MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Kho Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Nhạc Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 

LÒNG SÙNG KÍNH THỜI XƯA ĐỐI VỚI ĐỨC MẸ:
LÀM CHỨNG CHO HỌC THUYẾT VỀ NHẬP THỂ

Vũ Văn An

Người ta vốn nghĩ rằng Công đồng Êphêsô (năm 431) là điểm bật sáng chói ngời khai sinh ra lòng sùng kính chính thức trong Giáo Hội tiên khởi đối với Mẹ Chúa Giêsu. Tiếp theo lời Công đồng công bố Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Thetokos), tại các đô thị lớn trong thế giới cổ thời chắc chắn đã có cả một phong trào say sưa dâng kính các thánh đường cho Đức Mẹ dưới danh hiệu Đấng Cưu Mang Thiên Chúa (God-Bearer). Các ngày lễ kính Đức Mẹ bắt đầu phát triển nhiều hơn và các bài giảng được tô điểm bằng nhiều hình ảnh lấy từ Cựu Ước, tạo ra cả một thể lọai văn chương ngợi khen Maria là Mẹ Thiên Chúa (Bên Đông gọi là Theotokos, bên Tây gọi là Mater Dei) (Xem Hilda Graef, Lịch Sử Các Học Thuyết Và Lòng Tôn Sùng, London, Sheed & Ward, 1990)

Mục đích của chúng ta ở đây là muốn khảo sát vai trò của lòng sùng kính Đức Mẹ trước thời Công đồng Êphêsô; để gọi là thăm dò xem ký ức về Đức Maria đã được gìn giữ ra sao trong nền văn hóa Kitô giáo đang triển khai lúc đó; cái ký ức ấy đã lớn mạnh như thế nào để trở thành cả một làn sóng nhồi trồi lên tại Êphêsô; và quan trọng hơn cả, lòng sùng kính đức Maria của người Kitô hữu đã luôn luôn phát sinh ra sao từ cảm thức sâu xa của niềm tin (sensus fidelium) vào học thuyết nhập thể theo đó “Ngôi Lời đã thành huyết nhục và ở giữa chúng ta” (Ga 1:14). 

Maria, Mẹ Thiên Chúa, trong Thánh Kinh

Dù cho lòng sùng kính đức Maria khởi đầu có được kích thích bởi một truyền khẩu rõ rệt hay, như một số người đoán định, bởi việc Kitô hóa những tục thờ cúng đối với các nữ thần mẹ thuở xưa (Xem Alix Pirani, Người Mẹ Khuyết Diện: Tái Lập Thần Nữ Trong Do Thái Và Kitô Giáo, London, Mandala, 1991, Chương 3), việc nhìn nhận từ sớm vai trò của đức Maria trong lịch sử cứu chuộc chỉ có thể phát sinh từ Sách Thánh mà thôi. Sự hiện diện của đức Maria trong Thánh Kinh thuộc ý niệm rộng rãi về tính bí tích qua đó, Thiên Chúa sử dụng các ngôi vị nhân bản và chứng tá của họ để chuyển thông sức mạnh và ơn thánh cứu độ của Ngài (Xem Trên Đường Tiến Đến Hiệp Thông Đầy Đủ Hơn:Báo Cáo Chính Thức Của Hội Nghị Thế Giới Lần Thứ Năm Về Đức Tin & Dòng Tu, Geneva WCC, 1994, tr.246). Từ đầu, Mẹ Chúa Giêsu, dù không có tính cách chủ đề, đã được tiếp nhận vào ý thức sùng kính theo cùng một cách thế như cách thế một vật được biểu hiệu đã sẵn được chứa đựng ngay trong chính biểu hiệu (P. Edward D. O’Connor, ‘Chức Năng Dấu Chỉ Trong Học Thuyết Thánh Kinh Về Đức Maria’, Văn Kiện Hội Nghị Về Đức Maria Và Thánh Mẫu Học Tại Lisbon Bồ Đào Nha MCMLXVII, Tập 2, Rome, 1970, tr.70).

Như chúng ta đã biết, Tân Ước hầu như không tỏ lộ điều gì về người mẹ lịch sử của Chúa Giêsu. Trong tư cách là những văn bản nói về Chúa Kitô và Giáo Hội trước tác sau biến cố phục sinh, quan tâm hàng đầu của các sách này là khích lệ lòng tin vào Chúa Giêsu như là Chúa Kitô. Lý do hiện hữu của chúng là làm chứng cho nhiệm cục của Thiên Chúa (econimia divina)  từng được diễn tả trong các giao ước của Giavê Thiên Chúa với Israel và được thực hiện đầy đủ như đã hứa trong mầu nhiệm nhập thể, nghĩa là bao gồm sứ mệnh của Chúa Giêsu, cơn khổ nạn và cái chết của Ngài, sự phục sinh và tôn vinh ‘bên hữu Thiên Chúa’ từ đó Thánh Linh đã được ‘thả ra’ và Giáo Hội được khai sinh.

Điều Tân ước thực sự làm – và đã làm song song với ‘thửa đất mẹ’ mầu mỡ của mạc khải Cựu ứơc (Bertrand Buby, Maria Người Galilêa: tập 1, Maria Trong Tân Ước, New York, Alba House, 1994, xiii) – là tiệm tiến chứng tỏ, qua truyền thống nhất lãm và truyền thống Gioan, rằng đức Maria đã can dự một cách hết sức gắn bó vào toàn bộ mầu nhiệm Nhập Thể và vào việc khai sinh ra Giáo Hội.

Những đoạn Tân Ước liên hệ tự nhiên xuất hiện trong đầu ta chính là các đoạn Matthêu nói về gia phả Chúa Giêsu (Mt 1:1-17), nói về việc dựng thai trinh khiết của Ngài (Mt 1: 18-25) và đoạn nói về Mẹ và Hài Nhi-Giêsu khi Ba Vua đến viếng thăm (Mt 2:11).

Truyền thống Luca khích lệ người ta suy niệm thêm về ý nghĩa của đức Maria đối với mầu nhiệm Nhập Thể. Ở đây ta thấy người mẹ-môn đệ mà tiếng xin vâng đã cho phép việc dựng thai trinh khiết của Chúa Giêsu diễn tiến được (Lc 1:26-38); mà việc đi thăm Êlizabet đã tạo nên khúc ca hân hoan và ca tụng vô tiền khoáng hậu nhân danh vô vàn những ‘con người bé nhỏ’, là những người luôn được Thiên Chúa đổ đầy muôn vàn ơn phúc cứu độ (Lc 1:39-45); người đã sinh Chúa Giêsu vào lịch sử nhân loại (Lc 2: 1-7); người đã đón tiếp các mục đồng đến thờ lạy (Lc 2:8-20) và dâng Ngài vào Đền Thờ theo nghi lễ Do Thái (Lc 2: 21-40); người đã cảm nghiệm Ngài lớn lên trong tuổi thiếu niên (Lc 2: 41-52); người đã đi theo Ngài như một môn đệ sáng chói nhất trong suốt hành trình mục vụ công khai của Ngài (Lc 8: 19-21); và người, sau cùng, đã có mặt trong Lễ Hiện Xuống, là lễ trong đó tháp Babel được đảo ngược đến muôn đời (Tđcv 1:12-14).

Phúc âm Gioan còn đưa ta vào sâu hơn ý nghĩa yêu thương và tin kính nơi Mẹ Chúa Giêsu. Chỉ có hai hoạt cảnh (pericopes) thôi – một tại Cana (Ga 2:1-12) trong đó Người Đàn Bà trở thành dụng cụ tác động ra việc khởi đầu Giờ Của Chúa Giêsu và một tại Đồi Calvary (Ga 19: 25-28a) nơi cũng Người Đàn Bà ấy đã cùng đứng với Người Môn Đệ Yêu Qúi cạnh Thập giá –  nhưng cũng đủ để làm nổi rõ vai trò biểu tượng của Mẹ Chúa Giêsu. Phúc âm này đã nhận ra hướng đi bắt đầu từ những lớp sơ khởi nhất của truyền thống tức việc đức Maria phải được tìm thấy ngay giữa lòng gia đình cánh chung của Chúa Giêsu, là Giáo Hội. Sự hiểu biết này, như chúng tôi đã nhắc đến,  cũng nằm gần ngay giữa lòng sùng kính tiên khởi đối với đức Maria.

Từ Truyền Thống Thánh Kinh Đến Các Phát Biểu Lòng Tôn Kính Đức Maria

Từ đầu, việc Kitô hữu tôn kính đức Maria đã được phát biểu hoàn toàn trong bối cảnh Kitô học được truyền thông Thánh Kinh linh ứng. Hai luồng tôn kính đức Maria đã xuất hiện trong Giáo Hội sơ khai. Trước nhất, những lời cầu nguyện và các tranh ảnh hồi xưa phần lớn là những lời ca ngợi Đức Mẹ vì đã cộng tác vào mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Kitô. Từ những kinh cầu ca ngợi ấy, dần dần mới phát triển ra các lời cầu khẩn xin ơn (invocations).

Ca Ngợi Đức Maria

Tư cách là mẹ mà vẫn trinh khiết của Đức Maria mau chóng trở thành chú điểm của suy tư thần học trong Giáo Hội hậu tông đồ. Các nhà thần học có ảnh hưởng đã có thể lên ‘tiếng’ và ra lệnh cho những hình thức sùng kính Đức Maria đang thịnh hành lúc đó trong cộng đoàn của họ; đổi lại, tư tưởng thần học liên quan đến Đức Maria đã giúp các tín hữu cơ hội để diễn tả lòng ca ngợi của họ đối với Đấng đã được Chúa chọn để sinh hạ ra Chúa Kitô.

Thánh Ignatius thành Antioch khẳng quyết về sự đồng trinh của Đức Maria và minh nhiên nhìn nhận vị trí của Ngài trong mầu nhiệm cứu chuộc:

Vì Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô đã được Đức Maria mang thai theo đúng chương trình Thiên Chúa: bởi giòng giống Đavit đã đành, mà cũng bởi Chúa Thánh Thần nữa...Sự đồng trinh của Đức Maria, việc Ngài sinh con cũng như sự chết của Chúa, tất cả đều được dấu kín đối với thủ lãnh thế gian – ba mầu nhiệm được lớn tiếng công bố nhưng đã được thực hiện trong sự im lặng của Chúa (Eph. 18:2; 19:1 trích trong William A. Jungens, Đức Tin Của Các Giáo Phụ Tiên Khởi, Collegville, Liturgical Press, 1970, tr.18).

Thánh Justin (qua đời khoảng năm 165), Thánh Irenaeus (qua đời khoảng năm 193), và Tertullian (qua đời khoảng năm 220) cả ba đều góp phần vào việc khai triển sự so sánh song hành của thánh Phaolô về Ađam Cũ/Ađam Mới (Rm 15: 12-21). Và trong khi khai triển như thế, họ cũng đã thúc đẩy sự so sánh tương tự giữa Evà Cũ/Evà Mới. Sự lưu ý của thần học về vai trò của Đức Maria trong lịch sử cứu chuộc tự nhiên dẫn đến việc Ngài được ca ngợi chính thức cũng như không chính thức trong Giáo Hội. Cái vinh dự mà Ngài được ban tặng nhờ việc nhập thể được liên tục nhắc lại trong Kinh Tin Kính lúc chịu phép rửa hồi xưa trong đó Giáo Hội công khai tin nhận Chúa Giêsu ‘sinh bởi bà Maria Đồng Trinh’.

Các trước tác ngoại kinh như Ca Khúc Solomon, Sấm Ký Sybylline Phúc Âm Đầu Hết Của Giacôbê bắt đầu được lưu truyền từ cuối thế kỷ thứ nhất qua giữa thế kỷ thứ hai. Theo cách riêng, các văn bản này đưa ra những lời ca tụng rất bình dân đối với Đức Maria trong chiều hướng xây dựng của chúng và khi ‘thỏa mãn’ óc tò mò đạo đức, chúng cũng đã thoả mãn một số nhu cầu thần học nhờ đã trám đầy một số chi tiết về đức Maria mà các Phúc âm đã không nói đến. Chắc chắn các trước tác này đã nới rộng cái hào quang mầu nhiệm  bao quanh việc Nhập Thể trong khi đồng thời cũng đưa ra được một số tìm hiểu đứng đắn (tuy hơi khuếch đại...) đối với ý nghĩa của khía cạnh ‘vì chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi’ trong nhân tính của Chúa Giêsu, nhân tính vốn  từ Đức Maria mà ra.

Một lời kinh được khám phá trên các mảnh gốm tại một di tích lịch sử tại một tu viện Coptic thế kỷ thứ ba cho thấy rõ sự ca tụng thời xưa đối với đức Maria đã được linh ứng ra sao bởi trình thuật Truyền Tin của Luca:

Kính mừng Maria,

Đầy ơn phúc;

Chúa ở cùng Bà,

Cả Chúa Thánh Thần nữa.

Thầy cả của Bà mặc đồ công chính

Những kẻ tôn kính Bà sẽ vui mừng hớn hở.

Lạy Chúa, vì Đavit tôi tớ Chúa, xin Chúa hãy cứu vớt dân Người;

Hãy chúc phúc phần dân Chúa chọn.

Kính mừng đấng Đồng Trinh vinh  hiển,

Maria đầy phúc.

Chúa ở cùng Bà.

Bà có phúc hơn mọi người nữ;

Và phúc thay hoa quả lòng Bà;

Vì Đấng Bà thụ thai chính là Đấng Kitô,

Con Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc linh hồn chúng con (Adalbert Hamman, Những Bài Kinh Kitô Giáo Tiên Khởi,London, Longmans, Green, 1961, tr,76 ).

 

Ở đây việc nhắc đến các thầy cả (linh mục) là điều quan trọng về phương diện lịch sử vì được nhắc đến trong một bản văn thánh vịnh, hẳn nó ám chỉ đây là lời kinh phụng vụ đã có trước cả Kinh Kính Mừng đến vài trăm năm.

Niên biểu chính xác của các lời ca tụng trong phụng vụ thời sơ khai đối với tước hiệu Maria Mẹ Thiên Chúa là điều khó ấn định. Tuy nhiên, ca khúc phụng vụ của Thánh Ephraem người Syrian (sinh năm 306) chắc chắn không thua sút bất cứ ca khúc nào khác về vẻ đẹp và sự tinh tế trong lời ca tụng đấng đã cho Đấng Cứu Thế mặc xác phàm. Nếu chú ý lắng nghe, ta sẽ thấy nhiều âm hưởng Thánh Kinh trong trích đoạn dưới đây:

Hãy đến, hỡi tất cả những ai sáng suốt, hãy chiêm ngắm

Người Mẹ đồng trinh, dòng vua Đavit.

Người đẹp mỹ miều, đã sinh hạ Đấng Tuyệt Diệu;

Người là giòng suối tạo nên Giếng Khơi,

Người là con tầu mang niềm vui Chúa Cha,

Chở tin mừng trong lòng trinh khiết;

Người mang theo và hộ tống

Vị Thuyền Trưởng vĩ đại sáng thế

Đấng mà qua Ngài hòa bình sẽ

Thống trị trên mặt đất và trên trời.

...

Người mang chim bồ câu non

Chim Ưng, Kỳ Lão muôn Đời

Luôn ca ngợi vì người mang Ngài

Bằng những lời ca yêu dấu:

‘Ôi Con yêu, con giầu có, Con đã chọn

Lớn lên trong chiếc tổ tí hon; là cây đàn muôn điệu,

Con lặng thinh như đứa bé thơ, hãy để mẹ ru Con

bằng cây đàn rung động cả vệ thần Thiên Chúa (cherubim)... (Sebastian Brock, Cây Đàn Của Chúa Thánh Thần, California, The Borgo Press, 1984, tr.58).

 

Ca khúc Ephraem dùng trong khi cử hành Ngày Sinh của Chúa Kitô cũng đồng thời cử hành (như đoạn sau đây chứng tõ) sự vui mừng của Giáo Hội trước sự tham dự của đức Maria vào mầu nhiệm ấy:

Hôm nay đức Maria đã nên cho chúng con

Tầng trời mang Thiên Chúa;

Vì trong người, Thiên Chúa vinh quang

Đã xuống lòng cư ngụ;

Trong người, Ngài đã ra bé nhỏ,

Để chúng con nên lớn

Nhưng bản tính Ngài không suy giảm;

Trong người, Ngài đã dệt cho chúng con

chiếc áo cứu chuộc... (Sách vừa dẫn, tr.65).

 

Sự tuyệt vời trong tư tưởng của Thánh Ephraem khi liên kết Chúa Thánh Linh, Giáo Hội, đức Maria và sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể với nhau đã được diễn tả một cách tuyệt diệu trong Ca Khúc Niềm Tin thứ mười của ngài:

Lửa và Thần Khí trong lòng Maria;

Lửa và Thần Khí trong giòng sông Rửa Tội,

Lửa và Thần khí trong Phép Rửa ta,

Lửa và Thần Khí trong bánh, trong rượu (Trích trong Yves Congar, Tôi Tin Kính Đức Chúa Thánh Thần, Tập 3, London, Geoffrey Chapman, 1983, tr.262).

Đến ngay cả việc nhắc đến phương cách theo đó lòng tôn sùng Đức Mẹ đã được lồng vào phụng vụ thánh thể ngày xưa, chúng ta cũng không đủ khả năng. Ghi chép đầu tiên cho thấy Đức Mẹ có mặt trong cách lặp đi lặp lại như trên (anaphora) đã được tìm thấy trong bản văn Truyền Thống Tông Đồ (Apostolic Tradition) của Thánh Hippolytus viết vào khoảng năm 215 CN – mặc dù bản văn này có thể đã phản ảnh một lời cầu nguyện đã được khai triển tại Rome vào khoảng năm 180 CN:

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa, nhờ Con yêu dấu Chúa là Chúa Giêsu Kitô... Đấng Chúa đã từ trời sai xuống lòng người Trinh Nữ và Đấng được tượng thai trong Bà đã trở nên xác thân và đã được minh chứng là Con Chúa sinh bởi Chúa Thánh Thần và Trinh Nữ... (Xem Gregory Dix, Khảo Luận Về Truyền Thống Tông Đồ Của Thánh Hippolytus Thành Rome, London, SPCK, 1968, tr.7).

Vì đã xem xét lòng sùng kính đức Maria thời tiền Êphêsô dưới dạng tụng ca, nên cần phải nhắc sơ qua đến giáo huấn của thánh Anathasius thành Alexandria và thánh Augustine thành Hippo. Một lần nữa ta lại phải nhắc đến tác động qua lại giữa cách phát biểu bình dân và cách phát biểu có tính cách chải chuốt của thần học về lòng sùng kính đức Maria (Jaroslav Pelikan, Maria Qua Các Thế Kỷ. New Haven, Yale University Press, 1996, tr.59. Ở đây, Pelikan nhận thật rằng thánh Anathasius ‘đã làm vang lại ngôn ngữ tôn sùng bình dân’ trong khi đưa ra lý chứng thần học của mình).

 Thánh Anathasius (sinh khoảng năm 295) quan trọng đối với sự xem xét của ta vì cách ngài bênh vực đức tin chống lại nhóm tân-Ariô là nhóm chối bỏ nhân tính hoàn toàn của Chúa Giêsu. Thánh nhân nhấn mạnh rằng Ngôi Lời Thiên Chúa được sinh ra bởi Trinh nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa  (Theotokos) – một tước hiệu vốn đã được sử dụng trong các kinh nguyện công cộng của Kitô hữu chính thống vùng Alexandria. Thánh Anathasius biện luận rằng tư cách làm mẹ của đức Maria bảo đảm nhân tính của Chúa Giêsu và, do đó, là chuẩn thức cho sự cứu rỗi của con người. Ngài nhấn mạnh rằng việc mừng kính lễ Maria Làm Mẹ được ấn định (rất có lẽ) vào Chúa nhật trước Lễ Giáng Sinh (Xem Hilda Graef, Đức Maria, tr.133), là điều quan trọng đối với việc Giáo Hội không ngừng làm chứng cho công việc cứu rỗi. Trong Thư Gửi Epictetus của thánh Anathasius, ta đọc thấy rằng: ‘Nếu Ngôi Lời cùng một yếu tính với thân xác, thì việc mừng kính và chức vị của đức Maria chỉ là hời hợt’ (Jaroslav Pelikan, Sự Phát Triển Học Thuyết Về Chúa Kitô: Một Số Lời Phi Lộ Có Tính Lịch Sử, New Haven, Yale University Press, 1969, tr,101). Nói cách khác, sẽ vô nghĩa khi đi mừng kính một lễ phụng vụ Mẹ Thiên Chúa  đã trở thành phổ thông nếu đức Maria không tham dự như một phần yếu tính vào mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Kitô, mà lễ sinh nhật được cử hành còn long trọng hơn vào tuần kế tiếp.

Thánh Augustine (sinh khỏang năm 354) đã đóng góp một cách đặc biệt bằng cách chú trọng đến đức tin của Đức Mẹ. Các bài giảng của thánh nhân (như ta đã biết, được sưu