KINH LẠY
CHA
4. Nước Cha Trị Đến
Ta có thể và rất tự nhiên coi
lời nguyện cho “Nước Cha trị đến” như lời cầu
xin chính của Kinh Lạy Cha, vì Nước Thiên Chúa
chắc chắn là sứ điệp và là lời công bố chính của
Chúa Giêsu. Khi kể lại lần đầu tiên Chúa Giêsu
xuất hiện nơi công chúng, phúc âm Mác-cô đã tóm
tắt sứ điệp của Người như sau: “thì giờ đã đến
và Nước Thiên Chúa đã gần kề; hãy ăn năn và tin
vào phúc âm” (Mc 1:14; xem Mt 4:17). Phần thánh
Luca, ngài thuật lại việc Chúa Giêsu dạy các môn
đệ phải tiến về phía trước ra sao: “Ta còn phải
rao giảng tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành
thị khác nữa, vì Ta được sai đến vì mục tiêu
này” (Lc 4:43). Việc công bố Nước Thiên Chúa vì
thế không là gì khác mà là chính mục tiêu của
việc Chúa Giêsu bước vào trần gian. Tính trung
tâm của ý niệm Vương Quốc càng trở nên rõ ràng
khi ta biết rằng thuật ngữ Nước Thiên Chúa hay
Nước Trời xuất hiện 46 lần trong Phúc Âm
Mátthêu, 16 lần trong Phúc Âm Máccô và 38 lần
trong Phúc Âm Luca.
1. Nước hay triều đại
Mà nếu lời cầu xin này chính
yếu như thế, ta cần hiểu nghĩa của nó một cách
rõ ràng. Ở đây, ta thấy có chữ Nước. Chữ này
tương đương như chữ kingdom (vương quốc)
của tiếng Anh mà ngày nay phần đông người ta
hiểu như một lãnh thổ hay một khu vực lãnh thổ
dưới quyền cai trị của một chính phủ hay một vị
vua nào đó. Như Nước Anh, vương quốc Bỉ… Nhưng
trong Tân Ước, nước không phải là một lãnh thổ,
mà đúng hơn là triều đại của Thiên Chúa. “Nước
Thiên Chúa đã gần kề” chỉ có nghĩa là “Thiên
Chúa sắp sửa khởi đầu triều đại của mình; vương
quyền của Người nơi trần gian sắp sửa bắt đầu”.
Tưởng cũng nên nhấn mạnh ở đây, lời cầu xin này
trong bản tiếng La-tinh như sau: “Adveniat
Regnum tuum”. “Regnum” quả có nghĩa là triều đại
và đã có lần Hội Đồng Giám Mục Việt-Nam đã cho
đọc thử bản dịch mới của Kinh Lạy Cha trong đó,
thuật ngữ Triều Đại đã được sử dụng thay thế cho
thuật ngữ Nước. Không hiểu vì sao, việc đọc thử
ấy đã không biến thành việc đọc thật sự trong
phụng vụ và việc cầu nguyện hàng ngày.
Điều thứ hai, Tân Ước sử dụng
đến hai thuật ngữ: Nước Chúa và Nước Trời. Hai
thuật ngữ ấy cùng chỉ một thực tại, tìm cách
phân biệt hai thuật ngữ này là điều sai lầm. Có
điều, Phúc Âm Mátthêu ít khi nói Nước Chúa, trái
lại hầu như lúc nào cũng nói đến Nước Trời. Trái
lại hai phúc âm nhất lãm kia, tức các Phúc Âm
Máccô và Luca, thì hầu như không bao giờ nói tới
Nước Trời, mà luôn nói đến Nước Chúa. Lý do có
thể là vì người Do Thái ngoan đạo ít khi dám
nhắc đến tên Thiên Chúa trên môi miệng mình. Nếu
có thể, họ thích dùng kiểu nói vòng vo
(periphrasis) đầy tôn kính. Mà chữ vòng vo tôn
kính chỉ Thiên Chúa đối với họ chính là Trời.
Phúc Âm Mátthêu hiển nhiên được coi có tính Do
Thái hơn tất cả các phúc âm kia, cho nên để
tránh nói Thiên Chúa, soạn giả đã dùng chữ Trời
thay thế. Nên không nói Nước Thiên Chúa mà nói
Nước Trời. Trái lại, hai soạn giả phúc âm Máccô
và Luca, vì ít có tính Do Thái hơn, nên chả ngần
ngại gì không nói Nước Thiên Chúa.
2. Định nghĩa hay không định
nghĩa
Mặt kkác, xem ra không ai bận
tâm đến việc định nghĩa chữ Nước hay Triều Đại.
Nước hay Triều Đại ấy được mô tả bằng hình ảnh
và loại suy cũng như bằng các đòi hỏi và hiệu
quả của nó, chứ không bằng nhiều lời định nghĩa.
Tuy nhiên, để hiểu nó, bắt buộc ta phải tìm ra
một định nghĩa để làm việc.
Văn chương Hi-bá-lai nổi
tiếng về việc năng sử dụng lối song đối. Thói
quen của họ là nói đến sự việc hai lần: vế thứ
hai của song đối nhắc lại, hay khuếch đại, hoặc
giải thích vế đầu. Đặc điểm ấy dễ thấy nhất
trong các Thánh Vịnh. Như Thánh Vịnh 46:8:
Chúa các đạo binh
ở với chúng ta;
Chúa Gia-cóp là
nơi trú ẩn của ta.
Hay Thánh Vịnh 121:5:
Chúa là Đấng gìn
giữ con;
Chúa là bóng che
bên tay phải con.
Trong Kinh Lạy Cha, hai lời
cầu xin sau đây đã được đặt song song bên cạnh
nhau:
Nước Cha trị đến
Ý Cha thể hiện
dưới đất cũng như trên trời (Mt 6:10).
Theo phép song đối của văn
chương Hi-bá-lai, thì vế thứ hai trên đây quả đã
giải thích và định nghĩa cho vế thứ nhất, như
thế, ta có định nghĩa sau đây: Nước Chúa là một
xã hội trên trần gian trong đó ý Chúa được thể
hiện cách hoàn hảo giống như ở trên trời. Nghĩa
là thể hiện ý Thiên Chúa và hiện diện trong Nước
(của Người) chỉ là một điều, cùng là một điều.
Là công dân một nước hay thần dân một vương
quốc, nhất thiết bao hàm việc vâng theo luật lệ
của nước ấy hay các sắc chỉ của vua ấy. Là thành
viên Nước Thiên Chúa nhất thiết bao gồm việc
chấp nhận ý Thiên Chúa.
Định nghĩa trên giúp ta hiểu
vị thế của Chúa Giêsu trong Nước Chúa và đồng
thời giải thích được một số câu nói lạ lùng
trong Tân Ước. Mátthêu 11:1 cho biết Chúa Giêsu
phán thế này: “Ta bảo thật các ông, trong số
những người do phụ nữ sinh ra, không ai trọng
hơn Gioan Tẩy Giả; ấy thế nhưng người thấp kém
nhất trong Nước Trời cũng cao trọng hơn ông ta”
(xem thêm Luca 7:28). Hệ luận là với việc Chúa
Giêsu và Nước Trời xuất hiện, một điều gì đó
hoàn toàn mới đã bước vào cuộc đời. Điều mới ấy
là điều gì? Ta hãy nhớ lại định nghĩa trên đây
về Nước Trời: hiện diện trong Nước ấy là hoàn
toàn chấp nhận và thi hành ý Thiên Chúa.Chúa
Giêsu Kitô là người và là người duy nhất từng
chấp nhận và thi hành trọn vẹn ý Thiên Chúa.
Cho nên, Nước Chúa đã xuất hiện cùng với Chúa
Giêsu. Nước Chúa đến trong chính Người.
Người nhập thể và nhập thân Nước ấy. Chúa Giêsu
không chỉ công bố Nước Chúa; mà Người
là chính Nước Chúa thể hiện trong cuộc sống
con người. Người mang tới cho con người cả sứ
điệp lẫn sự tỏ hiện của Nước Chúa.
Như thế ngay lập tức ta nhìn
Nước Thiên Chúa bằng hạn từ ý Thiên Chúa, và do
đó Nước Thiên Chúa trở thành một việc bản
thân. Nước ấy đầu hết không phải là ý niệm
bao gồm quốc gia, dân tộc và xứ sở. Nước
Thiên Chúa là một điều gì đó bắt đầu với chính
tôi. Nói về Nước ấy không phải để đưa ra một
lý thuyết thần học, dựng ra một chương trình
chính trị, nhưng là đặt mình đối diện với một
thách đố bản thân trong đó ta chấp nhận hay từ
khước ý Thiên Chúa dành cho ta. Nước Thiên Chúa,
do đó, bao hàm việc cá nhân chấp nhận ý Thiên
Chúa. Cầu xin cho “Nước Cha trị đến” có nghĩa là
cầu xin “Lạy Chúa, xin giúp con thực hiện ý
Chúa”.
Điều này càng rõ hơn khi ta
xem hai đoạn Tân Ước song song sau đây. Trong
Máccô 9:43, ta thấy:
Nếu tay con làm cớ cho con
phạm tội thì hãy cắt bỏ nó đi; thà cụt tay mà
vào được Nước Thiên Chúa còn hơn là đủ hai
tay mà phải vào hỏa ngục.
Còn trong Máccô 9:47, ta
thấy:
Nếu mắt con làm cớ cho con
phạm tội, thì hãy móc bỏ nó đi; thà một mắt mà
vào được Nước Thiên Chúa còn hơn là đủ
hai mắt mà phải vào hỏa ngục.
Trong hai đoạn văn trên sự
sống và Nước Chúa chỉ là một điều,
cùng là một điều. Ta chỉ tìm thấy sự sống trong
vâng phục Thiên Chúa. Thể hiện ý Người, ta tìm
được bình an cho ta. Chỉ trong Nước Thiên Chúa,
mới có sự sống, vì rõ ràng sự sống chỉ là điều
nó có nghĩa khi nó được sống trong vâng phục ý
Thiên Chúa.
3. Ý nghĩa Nước Chúa
Khi đã hiểu được mối liên hệ
gắn bó giữa Nước Chúa với ý Chúa và sự sống, ta
sẽ hiểu được rất nhiều các đoạn văn, hình ảnh và
ý niệm của Tân Ước.
i. Trước hết, Nước Chúa phải
bắt đầu bằng lời mời. Đó là lời mời đích
danh Thiên Chúa ngỏ với mỗi người để họ chấp
nhận ý Người, ý đã được biểu lộ trong Chúa Giêsu
Kitô. Chính vì thế, nó đã được lên hình tượng
như một bữa tiệc hay bàn tiệc được chủ nhà mời
khách đến dự. Khách có thể chấp nhận hay từ chối
lời mời ấy và do đó lãnh nhận vẻ vang hay điếm
nhục (Mátthêu 22:1-14; Luca 14:16-24). Bước vào
Nước Chúa là chấp nhận lời mời Thiên Chúa gửi
cho khách mời của Người, và khách mời phải luôn
luôn chấp nhận luật lệ của gia đình nơi ông bước
vào.
ii. Chính vì lẽ trên, Nước
Chúa và thống hối luôn luôn đi đôi với nhau.
Sứ điệp tiên khởi của Chúa Giêsu là lời kêu gọi
thống hối vì Thiên Chúa sắp sửa khởi đầu triều
đại của Người (Máccô 1:14; Mátthêu 4:17). Xét
theo chiểu tự, thống hối có nghĩa là thay đổi
tâm trí (metanoia); còn ăn năn trở lại có
nghĩa là quay lại và hướng về phía ngược lại.
Đối với cuộc đời, bản năng tự nhiên
của con người là muốn biến ý chí, ước muốn và
hoài mong riêng của mình thành lực lượng chủ
chốt và chuyển dịch mọi sự khác ở trên đời. Khi
người nào đó bước vào Nước Chúa, họ phải có được
sự thay dạ đổi lòng giúp họ thôi không còn vâng
theo ý chí riêng của mình nữa, mà là theo ý
Thiên Chúa, là thôi không còn nhìn vào mình mà
là nhìn vào Chúa. Kitô hữu là người biết chấp
nhận rằng họ không còn bao giờ làm điều họ thích
nữa; nhưng luôn luôn điều Chúa thích. Cuộc sống
Kitô giáo bắt đầu với họ, họ khởi sự bước vào
Nước Chúa, khi họ lên tiếng hỏi, như Thánh
Phaolô trên đường tới Đamát đã hỏi: “Lạy Chúa,
con phải làm gì?” (Công Vụ 22:10).
iii. Đó cũng là lý do tại sao
Nước Chúa nhất thiết khởi đầu từ những khởi
sự nhỏ nhất. Người ta không bước vào Nước
Chúa như những đám đông; họ phải bước vào đó như
những cá nhân; vì cái lúc bước vào ấy bao giờ
cũng là một chấp nhận ý Chúa có tính bản thân và
cá thể. Đó là lý do tại sao việc hạt mù tạt, một
thứ hạt nhỏ nhất trong các hạt, lớn thành một
cây to lại là biểu tượng của Nước Chúa (Mátthêu
13:31, 32). Đó là lý do tại sao, nếu một ai đó
được đặt vào một môi trường thù nghịch hay thờ ơ
với lời mời gọi của Thiên Chúa, họ không nên coi
đó như điều đáng tiếc và đáng ghét, nhưng là đặc
ân và là thách thức làm hạt nhỏ xíu từ đó phát
sinh ra Nước Chúa.
iv. Điều đó cũng giải thích
tại sao người ta không còn xa Nước Chúa.
Chúa Giêsu từng nói với Thầy Thông Luật khôn
ngoan và nhiều hiểu biết rằng ông ta không xa
Nước Thiên Chúa (Máccô 12:28-34). Người ta có
thể ở trong tình thế hiểu biết ý Chúa và phần
nào đó muốn chấp nhận ý ấy, nhưng lại run sợ
trước viễn ảnh phải vâng phục hoàn toàn. Đó
chính là lý do tại sao một trong các cản trở
không vào được Nước Chúa là thiếu khả năng thực
hiện một quyết định dứt khoát. Chúa Giêsu từng
nói với những kẻ muốn dấn bước theo chân Người
rằng: “Ai đã đặt tay vào chiếc cày mà còn nhìn
lại phía sau không xứng đáng với Nước Chúa”
(Luca 9:61, 62). Không thể có bất cứ điều gì gọi
là trung lập tốt lành đối với Nước Chúa được. Ta
có thể đang ở ngưỡng cửa của nó, nhưng vẫn không
vào được trong nó cho đến lúc chịu quyết định
dứt khoát chấp nhận ý Thiên Chúa.
v. Điều đó cũng giải thích
tại sao hoàn cảnh do Nước Chúa tạo ra chủ yếu
lại có sự pha trộn. Có đến hơn một dụ ngôn
của Chúa Giêsu nhắc đến điểm này. Lúa mì và cỏ
dại cùng mọc với nhau (Mátthêu 13:24-30). Lưới
vét gom đủ thứ cá (Mátthêu 13:47). Nếu việc vào
Nước Chúa và việc chấp nhận ý Chúa đều là một
việc và cùng là một việc, thì quả có đủ loại đáp
ứng đối với các đòi hỏi của Nước Chúa ấy. Có thể
có thẳng thừng và cố ý từ khước ý Thiên Chúa. Mà
cũng có thể có ước muốn chấp nhận ý ấy nhưng lại
thiếu khả năng tùng phục cần thiết. Rất có thể
có hàng loạt mức độ tiếp nhận khác nhau đi từ
việc chấp nhận có tính dò chừng, sợ sệt đến việc
cam kết hoàn toàn có tính hào hiệp và mạo hiểm.
Sự pha trộn trong hoàn cảnh con người là một
điều có sẵn trong thân phận họ, trong các liên
hệ của họ với Thiên Chúa và ý muốn của Người.
vi. Chính ở đây, ta thấy có
sự khác biệt trong ý niệm Nước Thiên Chúa
do Chúa Giêsu đem tới cho con người. Chúa nói
với Philatô: “Nước tôi không thuộc thế gian này”
(Gioan 18:36). Người Do Thái quan niệm Nước Chúa
theo nghĩa thịnh vượng vật chất, quyền uy chính
trị, sự vĩ đại của quốc gia. Vì thế trong Nước
Thiên Chúa, họ mong chờ một thế giới đầy rẫy cái
đẹp và dư thừa mới; họ hy vọng cuối cùng dân Do
Thái sẽ chiếm vị trí lãnh đạo thế giới. Cho đến
tận nay, vẫn còn lối giải thích Nước Chúa theo
nghĩa cải cách xã hội và phúc lợi vật chất. Đã
đành tất cả những thứ ấy đều là thành phần của
Nước Chúa, nhưng chúng là kết thúc chứ
không phải là khởi đầu của Nước Chúa;
chúng không phải là chính Nước Chúa cho bằng là
hoa trái của Nước ấy. Chúa Giêsu từng phán:
“Nước Ta ở trong (hay ở giữa) các con” (Luca
17:21). Chúa Giêsu hết sức rõ ràng về điểm này:
sự thay đổi tiên khởi phải xẩy ra trong con
người, vì nếu nó không xẩy ra, thì bất cứ hoàn
cảnh mới nào cũng rơi trở lại hoàn cảnh cũ. Đòi
hỏi khác được Chúa Giêsu đưa ra là các cá nhân
phải chấp nhận ý Thiên Chúa trước khi có bất cứ
sự thay đổi nào trong xã hội. Nước Chúa phải trị
đến trong tâm hồn con người trước cả khi Nước ấy
bắt đầu trị đến trong thế giới nói chung.
4. Các cố gắng cần thiết để vào Nước Chúa
Còn nhiều điều phải nói về cá
nhân và Nước Chúa. Nhưng dù sao ta cũng đã nắm
được sự thật căn bản này là hiện diện trong Nước
Chúa và chấp nhận để thực thi ý Người chỉ là một
và là cùng một điều, và chúng là điều duy nhất
dẫn đến sự sống theo nghĩa Thiên Chúa muốn hiểu.
Chính dưới ánh sáng của sự thật này, ta hiểu
được các lời của Chúa Giêsu liên quan đến cường
độ các cố gắng cần có để vào Nước Chúa.
i. Vào Nước Chúa là điều
đáng cố gắng. Chúa Giêu từng phán: “Trước
hết hãy tìm kiếm Nước Chúa và sự chính trực của
người” (Mátthêu 6:33). Và người ta đã dẫn giải
câu ấy như sau: “Hãy đặt Nước Chúa làm đối tượng
cho mọi cố gắng của ngươi”. Luca và Mátthêu đều
có dịch bản riêng một câu nói khó hiểu của Chúa
Giêsu. Trong Luca 16:16, ta thấy “Cho đến thời
Gioan, có Lề Luật và các tiên tri; còn từ thời
đó, Tin Mừng Nước Chúa được loan báo, và ai cũng
dùng bạo lực mà vào”. Thuật ngữ “dùng bạo lực mà
vào”
là dịch chữ biazesthai,
đây là động từ thường dùng để chỉ hành động
quân đội lao như vũ bão vào một thành phố trong
quyết tâm xâm nhập cho bằng được. Mátthêu nhắc
lại điều này như sau: “Từ thời Gioan Tẩy Giả cho
đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với bạo
lực, ai có bạo lực thì chiếm được nó” (Mátthêu
16:16). Rất có thể, nhất là trong bản văn
Mátthêu, câu này có ý nói đến cuộc bách hại và
tấn công đầy bạo lực mà Nước Chúa đang phải chịu
đựng. Nhưng cũng rất có thể, nhất là trong bản
văn Luca, câu này muốn nói tới ý niệm người ta
phải lao như vũ bão mà vào Nước Chúa như toán
quân anh dũng lao như vũ bão vào một thành phố.
Có tác giả như Denny đã viết đâu đó rằng: “Nước
Trời không dành cho người nhanh chí
(well-meaning) mà là cho người bền chí gắng
gượng (desperate)”. Kitô hữu tài tử (dilettante)
sẽ chẳng bao giờ vào được Nước Chúa. Chỉ những
ai khát vọng sâu sắc mới vào được đó. Ta chả cần
phải nhìn đâu xa hơn thảm kịch trong Vườn
Diệt-si-ma-ni để thấy Chúa Giêsu đã phải khó
khăn xiết bao trong việc chấp nhận ý Thiên Chúa
và hành động theo nó. Ý nghĩa của thảm kịch ấy
rất đơn giản: thực thi ý Chúa là việc đáng để ta
cố gắng, để ta phải “hấp hối”, phải đổ máu và mồ
hôi. Làm công dân và thành viên Nước Trời cũng
thế.
ii. Nước Chúa đáng giá mọi
sự. Chúa Giêsu từng kể một dụ ngôn kép về
của báu chôn dấu ngoài đồng và chuỗi trân châu
đáng giá ngàn vàng (Mátthêu 13:44-46). Ở cả hai
trường hợp, người khám phá đã hiến mọi sự để mà
chiếm lấy. Xem ra, để trở nên thành viên của
Nước Chúa, người ta phải trả một giá rất đắt. Họ
có thể phải hy sinh mọi tiện nghi và dễ chịu họ
đang hưởng. Họ có thể phải để qua một bên mọi
tham vọng bản thân họ đã đạt được. Có khi họ còn
phải hy sinh cả các mối liên hệ bản thân gần gũi
và thân thiết nhất, vì Chúa Giêsu từng đòi hỏi
rằng lòng trung thành với Người phải vượt trên
cả lòng trung thành với cha mẹ, anh em, vợ
chồng… vốn có sẵn trong trái tim con người nhân
bản (Mátthêu 10:37; Luca 14:26). Nghĩa là chẳng
có giá nào quá cao đến không trả được để trở nên
thành viên của Nước Thiên Chúa và thực thi ý
muốn của Thiên Chúa.
iii. Bước vào Nước Chúa
đáng giá bất cứ hy sinh nào. Bàn tay, con
mắt, bàn chân nào làm cớ cho ta phạm tội cũng
cần phải cắt bỏ vất đi (Mátthêu 10:29, 30).
Không một hy sinh nào quá triệt để và quá đau
như mổ xẻ đến không làm được, nếu đó là giá phải
trả để vào được Nước Thiên Chúa và thực thi ý
Người muốn.
5. Đặc tính của người bước vào
Cũng cần chú ý một điều chả
có chi phải xấu hổ khi phải chật vật lắm mới
thực thi được ý Chúa. Hãy nhìn vào Chúa Kitô
trong Vườn Diệt-si-ma-ni là đủ an ủi rồi. Trò
không hơn Thầy. Chỉ xấu hổ khi thua trận mà
thôi. Điều nữa: Thiên Chúa không bất công, vì
chiến trận càng khốc liệt, đắng cay, thì phần
thưởng càng lớn, có khi gấp cả trăm lần (Luca
18:29; Máccô 10:28-30; Mátthêu 19:27-30). Cuộc
chiến không phải là để không có gì, cho nên cần
đối diện với nó cách hào hiệp và hân hoan. Giờ
đây, ta hãy xét xem người bước vào Nước Chúa cần
những đặc tính gì. Ta thấy có hai đặc tính rút
từ Các Mối Phúc Thật:
i. Nước Trời và các ơn phúc
của nó thuộc người nghèo khó trong tinh thần
(Mátthêu 5:3). Chữ trong tiếng Hy Lạp là
ptochos dùng để chỉ người không những chỉ
nghèo mà thôi mà là tuyệt đối và hoàn toàn xác
xơ. Nó dịch chữ ani của tiếng Hi-bá-lai
vốn miêu tả kẻ nghèo hèn, trong cảnh vô vọng của
mình chỉ còn biết trông cậy vào Thiên Chúa. Điều
ấy có nghĩa là Nước Thiên Chúa thuộc những ai
biết nhìn nhận sự xác xơ toàn diện của mình và
biết đặt trọn lòng cậy trông vào Thiên Chúa. Vào
Nước Trời thuộc những ai biết khiêm hạ đặt sự
nghèo khó của mình trong sự giầu có của Chúa,
đặt sự dốt nát của mình trong sự khôn ngoan của
Chúa, đặt tội lỗi mình trong lòng xót thương của
Chúa, đặt sự thất bại luân lý và cuộc chiến
chống cám dỗ của mình trong ơn thánh của Người.
Nó thuộc những ai biết nhìn nhận bổn phận phải
thực thi ý Chúa, đồng thời cũng nhìn nhận việc
mình hoàn toàn không có khả năng làm việc ấy
nếu không có sự trợ giúp của Chúa.
ii. Nước Trời và các ơn phúc
của nó thuộc những ai bị bách hại vì “lòng ngay”
(Mátthêu 5:10). Người bách hại rõ ràng là người
yêu mến ý Chúa hơn sự dễ chịu bản thân, hơn danh
tiếng bản thân, hơn tham vọng bản thân, hơn yên
ổn an toàn bản thân, hơn cả chính sự sống mình.
Sự đe dọa mà việc vâng theo ý Chúa ngày nay đem
lại cho phần lớn người ta không hẳn là mất mạng
sống hay tự do. Mà đôi khi chỉ là mất nổi tiếng,
bị chê cười, đơn độc, phải từ bỏ nguyên tắc.
H.G. Wells có lần nói rằng đặc điểm của thời đại
này là trong nó tiếng nói của người lân cận
nhiều khi át cả tiếng nói của Thiên Chúa. Đối
với người bước vào Nước Chúa, tiếng nói của
Chúa phải là tiếng nói thúc đẩy nhất trên thế
gian.
iii. Hơn một lần, Chúa Giêsu
đặt ra một trong những điều kiện tối cao để vào
Nước Chúa là phải có tinh thần như trẻ em
(Mátthêu 18:2,3; Máccô 10:14, 15; Mátthêu 19:14;
Luca 18:16, 17). Trẻ em có hai đặc tính vĩ đại
sau đây: khiêm nhường và tín thác. Một em bé
bình thường không muốn nổi nang, địa vị và tiếng
tăm. Một em bé bình thường không bao giờ hoài
nghi người nhà không có đó chờ em về; em sẽ lên
đường cùng cha mẹ làm cuộc hành trình mà chả cần
biết đường đi và cũng chẳng phải lo lắng việc
trả tiền lộ phí chi hết mà vẫn tín thác hoàn
toàn. Khiêm nhường và tín thác là giấy thông
hành để vào Nước Trời.
iv. Có một đoạn gây ngạc
nhiên trong Bài Giảng Trên Núi ở Mátthêu
5:17-20. Ở đó, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến Lề Luật;
không một chữ hay một nét của nó lại trở thành
vô giá trị bao giờ. Bất cứ ai lỏng lẻo trong các
đòi hỏi của nó sẽ chỉ được chỗ thấp nhất trong
Nước Trời. “Ta bảo thật các ông, trừ khi sự công
chính của các ông vượt xa sự công chính của các
luật sĩ và Pharisêu, các ông sẽ không vào được
Nước Trời”. Điều này có nghĩa gì?
Câu này có nghĩa là ai muốn
tham gia làm thành phần Nước Trời thì bổn phận
phải khó hơn bổn phận các luật sĩ và Pharisêu.
Ta biết các luật sĩ và Pharisêu là những người
đặt căn bản cuộc sống của họ trên việc vâng theo
luật. Mà đặc tính chính của luật là người ta có
thể thoả mãn nó. Khi người ta đã làm điều luật
đòi hỏi, đã trả hết nợ phải trả theo luật, đã
chịu ra tòa và trả hết hình phạt, thì luật chả
còn đòi hỏi nào khác đối với họ. Nhưng đặc điểm
cuộc sống trong Nước Chúa là luật yêu thương, mà
đặc điểm của yêu thương là chả có ai thỏa mãn
được hết các đòi hỏi của nó. Không ai đã từng
yêu trừ khi họ cảm nhận rằng dù cho người yêu cả
trăng sao mặt trời vẫn chưa đủ. Được yêu là tự
đặt mình vào một món nợ đến “xuống tuyền đài
chưa tan” như Nguyễn Du của Việt-Nam từng nói.
Thành ra sự trói buộc đặt cho người Kitô hữu là
một trói buộc không một luật sĩ hay người
Pharisêu nào có thể hiểu nối. Luật Nước trời là
yêu thương, và do đó trách nhiệm của các thành
viên Nước Chúa đối với Thiên Chúa và đồng loại
là không có biên giới.
6. Các cản trở
Đã có những đặc tính cho
người muốn vào Nước Chúa, thì cũng có những cản
trở khiến người ta không thể vào đó được.
i. Phục vụ ngoài môi
cản trở người ta không vào được Nước Chúa. Không
phải người nói Lạy Chúa, Lạy Chúa vào được Nước
Trời nhưng là người thực hành ý Thiên Chúa”
(Mátthêu 7:21). Tuyên xưng mà không mang ra thực
hành có lẽ là lỗi lầm thông thường nhất trong
lòng Giáo Hội. Lời cầu nguyện viết cho Hội Nghị
Lambeth (của Anh Giáo) năm 1948 có đoạn như sau:
“Lạy Chúa toàn năng, xin ban cho chúng con ơn
không những biết nghe mà còn biết thực thi lời
Chúa, không những biết thán phục mà còn biết
vâng theo học lý của Chúa, không những tuyên
xưng mà còn thực hành tôn giáo của Chúa, không
những yêu mà còn sống phúc âm của Chúa. Nên xin
Chúa ban ơn này cho chúng con là điều gì chúng
con học được về vinh quang của Chúa chúng con
biết tiếp nhận trong lòng và biểu lộ ra bằng
cuộc sống chúng con”. Đó là đường dẫn vào Nước
Trời.
ii. Tinh thần không tha
thứ cản trở người ta không vào được Nước
Trời. Chúa Giêsu nói rõ điểm này trong dụ ngôn
tên đầy tớ độc ác không biết tha nợ (Mátthêu
18:23-35). Người không biết xót thương là người
chẳng có liên hệ gì với Thiên Chúa đầy lòng
thương xót. Một trái tim hận thù tự động đóng
cửa với tình yêu Thiên Chúa. Người không chịu
tha thứ không thể vào trước thánh nhan Thiên
Chúa là Đấng mà ý muốn duy nhất là sẵn sàng tha
thứ. Người muốn được tha thứ phải học biết tha
thứ. Trong Nước Chúa, không có chỗ nào cho người
có trái tim nuôi dưỡng hận thù đối với đồng loại
mình, người mà lúc còn sống đã có rạn nứt không
được hàn gắn giữa họ và người khác.
iii. Giầu có làm cho
việc bước vào Nước Trời trở nên rất khó khăn.
Chúa Giêsu từng nói: “Ta bảo thật các con, thật
khó cho một người giầu vào được Nước Trời. Ta
nói thật đó, con lạc đà chui qua lỗ kim khâu còn
dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa” (Mátthêu
19:23, 24; Máccô 10:23-27; Luca 18:24, 25). Tại
sao? Có hai lý do chính:
Thứ nhất, sở hữu nhiều của
cải vật chất có khuynh hướng cột chặt tâm tư
tình cảm của con người ta vào trần gian này. Họ
có quá nhiều quyến luyến với trần gian đến không
thể ngước mắt quá cái trần gian ấy được.
Thứ hai, sự giầu có có thể
trở nên điều một số người gọi là “ơn cứu rỗi
cạnh tranh”. Nó có thể tạo ra cảm thức an ổn giả
tạo; nó có khuynh hướng khiến người ta nghĩ rằng
họ có thể mua được đường vào đường ra bất cứ
điều gì. Nó làm người ta nghĩ rằng họ có thể
đương đầu với cuộc đời một cách tốt đẹp, chả cần
chi tới Thiên Chúa.
Chúa Giêsu không bao giờ
tuyên bố rằng sự giầu có ngăn cản người ta không
vào được Nước Chúa, nhưng quả Người có nói nó
làm cho việc vào Nước Chúa trở nên rất khó khăn,
vì nó làm người ta quên khuấy cả việc có Nước
trời.
Cũng còn nhiều điều khác có
thể nói về Nước Chúa. Nước ấy bao hàm việc đánh
bại đau khổ, bệnh hoạn và sự chết (Mátthêu 4:23;
10:1, 7, 8; 11:1-6; Máccô 6:7; Luca 7:19-23;
9:11). Chúa Giêsu cho hay nếu nhờ bàn tay Thiên
Chúa mà Người trừ được ma qủy, thì Nước Chúa đã
đến rồi (Mátthêu 12:8). Nước Chúa nhất thiết là
việc đánh bại sự ác và quyền lực của nó.
Kết luận
Nước Thiên Chúa là phổ quát.
Phúc âm của Nước Trời sẽ được rao giảng khắp thế
giới (Mátthêu 24:14), và người ta sẽ từ bắc, từ
nam, từ đông, từ tây đến ngồi trong Nước ấy
(Mátthêu 8:11; Luca 13:29). Không có phân biệt
chủng tộc, không có tối huệ quốc… Nước Chúa sẽ
đến. Một cách bí mật, âm thầm, nhưng không tài
nào ngăn chặn được, hạt giống cứ thế phát triển
(Máccô 4: 26-29). Con người có thể làm chậm Nước
ấy, họ có thể cản trở Nước ấy, nhưng sau cùng
Nước ấy sẽ đến.
Sự phát triển ấy không phải
là phát triển bất tận, không cùng; nhưng là một
phát triển tới chỗ hoàn thiện. Nước Chúa bắt đầu
trong thời gian, nhưng có tận cùng khi vĩnh cửu
sau cùng sẽ ló dạng trên thời gian và khi các
vương quốc trần gian sẽ trở thành Vương Quốc
Thiên Chúa và Đấng Kitô của Người.
Nước Cha trị đến, quả là lời
cầu xin có ý nghĩa! Nó không phải là lời cầu xin
cho một điều gì đó xẩy ra cho thế giới mà ta chỉ
là kẻ bàng quan. Nó là lời cầu xin cho ta biết
chấp nhận ý Thiên Chúa; cho ta biết bằng lòng
trả giá cho việc chấp nhận ấy; cho ta thanh tẩy
hết các trở ngại đối với việc chấp nhận ấy; cho
ta có được những điều làm thông hành để vào Nước
ấy. Không ai cần phải cầu lời cầu xin này trừ
khi họ sẵn sàng trao phó con người mình cho ơn
thánh Chúa để ơn thánh ấy biến họ thành tạo vật
mới. Đây không phải là lời cầu xin dành cho
người muốn dậm chân tại chỗ.
Vũ Văn An
viết theo William Barclay, The Plain
Man Looks At The Lord’s Prayer, Fontana
Books, 1964.
Đọc thêm:
-
Bình luận
Kinh Lạy CHA
-
Bối cảnh
Dothái của Kinh Lạy Cha
-
Lạy CHA
chúng con
-
Nguyện danh CHA cả sáng
-
Nước CHA trị
đến
(Còn tiếp)