Kinh Lạy
Cha (8):
Sa Chước
Cám Dỗ
Hai lời
cuối
cùng
của Kinh
Lạy Cha
xin cho
được
thoát
cám dỗ
và sự
dữ. Có
người
cho lời
cầu xin
đầu
trong
hai lời
cầu xin
này xem
ra có vẻ
nghịch
lý. Làm
thế nào
ta lại
có thể
cầu xin
để đừng
bị cám
dỗ cho
được?
Thân
Phận Con
Người
Trước
nhất, vì
đã làm
người là
phải bị
cám dỗ.
Cám dỗ
là thành
phần chủ
yếu của
nhân
sinh,
đến nỗi
khó mà
quan
niệm
được đời
người mà
lại
không có
cám dỗ.
Như
Origen
trong
Về Cầu
Nguyện
29.5
từng cho
hay: Bản
Bẩy Mươi
bằng
Tiếng Hy
Lạp đã
dịch câu
7.1 Sách
Gióp như
sau:
“Đời
người
trên
trần
gian há
không
phải là
cơn cám
dỗ liên
tục hay
sao?”.
Ông
tiếp:
“Đã có
ai nghĩ
được
người
nào đó
không bị
cám dỗ
bao giờ
từ ngày
anh ta
tới tuổi
có trí
khôn? Có
lúc nào
người ấy
lại biết
chắc
rằng
mình
không
phải lao
đao
chiến
đấu với
tội lỗi
không?”.
Cám dỗ
hay thử
thách
gắn liền
với thân
phận con
người
trên
trần
gian.
Đấy là
chủ đề
hết sức
quen
thuộc
với các
soạn giả
Thánh
Kinh.
Gióp nói
tiếp:
“Người
có thử
thách
tôi
trong
lò, tôi
mới nên
như vàng
tinh
luyện”
(23:10).
Còn
thánh
Giacôbê
thì cho
hay:
“anh em
hãy tự
cho mình
chan
chứa
niềm vui
khi gặp
thử
thách
trăm
chiều.
Vì như
anh em
biết,
đức tin
có vượt
qua thử
thách
mới sinh
ra lòng
kiên
nhẫn ”
(Gc
1:2-3).
Thánh
Phêrô
cũng
cùng một
luồng tư
tưởng
ấy:
“Trong
thời ấy,
anh em
sẽ được
hân hoan
vui
mừng,
mặc dầu
còn phải
ưu phiền
ít lâu
giữa
trăm
chiều
thử
thách.
Những
thử
thách đó
nhằm
tinh
luyện
đức tin
của anh
em là
thứ qúy
hơn vàng
gấp bội
- vàng
là của
phù vân,
mà còn
phải
chịu thử
lửa. Nhờ
thế, khi
Chúa
Giêsu
Kitô tỏ
hiện,
đức tin
đã được
tinh
luyện đó
sẽ trở
thành
lời khen
ngợi, và
đem lại
vinh
quang,
danh dự”
(1Pr
1:6-7).
Mặt
khác,
Lời Kinh
Latinh
trong
phục vụ,
cũng như
trong
bản Phổ
Thông
Latinh,
đã dịch
câu này
như
sau:
Et ne
nos
inducas
in
tentationem
(Và
đừng dẫn
chúng
con vào
cơn cám
dỗ).
Nhiều
bản dịch
tiếng
Anh,
nhất là
bản văn
dùng
trong
Phụng
Vụ, cũng
đã dịch
như thế:
and
lead
us not
into
temptation.
Cầu
xin như
thế chả
hóa ra
ta ngầm
có ý
nói:
Thiên
Chúa là
người
chịu
trách
nhiệm
trong
mưu toan
cám dỗ
con
người
chúng ta
hay sao?
Điều này
hiển
nhiên là
không
phải.
Như
Tertullian
từng đề
cập
trong
Về Cầu
Nguyện
8:
“Không
nên nghĩ
rằng
Thiên
Chúa
muốn cám
dỗ ai,
như thể
Người
không
biết
niềm tin
của họ
hay muốn
tìm cách
phá đổ
niềm tin
ấy đi”.
Thế mới
biết cha
ông
người
Việt
chúng ta
dịch lời
cầu xin
này vừa
rất
thoáng
vừa
tránh
được
những
điểm khó
hiểu như
trên
đây.
Thực
vậy, câu
chúng ta
thường
đọc hàng
ngày
trong
Phụng Vụ
là:
Xin chớ
để chúng
con sa
chước
cám dỗ,
nhưng
cứu
chúng
con cho
khỏi sự
dữ.
Tuy các
bản
Thánh
Kinh
tiếng
Việt có
dịch hơi
khác,
như bản
Tin Lành
dùng chữ
“điều
ác” thay
cho “sự
dữ”, bản
của Cha
Nguyễn
Thế
Thuấn
dùng
“cơn thử
thách”
thay cho
“ chước
cám dỗ”
và “qủy
dữ” thay
cho “sự
dữ”
nhưng
tựu
chung,
đều đã
không
dịch
từng chữ
các lời
trong
phụng vụ
Latinh
và trong
bản Phổ
Thông,
nhất là
đối với
lời đầu
trong
hai lời
cầu xin
này, mà
đều dịch
là “đừng
(chớ) để
chúng
con sa
chước
(cơn)
cám dỗ”…
Cám Dỗ
Hay Thử
Thách
Trong
các bản
tiếng
Anh cũng
như các
bản
tiếng
Việt, có
bản dùng
động từ
“cám
dỗ”, có
bản dùng
động từ
“thử
thách”.
Cha An
Sơn Vị
cho
rằng:
“cám dỗ
đây
không
phải là
cơn thử
thách,
như
trong
Cựu Ước,
Thiên
Chúa đã
thử ông
Áp-ra-ham
(Kn
22:1; 1M
2:52; Hc
44:20;
Hi
11:17)
hay dân
Ngài (Xh
15:25;
16:4;
20:20;
Tl 8:2;
13:4; Qa
2:22;
3:1,4;
Kng
11:9).
Đó là
cơn thử
thách,
như
trong
Tân Ước,
Sa-tan
dùng để
làm hư
con
người
(1C 7:5;
1Th 3:5;
1P
5:5-9;
Kh 2:10;
xem Luca
22:31).
Vì thế
trong
Tân Ước,
không
bao giờ
nói là
Thiên
Chúa cám
dỗ và Gc
1:13
loại trừ
điều ấy
rõ ràng
(x. Hc
15:11-12).
Chúa chỉ
làm
thinh
cho ta
gặp cảnh
ngộ nên
dịp cám
dỗ cho
ta, như
Thánh
Linh dẫn
Đức
Giê-su
lên
hoang
địa cho
Sa-tan
cám dỗ
Người
(Mt
4:1)”.
Thực ra,
trong
tiếng Hy
Lạp, cám
dỗ hay
thử
thách
đều cùng
một chữ
peirasmos.
Chữ
này là
một danh
từ, và
cũng
giống
mọi danh
từ Hy
Ngữ tận
cùng
bằng –asmos,
nó
chỉ một
diễn
trình.
Chữ này
rất
thông
thường
trong
văn
chương
Thánh
Kinh,
nhưng
không
thông
thường
trong
văn
chương
thế tục.
Và ta sẽ
có được
một ý
niệm căn
bản tốt
hơn đàng
sau chữ
này và
đàng sau
lời cầu
xin này,
nếu ta
chịu khó
xem sét
nó dưới
dạng
động từ
là
peirazein.
i. Động
từ ấy
nghĩa
khá
rộng. Nó
có thể
có nghĩa
như
ráng,
hay
thử
làm
một điều
gì, như
trong
Công Vụ
16:7:
“các ông
thử
vào
miền
Bi-thy-ni-a”.
Nghĩa
này
không ăn
nhằm gì
tới điều
chúng ta
đang bàn
ở đây.
ii.
Thông
thường
hơn, nó
có nghĩa
là
thử
thách.
Trong
nghĩa
này, nó
đồng
nghĩa
với động
từ
dokimazein
là động
từ hay
được
dùng để
chỉ việc
thử phẩm
chất của
kim
loại,
thử tiền
cắc xem
là thật
hay giả.
Như thế,
peirazein
được
dùng chỉ
diễn
trình
thử hiệu
quả của
chất
thuốc
bằng
cách đưa
nó vào
sử dụng.
Sách
cũng
chép
rằng khi
Nữ Hoàng
Sheba
nghe lời
đồn về
sự khôn
ngoan
của Vua
Sa-lô-môn,
bà muốn
đến “để
thử
nhà
vua bằng
những
câu hỏi
hắc búa”
(1V
10:1;
hãy so
sánh với
2SB
9:1).
Cũng có
lời chép
rằng
Giáo Hội
tại
Êphêsô
từng
thử
những
người tự
nhận là
tông đồ
và đã
khám phá
ra họ là
tông đồ
giả mạo
(Kh
2:2).
Câu 13:5
trong
thư 2
Côrintô
là một
thí dụ
rõ hơn
cả: “Hãy
thử
(peirazein)
chính
anh em
xem anh
em có
giữ vững
đức tin
của mình
hay
không.
Hãy tự
thử
(dokimazein)
lấy
mình”.
Tóm lại,
peirazein
chỉ
diễn
trình
thử xem
điều gì
đó là
thật hay
giả,
người
nào đó
là thật
hay giả
để mà
chấp
nhận hay
bác
khước.
iii.
Trong
Thánh
Kinh,
peirazein
được
dùng chỉ
việc
Thiên
Chúa thử
thách
con
người
xem đức
tin của
họ có
chân
chính,
trung
thành và
đích
thực hay
không.
Vì có
lệnh cấm
không
được
lắng
nghe
tiên tri
giả hay
những
anh
chàng
sống
bằng
mộng mơ
hão
huyền.
Khi
những kẻ
như thế
xuất
hiện,
“Chúa là
Thiên
Chúa các
ngươi sẽ
thử
để
biết xem
các
ngươi có
yêu mến
Chúa là
Thiên
Chúa các
ngươi
với hết
trái tim
và hết
linh hồn
các
ngươi
hay
không”
(Đnl
13:3).
Cũng
thế,
Thiên
Chúa đã
thử
Abraham
bằng
cách đòi
ông phải
sát tế
Isaac
(St
22:1).
Nhưng
Thiên
Chúa
không để
chúng ta
bị
thử
thách
quá
sức chịu
đựng của
chúng ta
(1Cor
10:13).
Nghĩa
này rất
quan
trọng,
vì nó
cũng là
nghĩa
của
cám dỗ
trong
lời Kinh
Lạy Cha
này. Bản
của Cha
Nguyễn
Thế
Thuấn
rất có
lý, khi
dùng chữ
thử
thách.
Bản
Authorised
Version
của Anh
dùng lẫn
lộn giữa
hai động
từ
test
(thử
thách)
và
tempt
(cám
dỗ). Bản
này dịch
câu Sáng
Thế 22:1
là
“Thiên
Chúa
cám dỗ
Abraham”.
Làm sao
Thiên
Chúa lại
có thể
cám dỗ
hay rù
quyến
Abraham
phạm tội
cho
được?
Người
chỉ
thử
thách
ông
mà thôi.
Thánh
Kinh
thường
xuyên
dùng
peirazein
chỉ việc
Thiên
Chúa đặt
con
người
vào một
hoàn
cảnh thử
thách,
một hoàn
cảnh anh
ta có
thể
sa ngã,
nhưng
Người
không
muốn
anh ta
sa ngã,
một hoàn
cảnh anh
ta có
thể
tự hủy
hoại,
nhưng
Người
muốn anh
ta thoát
được
hoàn
cảnh ấy
và được
mạnh sức
và phong
phú hơn
về đường
thiêng
liêng.
Nó được
dùng chỉ
một hoàn
cảnh
trong đó
có sự
cám dỗ
bất
trung
thật
đấy,
nhưng
đặc điểm
của hoàn
cảnh ấy
lại
không
phải là
một cám
dỗ cho
bằng một
cuộc thử
thách.
iv.
Trong
Tân Ước,
peirazein
hay
được
dùng chỉ
hành
động của
những
người
mưu mô
hạch hỏi
người
khác hay
thử
thách
một ai
đó với ý
định cố
ý bắt họ
tại trận
hay
khiến họ
phải tự
lên án
chính
mình.
Các luật
sĩ và
biệt
phái
liên
tiếp làm
cái hành
vi này
mà đặt
ra cho
Chúa
Giêsu
nhiều
câu hỏi
với mục
đích để
Người sa
lưới (Mt
16:1;
19:3;
12:18).
v.
Peirazein
cũng
thường
được
dùng chỉ
việc
trực
tiếp và
cố ý
quyến rũ
người ta
phạm
tội,
nghĩa là
cám dỗ
thực sự.
Vợ chồng
không
được từ
chối các
quyền tự
nhiên
đối với
nhau,
ngoại
trừ lúc
cả hai
đều nhất
trí,
“kẻo
Satan
cám dỗ
anh em
qua việc
mất tự
chủ” (1
Cor
7:5).
Theo
nghĩa
này,
Satan
quả là
tên
ho
peirazon,
tên
cám dỗ
thượng
thặng.
Cũng
trong
nghĩa
này, Ma
Qủy đã
cám
dỗ
Chúa
Giêsu
trong
hoang
địa (Mt
4:1-11).
Nghĩa
này tất
nhiên là
nghĩa
xấu vì
chủ ý
của hành
động là
lừa
người ta
vào chỗ
phạm
tội.
vi. Cũng
còn một
nghĩa
nữa của
peirazein
được cả
Cựu Ước
lẫn Tân
Ước sử
dụng,
tuy
không
trực
tiếp ăn
nhằm với
nghĩa ta
đang bàn
ở đây.
Thánh
Kinh hay
nói đến
việc con
người
thử
thách
Thiên
Chúa (Xh
4:7; Ds
14:22;
Is 7:12;
Mt 4:7;
Cv
15:10).
Ý niệm
đứng
đàng sau
động từ
này là
con
người
muốn coi
xem họ
có thể
tiến xa
đến mức
nào với
Thiên
Chúa. Họ
muốn xem
Người
dùng uy
quyền
của
Người ra
sao, nói
nôm na,
họ muốn
xem xem
đến mức
nào họ
không bị
trừng
phạt!
Chính vì
có quá
nhiều
nghĩa
như thế
mà các
bản dịch
đã phải
khác
nhau như
trên.
Bản thì
nghiêng
về cám
dỗ, bản
lại
nghiêng
về thử
thách.
Ai cũng
thấy rõ
Thiên
Chúa
không
thể có
hành vi
xấu
được,
nên
không
thể hiểu
rằng
Người
xúi giục
con
người
phạm tội
chống
lại
Người.
Chính ý
tưởng
căn bản
ấy đã
giúp cha
ông
chúng ta
không
dịch
“inducas”
là “dẫn
vào” mà
là “khỏi
sa”,
chớ sa
chước
cám dỗ.
Ba Điều
về Cám
Dỗ
Theo
quan
điểm
Kitô
giáo, ba
điều sau
đây có
thể nói
về cám
dỗ
i. Cám
dỗ là
phổ quát
và không
thể
tránh
khỏi, nó
là phần
thiết
yếu
trong
thân
phận làm
người.
Thành
ra,
không
một
người
nào sống
trên
trần
gian mà
lại
không
cần cầu
lời xin
này.
ii. Cám
dỗ không
nằm
ngoài kế
hoạch và
mục tiêu
của
Thiên
Chúa. Nó
là thành
phần
trong cơ
cấu sự
sống và
lối sống
mà Thiên
Chúa
dùng để
làm cho
cuộc
sống trở
thành
điều
Người
muốn. Sự
thử
thách
của cám
dỗ là
yếu tố
cấu
thành ra
tư cách
làm
người.
iii.
Trong
cám dỗ,
luôn
luôn có
một yếu
tố thử
thách.
Trong
yếu
tính, nó
luôn là
một cuộc
thử
nghiệm.
Ngay khi
là một
rù quyến
để phạm
tội, nó
vẫn là
một thử
nghiệm
về sức
đề kháng
của một
con
người.
Nên quả
là đúng
khi nói
rằng cám
dỗ không
hẳn là
một hình
phạt cho
tư cách
làm
người
cho bằng
đó là
vinh
quang
của tư
cách ấy.
Bởi qua
nó, con
người
trở
thành
lực sĩ
của
Thiên
Chúa.
iv.
Tưởng
cũng nên
thêm một
điều nữa
là bốn.
Chính sự
kiện ta
xin lời
xin này
cũng đủ
chứng
minh
rằng ta
ý thức
rõ ta
không
thể tự
mình
đương
đầu với
cám dỗ
được, mà
ta cần
một sức
mạnh
không
phải của
ta mới
có thể
thoát ra
khỏi thử
thách ấy
trong
chiến
thắng.
Khi nắm
vững
quan
điểm về
cám dỗ
trên của
Thánh
Kinh,
vấn nạn
của
chúng ta
trở nên
dễ giải
đáp hơn
nhiều.
Gần như
không
khó khăn
gì nếu
ta gán
việc cám
dỗ, hay
peirasmos,
cho
hành
động của
Thiên
Chúa; ta
dễ nhận
ra việc
cám dỗ
ấy nằm
trong sự
quan
phòng
của Chúa
như thế
nào.
Sa Chước
Cám Dỗ
Về lời
cầu xin
đầu tức
“Xin chớ
để chúng
con sa
chước
cám dỗ”,
ta thấy
phía sau
nó luôn
có ý
niệm này
là dù
hiểu thế
nào,
peirasmos
cũng
bao hàm
điều
được
tính
toán để
lấy đi
đức tin
và lòng
trung
thành
của
người
ta. Mặt
khác,
các giải
thích
đều nhất
trí
tránh hệ
luận cho
rằng
Thiên
Chúa cố
tình tìm
cách tấn
công hay
làm
thương
tổn đức
tin của
con
người.
Đôi khi
để đạt
mục đích
giải
thích
trên,
người ta
đã cố
tình
nhấn
mạnh đến
các từ
ngữ khác
nhau
trong
lời cầu
xin này.
i. Có
người đã
nhấn
mạnh tới
chữ
“vào”.
Chữ này
trong
lời kinh
tiếng
Việt
được
hiểu
ngầm. Vì
“sa” ở
đây có
nghĩa là
rơi
hay
lọt vào.
Nhưng
trong
các ngôn
ngữ
Phương
Tây, thì
chữ
“vào”
này rất
rõ.
Tiếng
Latinh
là “in”,
còn
tiếng
Anh là
“into”,
tiếng Hy
Lạp là
“eis”,
tiếng
Hi-bá-lai
là
“lidhe”,
với
nghĩa là
“vào tay
của” và
do đó
“vào
quyền
lực
của”. Ở
đây, lời
xin trên
có thể
được
diễn
dịch như
sau:
“con
biết cơn
cám dỗ
thế nào
rồi cũng
xẩy đến
với con,
vì nào
có cuộc
sống nào
mà không
bị cám
dỗ.
Nhưng
khi nó
xẩy tới,
xin Chúa
đừng bỏ
rơi con
cho nó
mặc tình
thao
túng;
xin đừng
trao con
cô thế
cho
quyền
lực của
nó; xin
ở bên
con
trong
giờ con
khốn
quẫn”.
Điều này
xem ra
không
khác lời
Chúa
Giêsu
cầu xin
cho các
môn đệ
là bao:
“Con
không
cầu xin
Cha cất
chúng
khỏi thế
gian
nhưng
xin Cha
gìn giữ
chúng
khỏi ác
thần”
(Ga
17:15).
Như thế,
đây
không
hẳn là
lời cầu
xin cho
được
miễn trừ
khỏi bị
cám dỗ
mà là
lời cầu
xin để
đừng bị
bỏ mặc
cô thế
và không
vũ khí
cho sức
tấn công
vũ bão
và quyền
lực của
nó. Nói
một cách
tích
cực, đây
là lời
cầu xin
để được
trợ giúp
trong
cơn cám
dỗ.
ii.
Thánh
Augustinô,
trong
Bài
Giảng
Trên Núi
2.9,
cũng
cùng một
giòng
suy nghĩ
như
trên.
Ngài
phân
biệt
giữa
việc
bị cám
dỗ
và bị
dẫn vào
cám dỗ.
Mọi
người
đều phải
bị cám
dỗ;
nhưng bị
dẫn vào
cám dỗ
là bị
dẫn vào
quyền
lực và
sự kiểm
soát của
cám dỗ,
nghĩa là
không
những
chịu cám
dỗ mà
còn có
thể bị
cám dỗ
khuất
phục.
Các nhà
trước
tác khác
cũng có
những
điểm dị
biệt đôi
chút về
đề tài
này.
Trong
yếu
tính,
lối giải
thích
này cho
rằng lời
cầu xin
này có ý
không
xin cho
khỏi bị
cám dỗ
mà là
xin cho
được
chiến
thắng
cơn cám
dỗ.
Origen,
khi bình
luận câu
7:1 của
Sách
Gióp với
lối dịch
Hy Lạp
coi đời
người là
một cơn
cám dỗ
liên
tục, đã
cho hay:
“Do đó,
ta hãy
cầu xin
để được
giải
thoát
khỏi cám
dỗ,
không
với
nghĩa
đừng bị
cám dỗ,
nhưng
với
nghĩa
đừng đầu
hàng khi
bị cám
dỗ… Bởi
thế, ta
nên cầu
xin
không
phải để
khỏi bị
cám dỗ,
một điều
không
thể có
được, mà
để đừng
bị đưa
vào
quyền
lực của
cám dỗ,
là điều
sẽ xẩy
ra cho
những ai
bị nó
khống
chế,
khuất
phục” (Về
Cầu
Nguyện
29.9,11).
Origen
trích
dẫn
gương
sáng của
ông
Gióp.
Theo
ông, ông
Gióp
được
giải
thoát
khỏi cám
dỗ,
không
phải vì
Ma Qủy
không
tấn công
ông;
thực tế,
nó đã
tấn công
ông tứ
phía;
nhưng
bất chấp
mọi điều
xẩy tới
cho ông,
ông vẫn
không
phạm tội
chống
lại
Thiên
Chúa, và
đã chứng
tỏ mình
là người
công
chính (Về
Cầu
Nguyện
30.1,
2). Việc
giải
thoát
như thế
không hệ
ở việc
miễn trừ
khỏi cám
dỗ,
nhưng là
việc
chiến
thắng
nó.
iii.
Thời
Giáo Hội
sơ khai,
còn một
lối giải
thích
thứ ba.
Thánh
Augustinô
cho hay
thời ấy
đã có
bản chép
tay Tân
Ước bằng
tiếng
La-tinh,
trong đó
câu trên
được
dịch như
sau:
“Đừng để
chúng
con bị
dẫn vào
cám dỗ”
(Ne
nos
induci
patiaris
in
temptationem).
Quả vậy,
đây là
lối giải
thích
của
Tertullian,
của
Thánh
Cyprian
và của
chính
Thánh
Augustinô
(Thánh
Augustinô
Bài
Giảng
Trên Núi
2.9;
Về Ơn
Kiên
Vững
6;
Tertullian
Về
Cầu
Nguyện
8;
Thánh
Cyprian
Kinh
Lạy Cha
25).
Rất có
thể đây
là lối
giải
thích
chính
xác. Bản
Tân Ước
bằng
tiếng
Syriac
dịch câu
này như
sau:
“Đừng
khiến
chúng
con lâm
cơn cám
dỗ”.
Động từ
Hi-bá-lai
có nhiều
thể rất
khác
nhau và
điều này
đúng đối
với động
từ
Hiph’il.
Động
từ này
ở
thể
nguyên
nhân
(causative
form),
với
nghĩa
khiến
người ta
phải làm
điều gì
đó, đồng
thời
cũng có
nghĩa
cho phép
họ làm
điều ấy.
Nên nếu
trong
nguyên
bản lời
Kinh,
Chúa
Giêsu
dùng thể
này thì
quả tình
lời cầu
trên hẳn
có
nghĩa:
“Xin chớ
làm
chúng
con bị
đưa hay
bị lâm
vào cơn
cám dỗ”.
Trong
trường
hợp
trên,
lời cầu
xin thực
ra là
như thế
này, nếu
ta được
phép
dùng
ngôn từ
của
mình:
“Xin gìn
giữ
chúng
con đừng
đùa dỡn
hay ve
vãn với
cơn cám
dỗ. Xin
gìn giữ
chúng
con khỏi
các hoàn
cảnh
trong đó
cơn cám
dỗ sẽ có
cơ chiến
thắng.
Xin bênh
đỡ chúng
con khỏi
các cơn
tấn kích
của cám
dỗ vốn
từ bản
nhiên
của
chính
chúng
con hay
từ sự rù
quyến
của
người
khác mà
có. Xin
bênh đỡ
chúng
con khỏi
các cơn
tấn công
của thế
gian,
của xác
thịt và
của ma
qủy”. Đó
có thể
là lời
cầu xin
để không
phải vì
sự yếu
đuối của
riêng ta
hay bởi
sự ma
quái của
người
khác mà
ta lâm
phải
hoàn
cảnh
sống
trong đó
ta phó
mình một
cách đần
độn, một
cách
không
cần
thiết
cho các
cuộc tấn
công của
cám dỗ.
Nghĩa là
ta cầu
xin Chúa
bênh đỡ
và giám
hộ đức
tin,
lòng
trung
thành và
sự trong
trắng
của ta.
Tất cả
các cách
giải
thích
trên đều
đã tránh
được
việc quy
trách
Chúa cám
dỗ chúng
ta.
Ngược
lại đã
nhấn
mạnh đến
việc xin
Chúa làm
người
bênh đỡ
và gìn
giữ ta.
Nói thế
rồi, vẫn
còn hai
điều
khác nên
để ý.
Thứ
nhất,
không
chắc gì
tâm thức
Hi-bá-lai
lại gặp
khó khăn
về lời
cầu xin
này. Vì
tuy
Thánh
Gacôbê:
“khi bị
cám dỗ,
đừng có
ai nói
rằng
mình bị
Thiên
Chúa cám
dỗ” (Gc
1:13),
nhưng
nếu đọc
hết cả
đoạn, ta
mới thấy
thật ra
Thánh
Giacôbê
muốn nói
gì. Ngài
chỉ lên
án người
luôn quy
trách
tội lỗi
riêng
của họ
cho
Chúa,
tức bắt
Chúa
phải
chịu
trách
nhiệm về
tội lỗi
riêng
của họ.
Tuy
nhiên
người
Hi-bá-lai
vẫn nghĩ
rằng mọi
sự, đúng
là mọi
sự, đều
nằm
trong
bàn tay
Thiên
Chúa,
dưới
quyền
kiểm
soát của
Người.
Chính vì
vậy, tâm
thức
Hi-bá-lai
không
thấy khó
khăn gì
khi tin
rằng cả
cơn cám
dỗ nữa
cũng có
chỗ
thích
đáng
trong kế
hoạch và
mục tiêu
của
Thiên
Chúa.
Nhìn lại
cuộc
sống
mình,
Giuse
từng nói
với anh
em mình:
“đối với
các anh,
các anh
đã tính
làm hại
tôi;
nhưng
Thiên
Chúa đã
biến cái
tính ấy
thành
điều
tốt” (St
50:20).
Cái bề
ngoài rõ
ràng là
xấu vẫn
được
người
Hi-ba-lai
tin là
được đan
kết đâu
đó vào
trong
khuôn
thước
của
Thiên
Chúa,
không có
gì, thật
sự là
không có
gì, xẩy
ra ngoài
ý muốn
của
Người.
Thứ hai,
trong
các cố
gắng
giải
thích
của ta,
rất có
thể ta
đã quá
chú
trọng
đến cái
luận lý
của thần
học, mà
bỏ qua
khá
nhiều
cái phản
ứng tự
nhiên
trong
trái tim
con
người.
Chỉ cần
dùng các
loại suy
nhân bản
hay cách
nói năng
thường
tình của
con
người,
ta cũng
thấy đôi
khi một
học trò
hay một
thể tháo
gia, dù
lúc nào
cũng yêu
kính và
tin vào
thiện ý
của thấy
hay của
huấn
luyện
viên của
mình,
nhưng
vẫn sẵn
sàng nói
với các
vị này:
“Trời
ơi, từ
từ chứ,
đừng bắt
em ráng
quá sức
chứ!”.
Thiển
nghĩ, ta
cũng có
thể xét
lời cầu
xin của
chúng ta
trong
mạch văn
này, coi
nó như
một phản
ứng
thuộc
bản năng
của con
người
biết rõ
sự yếu
đuối của
mình và
biết rõ
các hiểm
nguy của
cuộc
đời, nên
phải kêu
cứu sự
che chở
của
Chúa.
Lời kêu
cứu
thuộc
bản năng
có khác
với
những
luận suy
của thần
học.
Khỏi Sự
Dữ
Vế thứ
hai của
lời cầu
xin cuối
cùng là:
“Nhưng
cứu
chúng
con cho
khỏi sự
dữ”. Như
trên đã
nói,
nhiều
bản dịch
không
dịch “sự
dữ” mà
dịch là
“qủy dữ”
hay “ác
thần”,
một chủ
thể có
bản vị
gây nên
mọi sự
dữ.
Nguyên
ngữ Hy
Lạp quả
cho phép
cả hai
lối dịch
đó. Tuy
nhiên,
dù dịch
ra sao,
ý nghĩa
căn bản
vẫn
không
thay
đổi.
Trong
Thánh
Kinh,
qủy dữ,
thần dử
hay ác
thần
được
biết
dưới hai
danh
xưng.
i. Đôi
lúc hắn
có tên
là
Satan.
Khởi
đầu,
“satan”
không
phải là
một danh
từ
riêng,
mà chỉ
có nghĩa
là kẻ
địch thù
theo
nghĩa
thông
thường.
Và nghĩa
đó đã
được
Thánh
Kinh
dùng tất
cả bẩy
lần.
Thiên
thần
Chúa là
địch thù
của thần
Ba-an,
đứng
trực
tiếp và
ngăn
chặn
đường đi
của hắn
(Dân số
22:22).
Dù