5. Ý Cha Thể Hiện
Đọc các phúc âm, không ai
không nhất trí: thể hiện ý Chúa Cha là trung
tâm, là nét chủ yếu và là nguyên tắc điều hướng
cuộc đời Chúa Giêsu. Nhưng Phúc Âm Gioan được
coi là Phúc Âm nhấn mạnh đến điểm đó nhiều hơn
cả. Thực vậy, Phúc Âm thứ bốn đã mô tả Chúa
Giêsu như Đấng được sai đến thế gian không vì
mục đích nào khác hơn là để thể hiện ý Chúa Cha.
Phúc âm này có đoạn kể rằng:
Một ngày kia, các tông đồ để mặc Chúa Giêsu mệt
lả bên bờ giếng Sychar miền Samaria để vào làng
mua thực phẩm. Khi trở lại, các ông rất ngạc
nhiên khi thấy Thầy chẳng muốn ăn chi. Họ cho
rằng hẳn có ai đã cho Thầy đầy bụng rồi chăng.
Nhưng Người bảo các ông: “thực phẩm của Thầy là
thể hiện ý Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công
việc của Người” (Gioan 4:31-34). Ở một chỗ khác,
Người phán: “Thầy không tìm ý riêng Thầy, mà là
ý Đấng đã sai Thầy” (Gioan 5:30). Lại một câu
khác nữa: “Thầy từ trời xuống thế gian không
phải để thể hiện ý riêng của Thầy, mà là ý Đấng
đã sai Thầy” (Gioan 6:38).
Phúc âm Mát-thêu cho ta hay:
chiều hướng trên còn lên cao hơn nữa tại vườn
Diệt-si-ma-ni, nơi Chúa Giêsu kết thúc buổi cầu
nguyện thống hối của mình bằng những lời hoàn
toàn tuân phục như sau: “Tuy nhiên, đừng theo ý
Con, mà là theo ý Cha” (Mátthêu 26:39).
1.
“Phương chi chúng con”
Ý Thiên Chúa luôn chiếm một
vị trí quan trọng trong tâm thức người Do Thái.
Đối với họ, điều vĩ đại nhất ở trên đời là
Torah, Sách Luật, Giáo Huấn Thiên Chúa. Họ
coi việc vâng theo Luật là nhiệm vụ cao cả nhất
và là đặc ân cao qúy nhất của cuộc sống. Điều
qúy hơn nữa là người Do Thái không giữ Luật chỉ
vì sợ hậu quả, mà là vì lòng qúy mến Luật do
Đấng thương yêu mình ban bố. Hãy đọc Thánh Vịnh
119: “Xin cho con hiểu rõ đường lối huấn lệnh
Ngài…Con đã chọn đường chân lý; con khao khát
đợi trông quyết định của Ngài… Được Chúa thương
mở lòng mở trí, con chạy theo đường mệnh lệnh
của Ngài. Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh
chỉ, con nguyện đi theo mãi đến cùng” (các câu
27, 30, 32 & 33). “Con vui thú với mệnh
lệnh của Ngài và hết lòng yêu mến…Thánh
chỉ Ngài là khúc nhạc của con…” (các câu
47 và 54). “Con nguyện chẳng hề quên huấn lệnh
Ngài, vì nhờ đó, Ngài đã cho con được sống…Luật
pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường
bao, suốt ngày cứ suy đi gẫm lại” (các câu 93 và
97). “Vì thế, mệnh lệnh Ngài, con yêu qúy,
qúy hơn vàng, hơn cả vàng y” (câu 127). Các chữ
khao khát, vui thú, yêu mến, khúc nhạc
chắc chắn không miêu tả thái độ nô lệ đối với
Luật. Vì quả tình, từ Luật, họ có tự do: “Con sẽ
tuân giữ luật Ngài liên tục, đến muôn đời muôn
kiếp; và con sẽ sóng bước tự do, vì con đã tìm
kiếm huấn lệnh Ngài” (các câu 44 & 45). Như thế,
đối với người Do Thái, vâng theo ý Thiên Chúa,
một thánh ý đã được mạc khải qua Luật, là bổn
phận, là đặc ân, là vui thú đầu hết của cuộc đời
và là đường duy nhất tiến tới tự do đích thực.
Cả những người ngoại giáo như
phái Khắc Kỷ cũng có những khái niệm khá tích
cực về ý Thiên Chúa. Họ không coi Ngài là Vận
Mệnh (Eimarmene) mà là Quan Phòng (Pronoia). Họ
tin rằng trên đời này, tuyệt đối không có gì xẩy
ra ngoài ý Thiên Chúa. Seneca viết: “tôi từng
huấn luyện mình không chỉ để vâng theo Thiên
Chúa, nhưng để nhất trí với các quyết định của
Ngài. Tôi vâng theo Ngài vì linh hồn tôi muốn
điều đó, chứ không phải vì tôi bắt buộc phải làm
vậy” (Thư 96:2). Epictus thì cầu nguyện rằng:
“Ngài hãy dùng tôi làm bất cứ chuyện gì Ngài
muốn… Tôi là của Ngài; tôi không mong được miễn
chước bất cứ điều gì được Ngài coi là tốt; xin
hãy dẫn tôi tới bất cứ nơi nào Ngài muốn; hãy
mặc cho tôi bất cứ thứ gì hợp ý Ngài” (Nghị luận
2.16.42). Xa hơn một chút, Epictus phát biểu:
“Tôi đã trao phó tự do chọn lựa của tôi cho
Thiên Chúa. Nếu Ngài muốn tôi bị nóng sốt, thì
đó cũng là ý muốn của tôi. Nếu Ngài muốn tôi
được điều gì, thì tôi cũng muốn được điều đó.
Nếu Ngài không muốn điều ấy, thì tôi, tôi cũng
không muốn nó” (Nghị luận 4.1.89). Người Khắc Kỷ
chủ trương rằng: nếu mọi sự ở trên đời đều là
hậu quả do ý Thiên Chúa, thì việc chấp nhận ý ấy
là con đường dẫn người ta tới hạnh phúc và tự
do. Đối với họ, chấp nhận ý Thiên Chúa là tự đặt
mình vào hài hòa với toàn bộ vũ trụ; từ khước ý
Thiên Chúa là tự đập đầu vào tường đá vũ trụ,
nhất thiết sẽ tan nát, bất hạnh.
Đó là tâm tư của những người
chưa hay không nhận biết Chúa Giêsu. “Phương chi
chúng con, mà lại chẳng thương Cha Cả, vì sao?”
2.
Các Tâm Tư
Câu xin “ý Cha thể hiện”này
có thể được đọc với nhiều tâm tư tình cảm rất
khác nhau. Có người đọc nó trong một tâm tư uất
ức đắng cay, cho rằng không có lối
thoát, không còn con đường nào khác, xin theo ý
Ngài vậy. Họ bảo họ theo gương Beethoven, nhà
soạn nhạc thời danh, nhưng lúc chết, bàn tay nắm
lại cứng ngắc như muốn “thọi” Thiên Chúa đã để
ông điếc khi oái oăm ban cho ông thiên tài âm
nhạc! Cũng có người đọc nó không hẳn trong một
tâm tư cay đắng, cho bằng vì chẳng còn biết làm
gì khác hơn nên đành chấp nhận thất bại. Hoàng
Đế Julian muốn vặn ngược đồng hồ bằng cách lật
ngược lại quyết định của Constantine thừa nhận
Kitô Giáo, và cố gắng tái du nhập việc thờ
phượng cúng bái các thần minh xưa. Cuối cùng,
ông bị thương nặng ngoài chiến trường. Các sử
gia kể lại rằng khi đang nằm chờ chết, ông đã
lấy máu mình tung lên không khí mà hét lớn: “Hỡi
người Ga-li-lê, ông đã thắng rồi đó!”. Câu ấy
không hẳn như một lời tùng phục mà đúng hơn là
một chấp nhận thất bại vì không còn gì khác để
làm nữa.
Cũng có người chấp nhận ý
Thiên Chúa trong một tâm tư như bị Ngài áp đảo:
cọ quậy làm chi, cuối cùng rồi cũng phải theo ý
Ngài, vì Ngài “to con hơn”, một chấp nhận không
hẳn cưỡng ép, tủi hờn, của kẻ thua cuộc, của kẻ
bị dồn đến đường cùng, nhưng vẫn là một chấp
nhận chẳng hân hoan, vui vẻ chi. Thật khác xa
với tâm tư của Thánh Vịnh Gia, một tâm tư nói
lên yêu thương, hân hoan và an bình đầy thanh
thản và tín thác. Hay tâm tư của những người
mệnh danh là Covenanters (Giao Ước) tại Tô Cách
Lan thế kỷ 17. Richard Cameron là một trong
những người ấy. Họ bị chính phủ dùng đủ mọi thứ
cực hình cố gắng dẹp tan. Con trai ông bị bắt,
bị chặt tay. Người ta gửi đôi tay ấy cho
Richard. Ông nhận ngay ra bàn tay của con: “Đây
là bàn tay con trai tôi, đứa con yêu dấu nhất
của tôi. Đây là ý Chúa và ý Ngài thật tốt lành
thay. Ngài không bao giờ làm hại tôi và người
thân yêu của tôi”. Quả là một chấp nhận hoàn
toàn tín thác, một quyết tâm không bao giờ nghi
ngờ ý Thiên Chúa.
Không dễ gì có được một quyết
tâm như thế. Lý do tại sao? Tại vì cái tội lớn
nhất làm phát sinh ra đủ thứ tội chính là lòng
kiêu ngạo. Ta tự hào biết nhiều hơn Chúa. Nhiều
người tin rằng nếu được làm theo cách của mình,
chắc mình sẽ hài lòng hơn, nếu được tự ý sắp xếp
cuộc sống và các biến cố trong đời phù hợp với
các ý nghĩ bản thân, hẳn mọi sự sẽ êm đẹp. Bởi
thế thay vì cầu cho “ý Cha thể hiện”, họ
muốn cầu cho “ý Cha thay đổi”. Bao lâu
còn thứ kiêu ngạo này, ta khó mà đọc được lời
cầu xin trên.
Bởi thế, điều tiên quyết để
đọc lời cầu xin này, là phải nhớ Thiên Chúa là
Đấng nào. Trong Ngài, có hai điều khiến ta đọc
lời cầu xin này cách dễ dàng hơn, đó là:
i. Ta tin Chúa khôn ngoan.
Ta tin rằng trong sự khôn ngoan của Ngài,
Ngài biết hay hơn ta điều cuối cùng thực sự tốt
cho ta. Ta tin rằng chỉ có Thiên Chúa mới nhìn
ra mọi thời. Với bản tính ta, ta phải sống trong
hiện tại. Quá khứ đã thành quá khứ, không thể
làm nó sống lại được; còn tương lai, ta đâu biết
chắc mảy may. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nhìn
thấy toàn bộ khuôn thước cuộc đời và do đó, chỉ
một mình Ngài mới biết cái gì cuối cùng tốt nhất
cho ta.
ii. Ta tin Chúa yêu ta.
Đây là chỗ ta khác với người Khắc Kỷ vừa
nhắc ở trên. Họ tin rằng mọi sự đều tuân theo ý
Thiên Chúa, đúng hơn, là chính ý Thiên Chúa. Vì
thế, con người phải học để đừng quan tâm đến
việc xẩy ra cho bản thân cũng như cho người
khác. Tất cả đều là ý Thiên Chúa. Epictus, trong
Nghị Luận 1.4.111, 112 bảo rằng: bắt đầu với cái
chén bể, rồi cái áo rách, rồi cái chết của con
ngựa hay con vật qúy; và cuối cùng là cái chết
của người gần nhất và thân yêu nhất, bạn hãy
nói: “tôi bất cần, tôi bất chấp”. Đấy không phải
là thái độ của Kitô hữu.
Áp dụng câu nói “đó là ý
Chúa” một cách bất phân biệt, bừa bãi, quả là đi
ngược lại đức tin Kitô giáo của mình. Nhưng
không thiếu những người bước vào một gia đình có
con nhỏ vừa bị tai nạn giao thông cướp đi mạng
sống, có con thiếu niên tuổi trẻ chưa kịp nở rộ
đã phải lìa đời, có người chồng người vợ mắc
chứng nan y, mà cái chết sau đó để lại vợ,
chồng, con cái bơ vơ trên đời, mà vẫn thốt ra
câu: “Đó là ý Chúa”. Không thiếu những người
nghe tin tai nạn khủng khiếp trên bộ, trên biển,
trên không, một thiên tai khủng khiếp như sóng
thần chẳng hạn, mà vẫn thốt lên: “Đó là ý Chúa”.
Những chuyện ấy đâu phải ý Chúa. Ý Chúa có bao
giờ mong cho đứa trẻ ngây thơ bị cái người say
khướt cán chết trên đường phố hay một ai đó hấp
hối vì chứng nan y vốn là kẻ thù của sự sống.
Những chuyện ấy chắc chắn là những điều đi ngược
lại ý Thiên Chúa. Chúng là hậu quả tội lỗi
con người, không hẳn là tội lỗi của nạn
nhân, mà là tội lỗi của thân phận phàm nhân mà
nạn nhân là một thành phần. Chúa Giêsu đến chính
là để đánh bại những thứ đau đớn, sấu khổ, đau
thương ấy, như đã được chứng minh qua quyền lực
chữa lành đầy lạ lùng của Người.
Trong những hoàn cảnh đau
thương như trên, ta nên nói: “Đây không phải là
ý Chúa. Mà là hậu quả cách này hay cách khác tội
lỗi và sa đoạ của con người. Ông bà chẳng may
mắc vào việc này. Chúa không gửi việc này đến
ông bà đâu. Nhưng Người sẽ giúp ông bà vượt qua
cơn khốn khó này mà vẫn đứng vững, mắt mũi tỉnh
táo. Và còn hơn thế nữa, khi đã vượt qua cơn thử
thách này, ông bà sẽ mạnh mẽ hơn, thanh trong
hơn, gần gũi Chúa hơn, và nhiều khả năng giúp đỡ
người khác hơn trước đây nhiều. Vì, đối với
những người tín thác và yêu mến Ngài, Chúa có
thể làm tốt ngay cả những việc bên ngoài ý muốn
của Ngài”.
3.
Sức Mạnh Chiến Thắng
Ta cũng có thể nói: “Nếu ông
bà chịu để Chúa dùng việc này và dùng ông bà,
thì việc này, vâng, chính việc này sẽ trở nên
một phần ý Ngài”. Quả tình, một vị giảng
thuyết kia từng tâm sự là mẹ ông chết vì bệnh
ung thư cột sống sau một cơn đau đớn quá sức đến
độ gia đình ông thấy nhẹ nhõm khi cụ ra đi. Việc
cụ mãn phần đem lại buồn bã vô cùng cho gia
đình. Nhưng ông nhớ thân phụ ông nhủ với ông
rằng: “Ba biết lời giảng của con từ nay sẽ có
một âm hưởng mới”. Ông thú thực điều nhắn nhủ ấy
đúng thật, vì nhờ ơn Chúa, ông đã có được khả
năng giúp đỡ người khác vượt qua đau khổ của họ
một cách tốt đẹp, chỉ vì chính ông đã kinh qua
kinh nghiệm ấy.
Thành thử ra, khi đọc lời cầu
xin “ý Cha thể hiện”, ta không ước ao, không
mong thoát được cơn khốn khó. Và chính ở đây, ta
có bài học Diệt-si-ma-ni (Mátthêu 26: 34-46).
Chúa Giêsu quả có cầu xin cho được thóat khỏi
cơn khốn khó, nhưng với điều kiện việc ấy là ý
Chúa Cha. Ngài không thoát khỏi cơn khốn khó ấy;
nhưng được sức mạnh để vượt qua nó. Khi Ngài dạy
ta “ý Cha thể hiện”, Ngài không dạy ta xin thoát
khỏi nguy khốn; cũng không cầu để chịu đựng; mà
là cầu để chiến thắng. Ta không cầu xin để thoát
ra một hoàn cảnh, nhưng để có khả năng giáp mặt
với nó, khuất phục và đánh bại nó.
Một trong các trình thuật vĩ
đại trong Thánh Kinh là câu truyện về Shadrach,
Meshach và Abednego. Ba thiếu niên này có nguy
cơ chết trong lò lửa. Câu trả lời của họ là:
“Nếu Thiên Chúa chúng tôi thờ có sức cứu chúng
tôi thì tâu đức vua, Người sẽ cứu chúng tôi khỏi
lò lửa đang cháy phừng phục và khỏi tay ngài.
Còn nếu Người không cứu, thì xin đức vua
biết cho rằng chúng tôi cũng không phụng sự các
thần của ngài” (Đa-ni-en 3:16-18). Nếu Người
không cứu, các cậu không mong thoát khỏi, mà
mong có sức để đương đầu với hoàn cảnh, bất chấp
hậu quả ra sao.
Kết
Luận
Sự kiện đời sống khá đơn
giản. Khi ý Thiên Chúa muốn ta phải đương đầu
với một khó khăn, đau đớn nào đó và cả một hòan
cảnh thống khổ nữa, ta vẫn có thể trốn chạy khỏi
hoàn cảnh ấy. Chính Chúa Giêsu cũng vẫn có thể
quay lưng khỏi Diệt-si-ma-ni. Nhưng nếu ta trốn
chạy, chắc chắn đời ta sẽ không có hạnh phúc, vì
hạnh phúc không thể có cho người không biết giáp
mặt với chính mình và với Thiên Chúa. Trái lại,
nếu ta biết giáp mặt với nó, với hết những điều
nó đòi hỏi, ta sẽ có bình an, hân hoan, thỏa mãn
trong đời mà không một điều gì khác có hể mang
lại được. Đó là lý do Pla-tông, nhiều đời trước,
đã cho rằng hiền nhân luôn thà chịu điều xấu hơn
là làm điều xấu và đó cũng là lý do để Sách Khải
Huyền dạy rằng có cả một khác biệt lớn giữa
sự sống và hiện sinh. Do đó, rất có
thể vì chọn hiện hữu mà một người liều mất sự
sống. Đối với chúng ta, lựa chọn không hẳn giữa
sống và chết, nhưng là giữa dễ chịu và chiến
đấu, giữa thoải mái và hy sinh; rất có thể vì
chọn khoái lạc, mà ta đánh mất niềm vui, vì niềm
vui là sản phẩm việc vâng theo ý Thiên Chúa.
Vũ Văn An
Viết theo W. Barclay, The
Plain Man Looks At The Lord’s Prayer,
Fontana Books, 1964
(Còn tiếp)
Đọc
thêm:
-
Kinh Lạy Cha
-
Bối cảnh
kinh Lạy CHA
-
Nguyện danh CHA cả sáng