2. Lạy Cha Chúng Con
Như
đã thấy, kinh Lạy Cha xem ra như một bộc phát từ
tâm hồn vị rabbi quê ở Nadarét sau lời
yêu cầu tại chỗ của môn đệ. Một bộc phát kỳ diệu
vì nó đưa lại cho ta một khuôn mẫu hết sức hoàn
hảo cho bất cứ lời cầu nguyện nào.
1.
Khuôn Mẫu Tổng Quát
Ta thấy lời kinh ấy bắt đầu
bằng cách dành cho Thiên Chúa vị trí riêng rẽ,
thích đáng của Người. Thực vậy, ba lời xin đầu
là xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến,
và ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Chỉ sau đó, lời kinh mới quay qua các nhu cầu và
thỉnh cầu của ta. Sai lầm lớn nhất của cầu
nguyện là lấy mình làm trung tâm, là đi tìm
chính mình. Ta thường quá bận tâm tới điều mình
muốn đến nỗi không còn thì giờ nghĩ tới điều
Chúa muốn. Ta quá quan tâm tới các ước muốn của
mình đến quên khuấy không nghĩ gì tới ý muốn của
Thiên Chúa. Ta hay bận bịu nói với Chúa mà quên
khuấy không dành cho Chúa cơ hội nói với ta. Đôi
khi ta quá bận bịu chuyện vãn với Người đến nỗi
quên khuấy không chịu ngưng lại để lắng nghe xem
Người nói gì.
Kinh Lạy Cha giúp ta tránh
tình trạng không hay ấy. Nó bắt đầu bằng cách
đặt Thiên Chúa, chứ không phải chúng ta, ở giữa
bức tranh. Chu vi chỉ đúng khi trung tâm đúng.
Mọi điều khác chỉ có vị trí đúng khi Thiên Chúa
được dành vị trí đúng. Kinh Lạy Cha bắt đầu với
việc nhớ đến uy linh Thiên Chúa, mục tiêu Thiên
Chúa và chấp nhận ý muốn của Người.
Phần thứ hai của Kinh là phần
đầy đủ nhất con người chưa bao giờ được dạy để
cầu nguyện. Nó cũng gồm ba lời xin:
Xin Cha cho chúng con hôm nay
lương thực hàng ngày;
và tha nợ chúng con, như
chúng con cũng ta kẻ có nợ chúng con;
xin chớ để chúng con sa chước
cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Lời đầu xin cho nhu cầu
hiện tại. Lời hai xin vì tội
lỗi quá khứ. Lời ba xin cho
phúc lợi và phúc lành tương lai.
Ba lời cầu xin vắn vỏi ấy đem cuộc sống quá khứ,
hiện tại và tương lai đặt trước Thiên Chúa.
Lương thực cho hiện tại, tha thứ cho quá khứ, và
giúp đỡ cho tương lai - trọn cuộc đời
trải ra trước nhan thánh Chúa.
Nhưng không phải chỉ có thế.
Khi ta cầu xin lương thực hàng ngày, là ta nghĩ
đến Thiên Chúa Ngôi Cha, Đấng dựng
nên và duy trì mọi sự sống. Khi ta xin tha thứ,
là ta nghĩ đến Thiên Chúa Ngôi Con,
Đấng cứu rỗi và cứu chuộc toàn thể nhân loại và
tất cả chúng ta. Khi ta xin trợ giúp tương lai
để sống không tội lỗi, là ta nghĩ đến
Thiên Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn,
Đấng trợ giúp và Đấng che chở mọi sự sống. Ba
lời xin vắn vỏi ấy đem ta diện đối diện với Chúa
Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Bên trong cái
la bàn nhỏ hẹp, và với tính kinh tế ít lời đến
ngạc nhiên của chúng, ba lời cầu vắn vỏi này đã
đem toàn bộ cuộc đời tới trước toàn bộ Thiên
Chúa.
2.
Quyền Phụ Tử và Tình Phụ Tử
Chữ quan trọng đầu tiên trong
Kinh dĩ nhiên là chữ Cha. Muốn định nghĩa chữ
này, từ điển mà thôi không đủ, mà còn cần đến
giải thích của kinh nghiệm nữa. Quả tình, chữ
Cha có đến hai nghĩa rất khác biệt nhau. Nó có
thể hiểu nghĩa theo cụm từ quyền cha,
quyền phụ tử (paternity). Theo nghĩa
này, nó chỉ một người có trách nhiệm trong việc
cho ra đời một đứa trẻ. Trong trường hợp này,
giữa cha và con không có liên hệ nhất thiết nào
khác ngoài liên hệ thể lý. Một người đàn ông nào
đó có thể là cha một em bé theo nghĩa
quyền cha, quyền phụ tử mà không hề
trông nom gì tới đứa trẻ do chính ông góp phần
cho ra đời. Nhưng chữ Cha cũng có thể hiểu nghĩa
theo cụm từ tình cha, tình phụ tử
(fatherhood). Theo nghĩa này, nó chỉ mối liên hệ
yêu thương, thân mật, tin tưởng, tin cậy giữa
cha và con.
Kitô hữu tin rằng Thiên Chúa
là Cha theo nghĩa quyền cha vì quả tình Người là
nguồn mọi sự sống, đã ban sự sống cho mọi người.
Nhưng điều độc đáo trong ý tưởng Kitô giáo về
Thiên Chúa là họ tin rằng Thiên Chúa là Cha theo
nghĩa tình cha. Quả thế, nhờ Chúa Giêsu Kitô,
giữa Thiên Chúa và nhân loại có cả một liên hệ
thân mật, suốt đời, đầy yêu thương qua đó Thiên
Chúa và con người tiến lại gần nhau hơn.
Sự phân biệt trên cũng tìm
thấy nơi các thầy rabbis Do Thái. Họ
thường kể câu truyện sau đây về một cô gái được
một người giám hộ tốt bụng và trung tín nuôi
nấng. Rồi cũng đến ngày cô đi lấy chồng. Vị ký
lục lo phần vụ luật pháp của hôn lễ hỏi cô: “Tên
cô là chi?”. Cô cho biết tên. Rồi ông hỏi thêm:
“Cha cô tên chi?”. Cô gái không trả lời. Người
giám hộ nhắc: “Sao con im lặng?”. Lúc ấy cô gái
mới lên tiếng; “Vì con không biết ai là cha
ngoài cha ra, vì người nuôi là cha, chứ không
phải người sinh”. Các thầy rabbis kết
luận, người cha thật của Israel không phải là ai
khác mà là chính Thiên Chúa, Đấng đã dưỡng nuôi
dân tộc này.
Khi ta thưa với Chúa: Lạy
Cha, thì tâm trí ta không nghĩ đến quyền cha cho
bằng đến mối liên hệ tình cha gần gũi hơn nhiều.
Khi Chúa Giêsu dạy các môn đệ kinh Lạy Cha, là
Người dạy họ từ một gia tài thật phong phú, vì
tình cha nơi Thiên Chúa vốn là một quan niệm hết
sức thân thương đối với người Do Thái. Trên môi
miệng họ, thường có những lời sau đây: “Các
ngươi là con cái Chúa Thiên Chúa các ngươi” (Đệ
Nhị Luật 14:1). “Ta là cha của Israel” (Giêrêmia
31:9). “Há Người (Chúa) không phải là cha ngươi,
Đấng đã dựng nên ngươi và duy trì ngươi?” (Đệ
Nhị Luật 32:6). "Thế nhưng lạy Chúa, Chúa là cha
chúng con; chúng con là đất sét, Chúa là thợ
gốm; chính tay Chúa đã làm nên tất cả chúng con”
(Isaia 64:7). Lòng sùng kính của người Do Thái
sống được là nhờ những lời như thế. Niềm xác tín
của họ vào tình cha nơi Thiên Chúa khiến họ thật
vững lòng về những điều sau đây.
A.
Gần Gũi với Thiên Chúa : Vì Thiên Chúa là
Cha, nên các hiền nhân Do Thái tin chắc rằng
Thiên Chúa rất gần gũi để lắng nghe và đáp lại
lời cầu cũng như hiện diện với dân. Nơi người Do
Thái, có một lối giải thích lời Thiên Chúa dạy
bảo Mô-sen cách thức làm Nhà Tạm trong sách Xuất
Hành 26:18-25. Shechinah là vinh quang
Thiên Chúa, đôi lúc ngự xuống Nhà Tạm và tại Đền
Thờ trong một đám mây tỏa sáng. Khi Thiên Chúa
nói với Mô-sen: “Hãy làm cho Ta một nơi cư ngụ”,
ông tỏ ra bỡ ngỡ vì biết rõ vinh quang Thiên
Chúa vốn tràn đầy thượng và hạ giới, chứ không
thể hiểu được chuyện vinh quang ấy lại ở tại một
nơi do chính tay ông xây dựng. Nhưng Thiên Chúa
cho ông hay: “Ý nghĩ của ngươi không phải là ý
nghĩ của Ta. Hai mươi tấm ván về phía bắc, và
hai mươi tấm về phía nam và tám tấm về phía tây
là đủ cho Ta (Xuất Hành 26:18, 20, 25). Và không
phải chỉ có thế, nhưng Ta sẽ xuống và thu gọn
Shechinah của ta vào một thước vuông Anh…Các
ngươi là con cái Chúa, Thiên Chúa các ngươi, và
Ta là Cha các ngươi (Đệ Nhị Luật 14:1; Giêrêmia
31:9). Quả là vinh dự cho con cái được gần gũi
cha mình, và cho người cha được ở gần con cái;
bởi vậy, hãy làm nhà cho Cha để Người cư ngụ gần
con cái Người” (Exod. R. Terumah xxxiv, I, 3).
Thiên Chúa có thể thu gọn vinh quang Người vào
một thước vuông Anh. Vì Thiên Chúa là Cha và
chúng ta là con cái Người, nên dù trong căn nhà
tầm thường nhất, dù trong một Giáo Đường nhỏ
nhoi và trần trụi nhất, dù là nơi một con người
vô nghĩa nhất, vinh quang Thiên Chúa cũng ở đó.
Bất cứ nơi nào có thể, vị Cha này đều ở với con
cái mình.
Các thầy rabbis còn
một lối nói khác nữa. Rabbi Simon Judah ben
Simon cho hay: “Ngẫu tượng thật gần mà hóa xa;
Thiên Chúa thật xa mà hóa gần”. Người ta yêu cầu
ông giải thích. Ông bảo: “Người thờ ngẫu thần
làm một ngẫu thần và đặt nó trong nhà. Như thế,
ngẫu thần thật gần. Nhưng anh ta có gào vào tai
ngẫu thần, ngẫu thần cũng chả bao giờ trả lời,
bởi đó, ngẫu thần thật xa. Còn Thiên Chúa thì xa
mà hóa gần”. Họ vặn lại ông: “Sao thế được?”.
Ông giải thích: “Từ đây lên trời là một hành
trình năm trăm năm; nên Thiên Chúa quả là xa
xôi; nhưng Người cũng rất gần gũi, vì nếu một ai
đó cầu nguyện và suy niệm trong lòng, Thiên Chúa
sẽ rất gần để đáp ứng lời cầu xin của người này”
(Deuteronomy R. Wa’ethanan 11:10). Dù cho nơi cư
ngụ của Thiên Chúa có ở trên trời, dù cho trời
và đất không chứa vinh quang Thiên Chúa, thì vì
Thiên Chúa là Cha, Người vẫn ở tại nơi cư ngụ
tầm thường nhất để ở gần cõi lòng đơn sơ nhất.
B. Thiên Chúa nhân từ:
Niềm tin vào tình phụ tử
của Thiên Chúa khiến người Do Thái vững tin rằng
người nhân từ trong phán xét và hằng sẵn sàng
chấp nhận cõi lòng thống hối. Người ta vẫn nói
cách đẹp đẽ như sau: “Thiên Chúa nói với Israel:
Đối với mọi điều kỳ diệu và cao cả Ta từng làm
cho các ngươi, phần thưởng duy nhất Ta yêu cầu
là các ngươi hãy kính trọng Ta như con cái Ta,
và gọi Ta là Cha các ngươi” (Exod. R. Mishpatim,
xxxii.5). Yếu tính mối liên hệ của Thiên Chúa
với con người là tình phụ tử, nên ước muốn thân
thiết nhất của Thiên Chúa là mọi con cái Người
hãy tự ý bước vào mối liên hệ ấy.
Các hiền nhân Do Thái nghĩ về
Thiên Chúa như phán quan, nhưng là một phán quan
kiêm người cha nữa. Có một đoản văn Do Thái kể
về hai con người đến tòa phán xét, khiếp đảm vì
phán quan và được người ta khích lệ. “Thế là
Israel bị phán xét trước tòa Thiên Chúa, và
khiếp run vì Quan Tòa. Nên các thiên thần phục
vụ nói với họ: Đừng sợ! Các ngươi không nhận ra
Người sao? Người là đồng bào các ngươi, như có
lời chép: ‘Đó chính là Đấng sẽ xây dựng thành
phố tôi’ (Isaia 45:13). Rồi các thiên thần còn
nói: Đừng sợ Quan Tòa! Các ngươi không nhận ra
Người sao? Người vốn là bà con các ngươi, như có
lời chép: ‘Con cái Israel, dân tộc có họ hàng
với Người’ (Thánh vịnh 148:14). Rồi các vị nói
tiếp: Các ngươi không nhận ra Người sao? Người
chính là anh em các ngươi, như có lời chép; ‘Vì
anh em và bạn hữu Ta’ (Thánh vịnh 122:8). Và còn
hơn thế nữa, Người là Cha các ngươi, như có lời
chép: ‘Há Người không phải là Cha các ngươi
sao?’ (Đệ Nhị Luật 32:6). Đó quả là ý niệm hết
sức đẹp về vị phán quan mà đồng thời cũng là
đồng bào, người họ hàng, người anh em và trên
hết là cha mình.
Niềm xác tín Thiên Chúa là
Cha theo nghĩa tình phụ tử khiến các hiền nhân
Do Thái tin chắc rằng sự tha thứ luôn luôn rộng
mở đối với các tâm hồn thống hối. Giống như cha
mẹ luôn tha thứ cho đứa con biết đến tạ lỗi “Con
biết lỗi rồi”, Thiên Chúa cũng thế. “Thiên Chúa
phán: Ta lấy trời và đất mà làm chứng rằng ta
ngồi và mong đợi Israel còn hơn người cha ngồi
chờ đứa con trai hay người mẹ ngồi chờ đứa con
gái, nếu chúng biết ăn năn, để lời ta được nên
trọn” (Tan.d.b. El.p. 163). Hơn một lần, các
hiền nhân Do Thái vẽ ra hình ảnh một vị tiên tri
mời gọi dân trở về với Thiên Chúa trong ăn năn,
nhưng dân, vì nhận biết mình tội lỗi mình nên
không dám tiếp nhận lời mời. Thành thử Thiên
Chúa phải nói với họ: “Nếu các ngươi trở về với
Ta, há các ngươi đã không trở về với Cha các
ngươi ở trên trời sao? Như có lời chép: ‘Vì Ta
là một người Cha đối với Israel’ (Giêrêmia 31:9;
Pes. K. 165a).
Cũng còn một đoản văn khác
của các thầy rabbis nói về một hoàng tử
bỏ trốn. Vua cha sai thầy huấn đạo đi mời cậu
về. Người con hỏi: “Con còn mặt mũi nào về với
cha? Con rất xấu hổ trước mặt cha”. Vua cha trả
lời: “Con nào lại xấu hổ quay về với cha mình
bao giờ?” Giữa Thiên Chúa và Israel cũng thế (Đệ
Nhị Luật R., Wa’ethanan 11:24). Niềm tin vào
Thiên Chúa trong các đoạn văn như thế quả thật
gần gũi với quan niệm về Thiên Chúa trong dụ
ngôn Người Con Trai Hoang Đàng. Đó là hình ảnh
Người Cha mà ước muốn duy nhất là con cái đi
hoang trở lại mái ấm gia đình.
C. Không Lụy Tình Cảm:
Dù có những ý niệm hết
sức đẹp đẽ về tình phụ tử của Thiên Chúa, người
Do Thái không bao giờ tình cảm hóa mối liên hệ
ấy, vì họ hiểu rất rõ tình phụ tử này luôn đòi
họ phải yêu thương vâng lời Thiên Chúa. Họ hoàn
toàn quyết đoán rằng không bao giờ được dùng ý
niệm Thiên Chúa như người Cha yêu thương để bào
chữa cho việc phạm tội của mình; đúng hơn phải
dùng nó như lời kêu gọi vâng lời thánh thiện.
Khi các tiên tri cầu xin Thiên Chúa đoái thương
con cái Người, Thiên Chúa đáp: “Chỉ khi nào thực
hiện ý Ta, chúng mới là con cái Ta; khi không
thực thi ý Ta, chúng không phải là con cái Ta”
(Exod. R. Ki Tissa Xlvi, 4). Một đoản văn của
các thầy rabbis nói rằng: “Hãy lắng nghe
Cha các ngươi ở trên trời. Người cư xử với các
ngươi như con một, nếu các ngươi vâng lời Người,
nếu không, Người sẽ cư xử với các ngươi như nô
lệ. Khi ngươi thực thi ý Người, Người là Cha
ngươi, và ngươi là con Người, nếu không, trái
với ý ngươi và trái với sự thỏa thuận của ngươi,
Người sẽ là chủ nhân ông của ngươi và ngươi sẽ
là nô lệ của Người” (Pes. R. 132b). Ý niệm trên
cho thấy trong bất cứ trường hợp nào ý Thiên
Chúa cũng không thể bị làm ngược. Ai tự ý và
vâng lời tiếp nhận ý ấy, sẽ là con cái Thiên
Chúa; ai vật lộn nhưng sau cùng cũng tiếp nhận ý
ấy, sẽ không phải là con cái yêu qúy mà chỉ là
những tên nô lệ bị cưỡng bức, không phải là chí
nguyện quân, mà chỉ là anh quân dịch. Các hiền
nhân Do Thái từng phú dụ biến cố trong sách Xuất
Hành 17:11 nói về trận đánh với quân A-ma-léc,
trong đó mỗi lần Mô-sen dơ tay lên hì Israel
thắng, mỗi lần Mô-sen buông tay xuống, Israel
đều thua. “Có phải tay Mô-sen giúp hay gây trở
ngại cho trận đánh? Đúng hơn điều ấy dạy cho các
ngươi biết khi nào dân Israel biết hướng lòng
lên cao, và duy trì tâm hồn mình tùng phục Cha
họ trên trời, thì họ thắng; ngược lại, họ sẽ
thua” (Rosh ha-Shanah 3:8).
Cũng thế, không phải việc
nhìn lên con rắn lửa chữa được rắn cắn; mà là
việc hướng mắt và tâm tư lên Chúa như Cha trên
trời. Một vị giảng thuyết Do Thái hỏi: Làm sao
chiếm hữu được Thiên Chúa? Và tự trả lời: sở hữu
Thiên Chúa bằng việc làm tốt và học hỏi lề luật”
(Tan.d.b. El. P. 128). Nhiệm vụ thầy dậy con cái
là dạy chúng ‘thực hiện ý muốn của Cha chúng ở
trên trời’. Rabbi Judah, con trai Tema, đưa ra
lệng truyền đẹp đẽ này: “Hãy mạnh như báo, nhẹ
như chim ưng, nhanh như nai, và mạnh như sư tử
để làm theo ý Cha ngươi trên trời” (Aboth v.
23).
Tóm lại, người Do Thái luôn
nối kết ý niệm tình phụ tử yêu thương và nhân
hậu không phải với bất cứ giấy phép phạm tội nào
mà là với nhiệm vụ tuyệt đối phải đáp trả bằng
vâng lời yêu thương.
D. Tình Huynh Đệ Con Người:
Ý niệm tình phụ tử
của Thiên Chúa đặt để lên người Do Thái nghĩa vụ
phải tuân giữ tình huynh đệ con người. Rabbi
Jose cho hay: “Tại sao Thiên Chúa yêu thương cô
nhi quả phụ? Vì họ hướng mắt lên Người, như có
lời chép: ‘(Người là) cha kẻ không cha, đấng
bênh đỡ quả phụ’ (Thánh vịnh 64:5). Chính vì
thế, ai bóc lột họ là bóc lột Thiên Chúa, Cha họ
trên trời” (Exod. R. Mishpatim 30:8). Nếu Thiên
Chúa là Cha, thì Người sẽ không bao giờ xử nhẹ
kẻ gây thương tích hay từ khước không giúp đỡ
một trong các con cái Người.
3.
Trước Thời Chúa Giêsu
Như thế, trước khi có đức
tin Kitô giáo và ngay trước khi Chúa Giêsu dạy
các môn đệ cầu nguyện ‘Kinh Lạy Cha’, ta thấy đã
có cả một gia tài phong phú của Do Thái liên hệ
tới quan niệm tình phụ tử nơi Thiên Chúa. Tuy
nhiên, như ta sẽ thấy, gia tài ấy không hẳn nhất
quán. Trước khi đi vào chính tâm tư của Chúa
Giêsu, thiển nghĩ nên lược qua một số quan niệm
về Thiên Chúa trước thời Chúa Giêsu.
A. Phái Khắc Kỷ và Phái Khoái
Lạc: Đối với người
Khắc Kỷ, phẩm tính chính yếu nơi Thiên Chúa là
apatheia. Trong Hy Ngữ, apatheia
không hẳn là dửng dưng vô cảm mà là chỉ người,
trong yếu tính, thiếu hẳn khả năng cảm nghiệm
bất cứ xúc cảm nào. Luận chứng của người Hy Lạp
khá đơn giản và thuận lý. Vì người biết cảm nhận
buồn vui, yêu ghét, có nghĩa là có một ai đó có
thể tác động trên anh ta. Một người nào đó, với
tác phong của mình, có thể khiến anh ta vui hay
buồn, nghĩa là có thể tác động và đem lại thay
đổi cho tâm tư và tình cảm của anh ta. Mà có khả
năng tác động lên một con người khác là ít nhất
trong lúc đó, cũng đã có một quyền lực nào đó
trên người ấy rồi. Nhưng rõ ràng, theo người Hy
Lạp, không ai có thể có bất cứ quyền lực nào đối
với Thiên Chúa. Cho nên để bảo đảm điều ấy, chỉ
có cách là giả thiết làm nguyên lý đầu hết rằng
Thiên Chúa, chỉ vì Người là Thiên Chúa, nên hoàn
toàn không thể có bất cứ xúc cảm nào. Ngài là
Đấng không thể có cảm nhận, apathes,
không đam mê, không cảm xúc, yếu tính là dửng
dưng.
Người Khoái Lạc cho rằng phẩm
tính tối thượng trong đời là ataraxia,
nghĩa là hoàn toàn bình thản, hoàn toàn thanh
thản. Họ cho rằng nếu Thiên Chúa can dự vào việc
thế gian, thì sự thanh thản của Người sẽ mất đi
vĩnh viễn. Bởi thế, theo họ, yếu tính Thiên Chúa
là phải tách mình hoàn toàn và trọn vẹn ra khỏi
trần gian. Thần minh có thể thấy thế gian, nhưng
các ngài tách mình tuyệt đối ra khỏi thế gian
ấy. Chính cái tính thanh thản tuyệt đối tách
mình ra khỏi trần gian ấy biến các vị thành thần
minh.
B. Ba hình ảnh Cựu Ước:
Đưa ba hình ảnh
này ra, chúng tôi không có ý coi thường Cựu Ước,
mà chỉ muốn nói: các tư tưởng gia Cựu Ước đã
không biết Thiên Chúa như Chúa Giêsu. Dù sao,
nếu các tư tưởng gia ấy hoàn toàn biết Thiên
Chúa, thì đâu cần Chúa Giêsu phải xuống thế
gian. Chính vì con người không biết, và tự họ
không thể biết Thiên Chúa là Đấng nào, nên Thiên
Chúa mới đến trần gian trong con người Chúa
Giêsu Kitô.
Hình ảnh thứ nhất lấy trong
sách Gióp, các chương 38 và 39. Hai chương này
rất hay không hẳn chỉ vì thơ văn đầy cảm kích
của riêng Cựu Ước mà là thơ văn đầy cảm kích của
cả thế giới. Chúa trả lời ông Gióp đang đau đớn
thống khổ từ giữa cơn lốc: “Ngươi ở đâu khi ta
đặt nền móng cho thế giới? Ngươi có điều khiển
được ban mai khi ngày của ngươi bắt đầu? Ngươi
có bao giờ vào được nguồn biển cả? Có thấu hiểu
cái rộng dài của trái đất? Vào được tận kho chứa
tuyết? Có khả năng xích được Sao Mão hay mở được
dây trói cho Lạp Hộ? Ngươi có ban cho ngựa sức
mạnh của nó? Có làm cổ nó cứng cáp?” (Gióp 38:
4, 12, 16, 18, 22, 31; 39:19). Hai chương này
là những lời ‘oanh kích’ đáng sợ nhất của Thiên
Chúa đối với ông Gióp. Nó đầy ảm đạm và kinh
hoàng, vì thực sự Thiên Chúa muốn hạch xách ông:
‘Ngươi lấy quyền gì mà nói với Ta, hay tra vấn
Ta?’. Khó có thể tưởng tượng nổi Chúa Giêsu nói
với bất cứ ai đang bị hành khổ trong thân xác và
tan nát trong tâm hồn như thế?
Hình ảnh thứ hai là dụ ngôn
thợ gốm của Giêrêmia (18:1-11). Giêrêmia tưởng
tượng người thợ gốm đang chế tạo những chiếc
bình. Chiếc nào méo mó, ông ta chỉ cần loại nó
đi và bắt đầu làm cái khác. Giêrêmia đặt vào
miệng Chúa những lời sau đây: ‘Này, giống như
đất sét trong tay thợ gốm, các ngươi cũng thế,
hỡi nhà Israel. Há Ta lại không thể làm như thợ
gốm với các ngươi sao? ‘ (Griêrêmia 18:6). Đây
là hình ảnh một Thiên Chúa làm cho con người có
linh hồn điều thợ gốm làm cho đất sét vô linh
hồn. Trong cái nhìn này, dưới con mắt Thiên
Chúa, con người không có quyền gì hơn miếng đất
sét méo mó dưới mắt thợ gốm. Ta chắc chắn không
thể tưởng tượng được Chúa Giêsu nói về con người
như thể họ chỉ là đồ vật.
Hình ảnh thứ ba lấy của thánh
vịnh gia. Trong Thánh Vịnh 24, soạn giả đặt để
các điều kiện tới gần Thiên Chúa:
Ai được lên
núi Chúa?
Ai được ở trong
đền thánh của Người?
Đó là kẻ tay sạch
lòng thanh,
Chẳng mê theo
ngẫu tượng, không thề gian thề dối.
Người ấy sẽ được
Chúa ban phúc lành,
Được Thiên Chúa
cứu độ thưởng công xứng đáng.
(Thánh Vịnh 24:3-5).
Những điều kiện ấy ít kẻ phàm
nhân nào đạt được, thành thử, xem ra Thiên Chúa
muốn đóng xầm cửa lại đối với mọi phàm nhân.
Chúa Giêsu thì không thế. Chính Người đã cho
hay: ‘Ta đến không phải để kêu gọi kẻ công
chính, mà là người tội lỗi.’ (Mátthêu 9:13).
4. Ý
Nghĩa Và Nội Dung Mới
Thiên Chúa trong tâm tư Chúa
Giêsu thể hiện rõ rệt nhất qua ý niệm Cha được
Người đưa vào Kinh Lạy Cha. Trong vườn
Diệtsimani, Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha:
‘Abba, lạy Cha’ (Máccô 14:36). Và thánh Phaolô
hai lần viết cho các tín hữu để nhấn mạnh rằng
nhờ Chúa Thánh Thần, ta cũng có thể cầu nguyện
cách đó, nghĩa là dùng cùng một lối xưng hô
Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã làm (Thư Rôma 8:15;
Thư Galát 4:6).
Chữ abba còn hay hơn
chữ cha nữa. Đó là chữ các em bé tại
Palestine gọi cha mình trong vòng thân mật gia
đình, tương đương với chữ Việt bố, ba sau
này. Dĩ nhiên dịch Tân Ước kiểu đó nghe có vẻ kỳ
cục và bất xứng. Nhưng quả nó đem lại cho ta một
bầu khí thích hợp để ta tiến gần lại Thiên Chúa
trong đơn sơ tin cậy và phó thác như một con trẻ
đến với người cha nó biết rất rõ, nó rất yêu
thương và tin cậy. Và Jeremias cho hay trong
trọn bộ nền văn chương Do Thái, không chỗ nào đã
áp dụng chữ này vào Thiên Chúa cả.
Chữ ấy thật trái ngược xiết
bao với chữ apatheia của Phái Khắc Kỷ,
chữ tách mình của Phái Khoái Lạc và các hình ảnh
một Thiên Chúa khó lòng với tới của Cựu Ước. Khi
ta dùng chữ này, hai điều sau đây đã được giải
quyết tức khắc:
i. Mối liên hệ với Thiên Chúa
: chữ này từ nay là tinh thần, là niềm tin tưởng
và thân mật trong các tiếp xúc của ta với Thiên
Chúa.
Nhưng nếu đi thẳng vào chính
cách dùng của Chúa Giêsu, ta còn thấy nhiều ý
nghiã hơn nữa về nó.
a. Trước hết và đầu hết, nó
cho ta thấy Thiên Chúa chăm sóc chúng ta.
Thay vì xa cách, tách mình, tránh né mọi xúc
cảm, Thiên Chúa chăm sóc con người một cách say
mê và yêu thương đến độ cuối cùng, nơi Chúa
Giêsu Kitô, Người đã bằng lòng chết trên thánh
giá. Chữ abba mang theo đủ chất say mê ấy
nơi tình yêu Thiên Chúa.
b. Hơn nữa, ta còn được biết
tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu không
so đo. Chúa Giêsu từng nhấn mạnh đến khía
cạnh này trong tình yêu của Thiên Chúa. Người
nói rằng Thiên Chúa cho mặt trời mọc trên cả kẻ
dữ lẫn người lành, cho mưa xuống trên người bất
chính lẫn người công chính (Mátthêu 5:45). Tình
yêu này không chỉ dành cho đứa con ngoan, chưa
bao giờ bất tuân cha, mà còn dành cho cả đứa con
chỉ biết đến mình đến nỗi đã xé nát cả trái tim
cha, nhưng sau đó đã lủi thủi trở lại vì không
còn chỗ nào để đi (Luca 15:11-32). Quả tình,
không cần phải có những bàn tay sạch và cõi lòng
thanh mới vào được tình yêu ấy. Thiên Chúa Cha
yêu thương ta bằng một tình yêu không bỏ rơi ta.
c. Ấy thế nhưng, tình yêu
của Thiên Chúa vẫn có phần thưởng riêng của nó.
Trong cách thế riêng, không ai thấy và không
ai biết, Người vẫn tưởng thưởng đứa con thực
hành ý Cha (Mátthêu 6:4, 6, 18). Thiên Chúa có
hai loại con: kẻ xét nát lòng Người và kẻ làm
vui lòng Người, và có những điều qúy giá để
tưởng thưởng loại con thứ nhất. Đứa con bất tuân
không bị cho ra rìa, nhưng người con tuân phục
được những điều mà đứa con bất tuân không bao
giờ biết đến, ít nhất cũng tới lúc hắn chịu quay
đầu trở lại và tùng phục tình yêu Người Cha.
d. Tình phụ tử của Thiên Chúa
là một thứ tình thực tiễn. Tình yêu ấy
biết rõ ta cần thực phẩm và áo quần cũng như các
điều cần thiết khác. Cha chúng ta biết chúng ta
cần những thứ ấy (Mátthêu 6:8, 32; Luca 12:30).
Khi ta đến cầu nguyện với Thiên Chúa, lời cầu
nguyện của ta không nhất thiết phải hoàn toàn
‘thiêng liêng’ hay ‘tôn giáo’. Ta có thể thưa
với Người những điều thực tiễn, các lo lắng của
ta, các nhu cầu hàng ngày. Không điều gì ta lại
không đem tới Chúa khi cầu nguyện.
e. Tình yêu này vĩ đại đến
nỗi nó bao trùm mọi tạo vật của Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu thương mọi thú vật, chim chóc
và hoa cỏ, mọi sinh vật do tay Người dựng nên.
Và điều lạ lùng là tình yêu phụ tử của Thiên
Chúa này không tổng quát đại khái như thế gian
mà hết sức chi tiết. Câu nói sau đây của
Chúa Giêsu đã được hai phúc âm Mátthêu và Luca
tường thuật khác nhau. Trong Mátthêu 10:29, câu
ấy như sau:
Há hai con chim sẻ giá không
phải một xu sao? Thế mà không con nào rơi xuống
đất ngoài ý Cha các con.
Còn trong Luca 12:6, câu ấy
như sau:
Há năm con chim sẻ giá không
phải hai xu sao? Thế nhưng Thiên Chúa không quên
con nào.
Tại Palestine, người mua có
thể mua hai con chim sẻ với giá một xu; nhưng
nếu chịu trả hai xu, ông ta sẽ được năm
con chim sẻ, chứ không phải bốn. Con sẻ thứ năm
kể như của rẻ, cho không, coi như không đáng
giá, bị người ta coi là vô giá trị. Nhưng
ngay con sẻ phụ trội ấy đối với Thiên Chúa vẫn
quan trọng, có giá. Bởi chẳng con nào trong
năm con ấy bị Thiên Chúa làm ngơ!
Ta nhớ lại lời Thiên Chúa
phán với Mô-sen: ‘Ta biết ngươi bằng tên’
(Xuất Hành 33:17). Người cũng phán với vua Kyrô:
‘Ta là Chúa, Đấng biết ngươi bằng tên’
(Isaia 45:3). Một đặc điểm trong Thánh Kinh là
có cả những trang trọn dành cho các tên, cho các
gia phả. Điều ấy xem ra có vẻ dư thừa, nên lược
bỏ. Nhưng đó lại là biểu tượng cho hằng hà sa
số những người được Thiên Chúa biết bằng tên.
Tình yêu của Thiên Chúa tỉ mỉ đến nỗi con
chim sẻ cũng quan trọng đối với Người, không một
ai Người lại không biết bằng tên. Về chuyện con
chim sẻ, đọc lướt qua, người ta tưởng con chim
sẻ rơi xuống đất chết cũng không ngoài ý Chúa.
Nhưng J.E. McFadyen cho hay nếu đọc theo tiếng
Aram, thì không phải là rơi xuống đất mà
là đậu xuống đất. Hình ảnh quả là đẹp:
mỗi lần con chim sẻ tung tăng dưới đất, Thiên
Chúa đều thấy và biết nó.
Cho nên, mỗi lần đọc Kinh Lạy
Cha, ta có thể xác tín rằng đối với Thiên Chúa,
không một ai bị mất hút trong đám đông; rằng nếu
ta chẳng đáng kể đối với ai, ta vẫn đáng kể đối
với Thiên Chúa; rằng nếu chẳng có ai chăm sóc
đến ta, Thiên Chúa vẫn săn sóc đến ta. Xác tín
ấy chắc chắn sẽ nâng cao trái tim ta mỗi lần ta
đọc Lời Kinh của Chúa.
ii. Chữ abba cũng giải
quyết dứt khóat mối liên hệ của ta với đồng
loại. Vì trước nó, có chữ chúng con.
Việc dùng chữ sau đã chấm dứt hẳn mọi đặc tính
loại trừ. Nếu Thiên Chúa là Cha chúng con,
thì đồng loại chúng con chính là anh em
chúng con. Căn bản của bất cứ nền dân chủ nào
cũng là niềm xác tín vào tình phụ tử của Thiên
Chúa. Giá trị duy nhất con người có được trong
tư cách người là tư cách con cái Thiên Chúa. Chủ
nghĩa duy quốc gia, chủ nghĩa phân biệt chủng
tộc, chủ nghĩa hợm hĩnh, phân biệt giai cấp, da
mầu quả đi ngược hẳn hai chữ mở đầu Kinh Lạy
Cha. Đọc những chữ ấy, mà ghét bỏ hay khinh miệt
đồng loại mình là chế nhạo lời Kinh, là biến
mình thành người nói láo.
Ta dám nói khi đã đọc các chữ
Lạy Cha chúng con, ta không cần
phải đọc thêm chi nữa. Vì chúng đã dứt khoát
giải quyết mối liên hệ giữa ta với Thiên Chúa và
giữa ta với anh em đồng loại. Đó là các chữ mời
gọi ta đến trước nhan Thiên Chúa với niềm tin
tưởng và mạnh bạo của trẻ thơ và cản ngăn ta
không làm bất cứ điều gì khác ngoài yêu thương
anh em đồng loại mình.
Vũ Văn An
viết theo William Barclay,
The Plain Man Looks At The Lord’s Prayer,
Fontana Books, 1964.