LÒNG
SÙNG
KÍNH
THỜI XƯA
ĐỐI VỚI
ĐỨC MẸ:
LÀM
CHỨNG
CHO HỌC
THUYẾT
VỀ NHẬP
THỂ
Vũ Văn
An
Người ta
vốn nghĩ
rằng
Công
đồng
Êphêsô
(năm
431) là
điểm bật
sáng
chói
ngời
khai
sinh ra
lòng
sùng
kính
chính
thức
trong
Giáo Hội
tiên
khởi đối
với Mẹ
Chúa
Giêsu.
Tiếp
theo lời
Công
đồng
công bố
Đức Mẹ
là Mẹ
Thiên
Chúa (Thetokos),
tại các
đô thị
lớn
trong
thế giới
cổ thời
chắc
chắn đã
có cả
một
phong
trào say
sưa dâng
kính các
thánh
đường
cho Đức
Mẹ dưới
danh
hiệu
Đấng Cưu
Mang
Thiên
Chúa
(God-Bearer).
Các ngày
lễ kính
Đức Mẹ
bắt đầu
phát
triển
nhiều
hơn và
các bài
giảng
được tô
điểm
bằng
nhiều
hình ảnh
lấy từ
Cựu Ước,
tạo ra
cả một
thể lọai
văn
chương
ngợi
khen
Maria là
Mẹ Thiên
Chúa
(Bên
Đông gọi
là
Theotokos,
bên
Tây gọi
là
Mater
Dei)
(Xem
Hilda
Graef,
Lịch
Sử Các
Học
Thuyết
Và Lòng
Tôn
Sùng,
London,
Sheed &
Ward,
1990)
Mục đích
của
chúng ta
ở đây là
muốn
khảo sát
vai trò
của lòng
sùng
kính Đức
Mẹ trước
thời
Công
đồng
Êphêsô;
để gọi
là thăm
dò xem
ký ức về
Đức
Maria đã
được gìn
giữ ra
sao
trong
nền văn
hóa Kitô
giáo
đang
triển
khai lúc
đó; cái
ký ức ấy
đã lớn
mạnh như
thế nào
để trở
thành cả
một làn
sóng
nhồi
trồi lên
tại
Êphêsô;
và quan
trọng
hơn cả,
lòng
sùng
kính đức
Maria
của
người
Kitô hữu
đã luôn
luôn
phát
sinh ra
sao từ
cảm
thức sâu
xa của
niềm tin
(sensus
fidelium)
vào học
thuyết
nhập thể
theo đó
“Ngôi
Lời đã
thành
huyết
nhục và
ở giữa
chúng
ta” (Ga
1:14).
Maria,
Mẹ Thiên
Chúa,
trong
Thánh
Kinh
Dù cho
lòng
sùng
kính đức
Maria
khởi đầu
có được
kích
thích
bởi một
truyền
khẩu rõ
rệt hay,
như một
số người
đoán
định,
bởi việc
Kitô hóa
những
tục thờ
cúng đối
với các
nữ thần
mẹ thuở
xưa (Xem
Alix
Pirani,
Người
Mẹ
Khuyết
Diện:
Tái Lập
Thần Nữ
Trong Do
Thái Và
Kitô
Giáo,
London,
Mandala,
1991,
Chương
3), việc
nhìn
nhận từ
sớm vai
trò của
đức
Maria
trong
lịch sử
cứu
chuộc
chỉ có
thể phát
sinh từ
Sách
Thánh mà
thôi. Sự
hiện
diện của
đức
Maria
trong
Thánh
Kinh
thuộc ý
niệm
rộng rãi
về tính
bí tích
qua đó,
Thiên
Chúa sử
dụng các
ngôi vị
nhân bản
và chứng
tá của
họ để
chuyển
thông
sức mạnh
và ơn
thánh
cứu độ
của Ngài
(Xem
Trên
Đường
Tiến Đến
Hiệp
Thông
Đầy Đủ
Hơn:Báo
Cáo
Chính
Thức Của
Hội Nghị
Thế Giới
Lần Thứ
Năm Về
Đức Tin
& Dòng
Tu,
Geneva
WCC,
1994,
tr.246).
Từ đầu,
Mẹ Chúa
Giêsu,
dù không
có tính
cách chủ
đề, đã
được
tiếp
nhận vào
ý thức
sùng
kính
theo
cùng một
cách thế
như cách
thế một
vật được
biểu
hiệu đã
sẵn được
chứa
đựng
ngay
trong
chính
biểu
hiệu (P.
Edward
D.
O’Connor,
‘Chức
Năng Dấu
Chỉ
Trong
Học
Thuyết
Thánh
Kinh Về
Đức
Maria’,
Văn
Kiện Hội
Nghị Về
Đức
Maria Và
Thánh
Mẫu Học
Tại
Lisbon
Bồ Đào
Nha
MCMLXVII,
Tập 2,
Rome,
1970,
tr.70).
Như
chúng ta
đã biết,
Tân Ước
hầu như
không tỏ
lộ điều
gì về
người mẹ
lịch sử
của Chúa
Giêsu.
Trong tư
cách là
những
văn bản
nói về
Chúa
Kitô và
Giáo Hội
trước
tác sau
biến cố
phục
sinh,
quan tâm
hàng đầu
của các
sách này
là khích
lệ lòng
tin vào
Chúa
Giêsu
như là
Chúa
Kitô.
Lý do
hiện hữu
của
chúng là
làm
chứng
cho
nhiệm
cục của
Thiên
Chúa (econimia
divina)
từng
được
diễn tả
trong
các giao
ước của
Giavê
Thiên
Chúa với
Israel
và được
thực
hiện đầy
đủ như
đã hứa
trong
mầu
nhiệm
nhập
thể,
nghĩa là
bao gồm
sứ mệnh
của Chúa
Giêsu,
cơn khổ
nạn và
cái chết
của
Ngài, sự
phục
sinh và
tôn vinh
‘bên hữu
Thiên
Chúa’ từ
đó Thánh
Linh đã
được
‘thả ra’
và Giáo
Hội được
khai
sinh.
Điều Tân
ước
thực sự
làm
– và đã
làm song
song với
‘thửa
đất mẹ’
mầu mỡ
của mạc
khải Cựu
ứơc
(Bertrand
Buby,
Maria
Người
Galilêa:
tập
1,
Maria
Trong
Tân Ước,
New
York,
Alba
House,
1994,
xiii) –
là tiệm
tiến
chứng
tỏ, qua
truyền
thống
nhất lãm
và
truyền
thống
Gioan,
rằng đức
Maria đã
can dự
một cách
hết sức
gắn bó
vào toàn
bộ mầu
nhiệm
Nhập Thể
và vào
việc
khai
sinh ra
Giáo
Hội.
Những
đoạn Tân
Ước liên
hệ tự
nhiên
xuất
hiện
trong
đầu ta
chính là
các đoạn
Matthêu
nói về
gia phả
Chúa
Giêsu
(Mt
1:1-17),
nói về
việc
dựng
thai
trinh
khiết
của Ngài
(Mt 1:
18-25)
và đoạn
nói về
Mẹ và
Hài
Nhi-Giêsu
khi Ba
Vua đến
viếng
thăm (Mt
2:11).
Truyền
thống
Luca
khích lệ
người ta
suy niệm
thêm về
ý nghĩa
của đức
Maria
đối với
mầu
nhiệm
Nhập
Thể. Ở
đây ta
thấy
người
mẹ-môn
đệ mà
tiếng
xin vâng
đã cho
phép
việc
dựng
thai
trinh
khiết
của Chúa
Giêsu
diễn
tiến
được (Lc
1:26-38);
mà việc
đi thăm
Êlizabet
đã tạo
nên khúc
ca hân
hoan và
ca tụng
vô tiền
khoáng
hậu nhân
danh vô
vàn
những
‘con
người bé
nhỏ’, là
những
người
luôn
được
Thiên
Chúa đổ
đầy muôn
vàn ơn
phúc cứu
độ (Lc
1:39-45);
người đã
sinh
Chúa
Giêsu
vào lịch
sử nhân
loại (Lc
2: 1-7);
người đã
đón tiếp
các mục
đồng đến
thờ lạy
(Lc
2:8-20)
và dâng
Ngài vào
Đền Thờ
theo
nghi lễ
Do Thái
(Lc 2:
21-40);
người đã
cảm
nghiệm
Ngài lớn
lên
trong
tuổi
thiếu
niên (Lc
2:
41-52);
người đã
đi theo
Ngài như
một môn
đệ sáng
chói
nhất
trong
suốt
hành
trình
mục vụ
công
khai của
Ngài (Lc
8:
19-21);
và
người,
sau
cùng, đã
có mặt
trong Lễ
Hiện
Xuống,
là lễ
trong đó
tháp
Babel
được đảo
ngược
đến muôn
đời
(Tđcv
1:12-14).
Phúc âm
Gioan
còn đưa
ta vào
sâu hơn
ý nghĩa
yêu
thương
và tin
kính nơi
Mẹ Chúa
Giêsu.
Chỉ có
hai hoạt
cảnh
(pericopes)
thôi –
một tại
Cana (Ga
2:1-12)
trong đó
Người
Đàn Bà
trở
thành
dụng cụ
tác động
ra việc
khởi đầu
Giờ Của
Chúa
Giêsu và
một tại
Đồi
Calvary
(Ga 19:
25-28a)
nơi cũng
Người
Đàn Bà
ấy đã
cùng
đứng với
Người
Môn Đệ
Yêu Qúi
cạnh
Thập giá
– nhưng
cũng đủ
để làm
nổi rõ
vai trò
biểu
tượng
của Mẹ
Chúa
Giêsu.
Phúc âm
này đã
nhận ra
hướng đi
bắt đầu
từ những
lớp sơ
khởi
nhất của
truyền
thống
tức việc
đức
Maria
phải
được tìm
thấy
ngay
giữa
lòng gia
đình
cánh
chung
của Chúa
Giêsu,
là Giáo
Hội. Sự
hiểu
biết
này, như
chúng
tôi đã
nhắc
đến,
cũng nằm
gần ngay
giữa
lòng
sùng
kính
tiên
khởi đối
với đức
Maria.
Từ
Truyền
Thống
Thánh
Kinh Đến
Các Phát
Biểu
Lòng Tôn
Kính Đức
Maria
Từ đầu,
việc
Kitô hữu
tôn kính
đức
Maria đã
được
phát
biểu
hoàn
toàn
trong
bối cảnh
Kitô học
được
truyền
thông
Thánh
Kinh
linh
ứng. Hai
luồng
tôn kính
đức
Maria đã
xuất
hiện
trong
Giáo Hội
sơ khai.
Trước
nhất,
những
lời cầu
nguyện
và các
tranh
ảnh hồi
xưa phần
lớn là
những
lời ca
ngợi Đức
Mẹ vì đã
cộng tác
vào mầu
nhiệm
cứu
chuộc
của Chúa
Kitô. Từ
những
kinh cầu
ca ngợi
ấy, dần
dần mới
phát
triển ra
các lời
cầu khẩn
xin ơn
(invocations).
Ca Ngợi
Đức
Maria
Tư cách
là mẹ mà
vẫn
trinh
khiết
của Đức
Maria
mau
chóng
trở
thành
chú điểm
của suy
tư thần
học
trong
Giáo Hội
hậu tông
đồ. Các
nhà thần
học có
ảnh
hưởng đã
có thể
lên
‘tiếng’
và ra
lệnh cho
những
hình
thức
sùng
kính Đức
Maria
đang
thịnh
hành lúc
đó trong
cộng
đoàn của
họ; đổi
lại, tư
tưởng
thần học
liên
quan đến
Đức
Maria đã
giúp các
tín hữu
cơ hội
để diễn
tả lòng
ca ngợi
của họ
đối với
Đấng đã
được
Chúa
chọn để
sinh hạ
ra Chúa
Kitô.
Thánh
Ignatius
thành
Antioch
khẳng
quyết về
sự đồng
trinh
của Đức
Maria và
minh
nhiên
nhìn
nhận vị
trí của
Ngài
trong
mầu
nhiệm
cứu
chuộc:
Vì Thiên
Chúa,
Chúa
Giêsu
Kitô đã
được Đức
Maria
mang
thai
theo
đúng
chương
trình
Thiên
Chúa:
bởi
giòng
giống
Đavit đã
đành, mà
cũng bởi
Chúa
Thánh
Thần
nữa...Sự
đồng
trinh
của Đức
Maria,
việc
Ngài
sinh con
cũng như
sự chết
của
Chúa,
tất cả
đều được
dấu kín
đối với
thủ lãnh
thế gian
– ba mầu
nhiệm
được lớn
tiếng
công bố
nhưng đã
được
thực
hiện
trong sự
im lặng
của Chúa
(Eph.
18:2;
19:1
trích
trong
William
A.
Jungens,
Đức
Tin Của
Các Giáo
Phụ Tiên
Khởi,
Collegville,
Liturgical
Press,
1970,
tr.18).
Thánh
Justin
(qua đời
khoảng
năm
165),
Thánh
Irenaeus
(qua đời
khoảng
năm
193), và
Tertullian
(qua đời
khoảng
năm 220)
cả ba
đều góp
phần vào
việc
khai
triển sự
so sánh
song
hành của
thánh
Phaolô
về Ađam
Cũ/Ađam
Mới (Rm
15:
12-21).
Và trong
khi khai
triển
như thế,
họ cũng
đã thúc
đẩy sự
so sánh
tương tự
giữa Evà
Cũ/Evà
Mới. Sự
lưu ý
của thần
học về
vai trò
của Đức
Maria
trong
lịch sử
cứu
chuộc tự
nhiên
dẫn đến
việc
Ngài
được ca
ngợi
chính
thức
cũng như
không
chính
thức
trong
Giáo
Hội. Cái
vinh dự
mà Ngài
được ban
tặng nhờ
việc
nhập thể
được
liên tục
nhắc lại
trong
Kinh Tin
Kính lúc
chịu
phép rửa
hồi xưa
trong đó
Giáo Hội
công
khai tin
nhận
Chúa
Giêsu
‘sinh
bởi bà
Maria
Đồng
Trinh’.
Các
trước
tác
ngoại
kinh như
Ca
Khúc
Solomon,
Sấm Ký
Sybylline
và
Phúc
Âm Đầu
Hết Của
Giacôbê
bắt đầu
được lưu
truyền
từ cuối
thế kỷ
thứ nhất
qua giữa
thế kỷ
thứ hai.
Theo
cách
riêng,
các văn
bản này
đưa ra
những
lời ca
tụng rất
bình dân
đối với
Đức
Maria
trong
chiều
hướng
xây dựng
của
chúng và
khi
‘thỏa
mãn’ óc
tò mò
đạo đức,
chúng
cũng đã
thoả mãn
một số
nhu cầu
thần học
nhờ đã
trám đầy
một số
chi tiết
về đức
Maria mà
các Phúc
âm đã
không
nói đến.
Chắc
chắn các
trước
tác này
đã nới
rộng cái
hào
quang
mầu
nhiệm
bao
quanh
việc
Nhập Thể
trong
khi đồng
thời
cũng đưa
ra được
một số
tìm hiểu
đứng đắn
(tuy hơi
khuếch
đại...)
đối với
ý nghĩa
của khía
cạnh ‘vì
chúng
tôi và
để cứu
rỗi
chúng
tôi’
trong
nhân
tính của
Chúa
Giêsu,
nhân
tính
vốn từ
Đức
Maria mà
ra.
Một lời
kinh
được
khám phá
trên các
mảnh gốm
tại một
di tích
lịch sử
tại một
tu viện
Coptic
thế kỷ
thứ ba
cho thấy
rõ sự ca
tụng
thời xưa
đối với
đức
Maria đã
được
linh ứng
ra sao
bởi
trình
thuật
Truyền
Tin của
Luca:
Kính
mừng
Maria,
Đầy ơn
phúc;
Chúa ở
cùng Bà,
Cả Chúa
Thánh
Thần
nữa.
Thầy cả
của Bà
mặc đồ
công
chính
Những kẻ
tôn kính
Bà sẽ
vui mừng
hớn hở.
Lạy
Chúa, vì
Đavit
tôi tớ
Chúa,
xin Chúa
hãy cứu
vớt dân
Người;
Hãy chúc
phúc
phần dân
Chúa
chọn.
Kính
mừng
đấng
Đồng
Trinh
vinh
hiển,
Maria
đầy
phúc.
Chúa ở
cùng Bà.
Bà có
phúc hơn
mọi
người
nữ;
Và phúc
thay hoa
quả lòng
Bà;
Vì Đấng
Bà thụ
thai
chính là
Đấng
Kitô,
Con
Thiên
Chúa,
Đấng cứu
chuộc
linh hồn
chúng
con
(Adalbert
Hamman,
Những
Bài Kinh
Kitô
Giáo
Tiên
Khởi,London,
Longmans,
Green,
1961,
tr,76
).
Ở đây
việc
nhắc đến
các thầy
cả (linh
mục) là
điều
quan
trọng về
phương
diện
lịch sử
vì được
nhắc đến
trong
một bản
văn
thánh
vịnh,
hẳn nó
ám chỉ
đây là
lời kinh
phụng vụ
đã có
trước cả
Kinh
Kính
Mừng đến
vài trăm
năm.
Niên
biểu
chính
xác của
các lời
ca tụng
trong
phụng vụ
thời sơ
khai đối
với tước
hiệu
Maria Mẹ
Thiên
Chúa là
điều khó
ấn định.
Tuy
nhiên,
ca khúc
phụng vụ
của
Thánh
Ephraem
người
Syrian
(sinh
năm 306)
chắc
chắn
không
thua sút
bất cứ
ca khúc
nào khác
về vẻ
đẹp và
sự tinh
tế trong
lời ca
tụng
đấng đã
cho Đấng
Cứu Thế
mặc xác
phàm.
Nếu chú
ý lắng
nghe, ta
sẽ thấy
nhiều âm
hưởng
Thánh
Kinh
trong
trích
đoạn
dưới
đây:
Hãy đến,
hỡi tất
cả những
ai sáng
suốt,
hãy
chiêm
ngắm
Người Mẹ
đồng
trinh,
dòng vua
Đavit.
Người
đẹp mỹ
miều, đã
sinh hạ
Đấng
Tuyệt
Diệu;
Người là
giòng
suối tạo
nên
Giếng
Khơi,
Người là
con tầu
mang
niềm vui
Chúa
Cha,
Chở tin
mừng
trong
lòng
trinh
khiết;
Người
mang
theo và
hộ tống
Vị
Thuyền
Trưởng
vĩ đại
sáng thế
Đấng mà
qua Ngài
hòa bình
sẽ
Thống
trị trên
mặt đất
và trên
trời.
...
Người
mang
chim bồ
câu non
Chim
Ưng, Kỳ
Lão muôn
Đời
Luôn ca
ngợi vì
người
mang
Ngài
Bằng
những
lời ca
yêu dấu:
‘Ôi Con
yêu, con
giầu có,
Con đã
chọn
Lớn lên
trong
chiếc tổ
tí hon;
là cây
đàn muôn
điệu,
Con lặng
thinh
như đứa
bé thơ,
hãy để
mẹ ru
Con
bằng cây
đàn rung
động cả
vệ thần
Thiên
Chúa
(cherubim)...
(Sebastian
Brock,
Cây
Đàn Của
Chúa
Thánh
Thần,
California,
The
Borgo
Press,
1984,
tr.58).
Ca khúc
Ephraem
dùng
trong
khi cử
hành
Ngày
Sinh của
Chúa
Kitô
cũng
đồng
thời cử
hành
(như
đoạn sau
đây
chứng
tõ) sự
vui mừng
của Giáo
Hội
trước sự
tham dự
của đức
Maria
vào mầu
nhiệm
ấy:
Hôm nay
đức
Maria đã
nên cho
chúng
con
Tầng
trời
mang
Thiên
Chúa;
Vì trong
người,
Thiên
Chúa
vinh
quang
Đã xuống
lòng cư
ngụ;
Trong
người,
Ngài đã
ra bé
nhỏ,
Để chúng
con nên
lớn
Nhưng
bản tính
Ngài
không
suy
giảm;
Trong
người,
Ngài đã
dệt cho
chúng
con
chiếc áo
cứu
chuộc...
(Sách
vừa dẫn,
tr.65).
Sự tuyệt
vời
trong tư
tưởng
của
Thánh
Ephraem
khi liên
kết Chúa
Thánh
Linh,
Giáo
Hội, đức
Maria và
sự hiện
diện của
Chúa
Kitô
trong
Thánh
Thể với
nhau đã
được
diễn tả
một cách
tuyệt
diệu
trong
Ca Khúc
Niềm Tin
thứ
mười của
ngài:
Lửa và
Thần Khí
trong
lòng
Maria;
Lửa và
Thần Khí
trong
giòng
sông Rửa
Tội,
Lửa và
Thần khí
trong
Phép Rửa
ta,
Lửa và
Thần Khí
trong
bánh,
trong
rượu
(Trích
trong
Yves
Congar,
Tôi
Tin Kính
Đức Chúa
Thánh
Thần,
Tập
3,
London,
Geoffrey
Chapman,
1983,
tr.262).
Đến ngay
cả việc
nhắc đến
phương
cách
theo đó
lòng tôn
sùng Đức
Mẹ đã
được
lồng vào
phụng vụ
thánh
thể ngày
xưa,
chúng ta
cũng
không đủ
khả
năng.
Ghi chép
đầu tiên
cho thấy
Đức Mẹ
có mặt
trong
cách lặp
đi lặp
lại như
trên
(anaphora)
đã được
tìm thấy
trong
bản văn
Truyền
Thống
Tông Đồ
(Apostolic
Tradition)
của
Thánh
Hippolytus
viết vào
khoảng
năm 215
CN – mặc
dù bản
văn này
có thể
đã phản
ảnh một
lời cầu
nguyện
đã được
khai
triển
tại Rome
vào
khoảng
năm 180
CN:
Lạy
Chúa,
chúng
con tạ
ơn Chúa,
nhờ Con
yêu dấu
Chúa là
Chúa
Giêsu
Kitô...
Đấng
Chúa đã
từ trời
sai
xuống
lòng
người
Trinh Nữ
và Đấng
được
tượng
thai
trong Bà
đã trở
nên xác
thân và
đã được
minh
chứng là
Con Chúa
sinh bởi
Chúa
Thánh
Thần và
Trinh
Nữ...
(Xem
Gregory
Dix,
Khảo
Luận Về
Truyền
Thống
Tông Đồ
Của
Thánh
Hippolytus
Thành
Rome,
London,
SPCK,
1968,
tr.7).
Vì đã
xem xét
lòng
sùng
kính đức
Maria
thời
tiền
Êphêsô
dưới
dạng
tụng ca,
nên cần
phải
nhắc sơ
qua đến
giáo
huấn của
thánh
Anathasius
thành
Alexandria
và thánh
Augustine
thành
Hippo.
Một lần
nữa ta
lại phải
nhắc đến
tác động
qua lại
giữa
cách
phát
biểu
bình dân
và cách
phát
biểu có
tính
cách
chải
chuốt
của thần
học về
lòng
sùng
kính đức
Maria
(Jaroslav
Pelikan,
Maria
Qua Các
Thế Kỷ.
New
Haven,
Yale
University
Press,
1996,
tr.59. Ở
đây,
Pelikan
nhận
thật
rằng
thánh
Anathasius
‘đã làm
vang lại
ngôn ngữ
tôn sùng
bình
dân’
trong
khi đưa
ra lý
chứng
thần học
của
mình).
Thánh
Anathasius
(sinh
khoảng
năm 295)
quan
trọng
đối với
sự xem
xét của
ta vì
cách
ngài
bênh vực
đức tin
chống
lại nhóm
tân-Ariô
là nhóm
chối bỏ
nhân
tính
hoàn
toàn của
Chúa
Giêsu.
Thánh
nhân
nhấn
mạnh
rằng
Ngôi Lời
Thiên
Chúa
được
sinh ra
bởi
Trinh nữ
Maria,
Mẹ
Thiên
Chúa
(Theotokos)
– một
tước
hiệu vốn
đã được
sử dụng
trong
các kinh
nguyện
công
cộng của
Kitô hữu
chính
thống
vùng
Alexandria.
Thánh
Anathasius
biện
luận
rằng tư
cách làm
mẹ của
đức
Maria
bảo đảm
nhân
tính của
Chúa
Giêsu
và, do
đó, là
chuẩn
thức cho
sự cứu
rỗi của
con
người.
Ngài
nhấn
mạnh
rằng
việc
mừng
kính lễ
Maria
Làm Mẹ
được ấn
định
(rất có
lẽ) vào
Chúa
nhật
trước Lễ
Giáng
Sinh
(Xem
Hilda
Graef,
Đức
Maria,
tr.133),
là điều
quan
trọng
đối với
việc
Giáo Hội
không
ngừng
làm
chứng
cho công
việc cứu
rỗi.
Trong
Thư Gửi
Epictetus
của
thánh
Anathasius,
ta
đọc thấy
rằng:
‘Nếu
Ngôi Lời
cùng một
yếu tính
với thân
xác, thì
việc
mừng
kính và
chức vị
của đức
Maria
chỉ là
hời hợt’
(Jaroslav
Pelikan,
Sự
Phát
Triển
Học
Thuyết
Về Chúa
Kitô:
Một Số
Lời Phi
Lộ Có
Tính
Lịch Sử,
New
Haven,
Yale
University
Press,
1969,
tr,101).
Nói cách
khác, sẽ
vô nghĩa
khi đi
mừng
kính một
lễ phụng
vụ Mẹ
Thiên
Chúa
đã trở
thành
phổ
thông
nếu đức
Maria
không
tham dự
như một
phần yếu
tính
vào
mầu
nhiệm
cứu
chuộc
của Chúa
Kitô, mà
lễ sinh
nhật
được cử
hành còn
long
trọng
hơn vào
tuần kế
tiếp.
Thánh
Augustine
(sinh
khỏang
năm 354)
đã đóng
góp một
cách đặc
biệt
bằng
cách chú
trọng
đến
đức tin
của
Đức Mẹ.
Các bài
giảng
của
thánh
nhân
(như ta
đã biết,
được sưu