chúa, một thế giới trong đó không
điều gì và không biến cố gì lại không hướng tâm
hồn con người về Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng tạo
dựng và che chở muôn loài.
D. Hình thức chủ nghĩa về độ
dài lâu
Chúa Giêsu đặc biệt cảnh giới
về việc ‘nói nhiều’ (Mátthêu 6:7). Và giáo huấn
của các thầy rabbis cũng chú trọng nhiều
đến khía cạnh này. Rabbi Me’ir cho hay: “Con
người luôn nên ít lời đối với Thiên Chúa” (40).
Rabbi Chijja ben Abba thì bảo: “Kẻ nào kéo dài
lời cầu nguyện của mình, và tính toán căn cứ vào
việc ấy (nghĩa là trông mong vào phần thưởng dựa
theo độ dài của kinh) cuối cùng sẽ phải đau
lòng” (41).
Về khía cạnh này, thực ra các
rabbis chủ trương có lúc phải ngắn gọn,
có khi phải dài dòng. Mô-sen chẳng hạn, khi cầu
cho Miriam, chỉ vỏn vẹn một câu “Lạy Chúa, xin
hãy chữa chị ấy” (Dân Số 12:13). Nhưng chính
Mô-sen cũng từng cho biết “Tôi cầu nguyện với
Chúa suốt bốn mươi ngày đêm” (Đệ Nhị Luật 9:18)
(42). Quả tình, nhiều khi người Do Thái hay dài
dòng kể ra thật nhiều tước hiệu của Chúa lúc cầu
nguyện, như phần thứ hai Kinh Kaddish
chẳng hạn: “Chớ chi danh Đấng Thánh được chúc
tụng, ngợi khen và tôn vinh, được hiển dương,
tán dương, tôn kính, tán tụng và ca khen”. Trong
khi ấy, giáo huấn của các thầy rabbis cho
hay chỉ nên áp dụng cho Chúa ba tĩnh từ sau: cao
cả, toàn năng và đáng tôn kính (43).
Nhưng vẫn có những khuynh
hướng đi ngược lại: “Bất cứ khi nào người công
chính kéo dài lời cầu nguyện của họ, họ cũng đều
được nhận lời” (44). “Ước chi con người ta có
thể cầu nguyện suốt ngày” (45). Tuy nhiên, điều
ấy chỉ đúng đối với lời cầu nguyện của những tâm
hồn đầy yêu thương, liên tục tìm kiếm Chúa hiện
diện.
Lên án hình thức chủ nghĩa
cho lời cầu nguyện của người Do Thái là chuyện
quá dễ. Người ta còn trích dẫn được cả những câu
như: nếu đọc lướt mất một chữ trong lời kinh
soạn sẵn cũng đã có tội rồi (46). Nhưng thực ra,
đối với giáo huấn chính thức, không có gì đáng
phải xa tránh hơn hình thức chủ nghĩa trong cầu
nguyện. Vì người Do Thái nhấn mạnh đến đòi hỏi
đầu tiên cần có lúc cầu nguyện bằng một từ khó
mà phiên dịch nổi. Họ bảo “cầu nguyện cần có
kawannah” (47). Kawannah là tập trung
ý định và lòng sùng mộ; nó là thái độ trong đó
mắt, trí và tâm thẩy đều tập chú vào Thiên Chúa.
Việc đòi phải có thái độ này trong lúc cầu
nguyện được tìm thấy cùng khắp các suy tư và
trước tác sùng kính của Do Thái. “Điều quan
trọng không phải là nhiều hay ít, miễn là lòng
ngươi hướng về trời” (48). “Mọi sự đều tùy thuộc
vào thái độ kawannah trong trái tim
ngươi” (49). Ngay lúc đang bước đi, người ta
cũng phải dừng lại để cầu nguyện và “hướng lòng
mình lên Chúa trong kính sợ, thán phục và run
rẩy” (50). Vì hành động bước đi cũng có thể làm
người ta xao lãng không tập trung được tư tưởng
và ý định của tâm hồn. “Người cầu nguyện phải
điều hướng được trái tim mình”(51). Rab cho hay:
“Ai không tĩnh trí thì không nên cầu nguyện”.
Rabbi Chanina cho hay khi tức tối ông không bao
giờ dám cầu nguyện (52). Người Do Thái có thói
quen cầu nguyện bằng cách đứng dang hai tay ra.
Điều ấy được Rabbi Ammi giải thích: “Lời cầu
nguyện của người ta sẽ không được khấng nhận
ngoại trừ anh ta đặt trái tim mình vào hai bàn
tay” (53). “Người cầu nguyện hãy cúi mắt xuống
dưới, nhưng hãy hướng lòng lên trên” (54). Và
Rabbi Eleazar cho hay: ‘Con người luôn phải thử
nghiệm chính mình: nếu anh ta biết điều hướng
tâm hồn mình, thì hãy để anh ta cầu nguyện; nếu
không, đừng để anh ta cầu nguyện” (55).
Thành thử ra, đối với một
người Do Thái sùng mộ, hình thức chủ nghĩa là
điều đáng tởm. “Không nên đọc một lời cầu nguyện
như thể đọc một tài liệu”; và để tránh điều đó,
mỗi ngày phải đọc một lời cầu nguyện mới (56).
Một khi lời cầu nguyện trở thành một trách vụ cố
định hay một gánh nặng, nó hết còn là lời cầu
nguyện đúng nghĩa nữa (57).
5. Ba
lời cầu nguyện tiêu biểu
Ba lời cầu nguyện lớn người
Do Thái nay vẫn dùng và là ba lời cầu nguyện
người Kitô hữu có thể mô phỏng.
A. Kinh đêm trước khi ngủ: “Xin
chúc tụng Chúa, lạy Chúa là Thiên Chúa
chúng con và là Vua vũ trụ, Đấng đã làm cho bàn
tay ngủ ập xuống đôi mắt con, và giấc ngủ ngon
ập xuống mí mắt con. Lạy Chúa là Thiên Chúa con
và là Thiên Chúa tổ tiên con, nếu đẹp ý Chúa xin
cho con nằm xuống trong an bình và cho con thức
dậy cũng trong bình an. Xin đừng để tư tưởng con
làm con bối rối, cả các giấc mơ xấu lẫn những
tưởng tượng quái dị, nhưng xin cho giấc ngủ con
được hoàn hảo trước mặt Chúa. Xin hãy làm mắt
con luôn linh sáng kẻo con lâm vào giấc ngủ chết
chóc vì chính Chúa đã ban ánh sáng cho con ngươi
mắt con. Lạy Chúa, xin chúc tụng Chúa, Đấng đã
ban ánh sáng cho toàn thể thế giới trong vinh
quang của Người” (58).
B. Kinh sáng:
“Lạy Chúa, đấng đã kích thích
người chết, xin chúc tụng Chúa. Lạy Chúa là
Thiên Chúa con, nếu đẹp ý Chúa, xin ban cho con
trái tim tốt, bản tính tốt, hy vọng tốt, con mắt
tốt, linh hồn tốt, linh hồn khiêm nhu và một
tinh thần khiêm hạ; xin cho danh Chúa đừng bị
chúng con tục hóa và biến chúng con thành trò
cười cho miệng lưỡi người đời; xin cho mục đích
của chúng con không bị cắt bỏ, hy vọng chúng con
không bị phiền nhiễu, và chúng con không cần đến
ơn phúc xác thịt máu huyết và đặt trọn sự sống
còn của chúng con trong tay họ, vì ơn phúc của
họ thật nhỏ nhoi mà nhục nhã họ đem lại thật to
lớn; xin hãy đặt gia nghiệp chúng con trong Lề
Luật Chúa, với những ai thực thi ý Chúa; xin hãy
mau dựng xây nhà Chúa, đền thánh Chúa, đô thị
Chúa, đền thờ Chúa ngay trong thời đại chúng
con’ (59).
C. Kinh chiều:
“Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng
con, nếu đẹp ý Chúa, xin ban cho chúng con cuộc
sống lâu dài, cuộc sống bình an, cuộc sống tốt
lành, cuộc sống ơn phúc, cuộc sống đầy đủ, cuộc
sống khỏe mạnh phần xác, cuộc sống biết sợ tội,
cuộc sống không điếm nhục đáng trách, cuộc sống
phồn thịnh và danh dự,và cuộc sống trong đó
chúng con biết bám vào tình yêu Luật Chúa và
kính sợ thiên đàng, cuộc sống được Chúa đổ đầy ý
muốn làm lành trong tâm hồn chúng con” (60).
Nói tóm lại, khi các môn đệ
tới xin Chúa dạy họ cầu nguyện, họ đã đến với
Người bằng một gia tài cầu nguyện vô giá, một
gia tài mà nhờ Người càng trở nên vĩ đại và có
giá trị hơn nữa.
Chú
Thích
(1) Tanh. Beshallah 9. f.
iiia.
(2) I. Abrahams trích dẫn:
Studies in Pharisaism and the Gospels, Bộ
thứ hai, 82.
(3) Midrash bàn về
Thánh Vịnh 65.
(4) Midrash bàn về
Thánh Vịnh 4: T.B. Yoma 76a.
(5) Isaiah I. 11, 13: Tanh.
Wayera I, f 31b.
(6) Hosea 14:2: Tanh. B. Zaw,
viii, 9a.
(7) Huấn Ca 33:31: Exod. R.
ch.xxiii.
(8) M. Friedlander, The
Jewish Religion 280-284.
(9) M.Friedlander, The
Jewish Religion 183.
(10) T. B. Yebamoth 64a.
(11) San. 22a.
(12) T. B. Ber. 5a.
(13) R. Deut. Ii.
(14) T. B. Ber. 32b.
(15) R. Exod. Xxviii. 4.
(16) Yeb. 64a.
(17) T. B. Ber. 7a.
(18) Ber. 7a.
(19) I. Abrahams, Studies
in Pharisaism and the Gospels, Bộ Thứ Hai,
90.
(20) Aboth 2:5.
(21) Ta’an. IIa.
(22) Sifre Num. Pinehas 138f.
52a.
(23) T. Jer. Joma 5:2.
(24) Sifre Deut. 29; Ber.
10a.
(25) Jer. Ta’an. 65b;
Jer.Sanh. 28c.
(26) Ber. 60b.
(27) Ber. 32b; 55a; Baba
Bathra 164b; Rosh Hashanah 18a.
(28) Aboth. 2:13.
(29) Baba Quama 92a.
(30) Ber.12b
(31) Tan. B., Mikkez 98a-98b.
(32)Ber. 6a.
(33)Ber 6b.
(34) Jer. Ber. 8b.
(35) Jer. Ber. 8d.
(36) Midrash Thánh vịnh iv.
9. 23b. Pesickta 158b.
(37) M. Ber. 4:4.
(38) Ber. 30a.
(39) Ber. 29a.
(40) Ber. 61a.
(41) Ber. 32b.
(42) Mechilta 29a.
(43) Ber. 33b.
(44) Yoma 29b.
(45) Ber. 21a.
(46) Ber. 5:5.
(47) Jer. Ber. 7a.
(48) Ber. 17a.
(49) Meg. 20a.
(50) Tanh. Lek leak 24a.
(51) Ber. 3:6.
(52) Erub. 65a.
(53) Ta’an 8a.
(54) Yeb. 105b.
(55) Ber. 30b.
(56) J. Ber. 38a.
(57) Ber. 29b.
(58) Ber. 60b
Vũ Văn An
(Theo William Barclay,
The Plain Man Looks At The Lord’s Prayer,
Fonatana Books 1964)
(Xem tiếp: 2. Lạy Cha Chúng
Con; 3. Danh Cha Cả Sáng; 4. Nước Cha Trị Đến;
5. Ý Cha Thể Hiện; 6. Lương Thực Hàng Ngày; 7.
Tha Nợ; 8. Cám Dỗ).