Tâm
niệm=> Ý
niệm=>
Suy
niệm=>
Chiêm
niệm
THÁNH
TÂM CHÚA
Trong
những
buổi
ngồi mạn
đàm với
nhau ở
Huynh
đoàn,
tôi
thường
hay bị
anh em
“truy”
về ý
nghĩa
các từ
Hán Việt
thường
dùng
trong
Phụng
vụ.
Chẳng
hạn như
sự giống
và khác
nhau
giữa
“thuyết
giáo”
với
“giảng
thuyết”,
giữa
“tiên
tri”
với
“ngôn
sứ”,
giữa
“vương
giả”
với
“vương
đế”,
giữa
“suy
niệm”
với
“chiêm
niệm”
v.v...
Những
câu hỏi
được đặt
ra nhiều
khi khá
hóc búa,
ví dụ :
“Khi
nào thì
dùng
‘thuyết
giáo’,
khi nào
dùng
‘giảng
thuyết’
?”, “Tại
sao
trước
kia dùng
'tiên
tri’,
bây giờ
lại thay
bằng
‘ngôn
sứ’ ?
Trước
thì dùng
‘vương
giả’
(trong
Luật
Sống
cũ), nay
lại viết
là
‘vương
đế’
(trong
Luật
Sống mới
tu
chính) ?
Rồi nào
là
‘vương
quyền’,
‘vương
triều’,
chữ
‘vương’
ở đây có
phải là
vua
không
?”, “Tại
sao
trong
những
giờ cầu
nguyện,
lúc thì
dùng
‘suy
niệm’,
khi lại
nói
‘chiêm
niệm’ ?”
...
Còn cái
ông bạn
tai quái
của tôi,
thế nào
cũng
giáng
cho một
chùy
thật
nặng :
“Gớm,
sao các
bác cứ
hay nói
chữ thế,
làm em
cứ rối
mù cả
lên !”.
Thực ra,
vấn đề
không
phải là
chúng ta
thích
nói chữ,
mà chỉ
vì cái
ảnh
hưởng
giao
thoa của
ngôn ngữ
giữa các
quốc gia
là một
nét đặc
thù mà
bất cứ
một quốc
gia nào
cũng gặp
phải,
không
nhiều
thì ít
(như La
ngữ ảnh
hưởng
đến ngôn
ngữ các
nước
phương
Tây,
chẳng
hạn).
Việt Nam
chịu ảnh
hưởng
nặng nề
văn hoá
Trung
Quốc,
nhất là
văn tự,
thì
trong
ngôn ngữ
việc
dùng Hán
tự cũng
là điều
đương
nhiên,
dễ hiểu.
Gọi là
từ Hán
Việt
chính là
vì những
Hán tự
đó đã
được
Việt hoá
hoàn
toàn
(viết
theo
Việt
ngữ, đọc
theo âm
Việt,
người
Việt
dùng
quen như
tiếng mẹ
đẻ, đến
độ có
thể nói
không có
một câu
văn Việt
nào mà
không có
từ Hán
Việt).
Xin đưa
một ví
dụ để
thấy
được cái
lý của
tiền
nhân
chúng ta
đã quen
dùng từ
Hán Việt
: Từ
‘tiên
tri’ chỉ
có nghĩa
là ‘biết
trước’,
nhưng
chúng ta
có thể
viết một
câu văn
như thế
này
“Khi
chịu
phép
Thánh
Tẩy,
người
Kitô hữu
được
tham dự
vào chức
vụ ‘biết
trước’
của Đức
Kitô”
được
không ?
Hay như
từ ‘ngôn
sứ’ (sai
đi nói
năng) có
thể viết
thành
“Khi
chịu
phép
Thánh
Tẩy,
người
Kitô hữu
được
tham dự
vào chức
vụ ‘sai
đi nói
năng’
của
Đức
Kitô”
được
không ?
Tôi đang
có ý
định
viết một
bài về
chủ đề
tháng
Sáu, mà
hồi nhỏ
chúng
tôi hay
gọi ngắn
gọn :
Tháng
Trái Tim
(Tháng
kính
Thánh
Tâm Chúa
Giê-su).
Ngồi vào
bàn
viết,
nhớ tới
những
buổi mạn
đàm, nên
xin bắt
đầu từ
đó.
Vâng,
chữ Tim
(từ
thuần
Việt)
khi dùng
bằng Hán
Việt thì
viết là
Tâm. Chữ
Tâm
có khi
đứng đơn
lẻ – là
một
từ đơn
(như
:
khẩu
tụng
tâm
suy,
tâm
bất điêu
trá, tri
diện bất
tri
tâm,
khẩu xà
tâm
phật, có
chủ
tâm,
định
tâm,
thiện
tâm,
ác
tâm,
tâm
bất
chính
...), có
khi đi
với một
từ khác
– một
thực tự,
một hư
tự ... –
để thành
một từ
ghép
(như
: tâm
can, tâm
cơ, tâm
hồn, tâm
huyết,
tâm lý,
tâm
niệm,
tâm sự,
tâm
thất,
tâm
thuật,
tâm
tính,
tâm
tình,
tâm
tưởng
,...).
Nói
chung,
chữ tâm
ngoài
nghĩa
đen là
quả tim,
còn được
hiểu là
điểm
chính
giữa
(trung
tâm
điểm),
điểm chủ
yếu (chủ
tâm,
chính
tâm), vì
trái tim
nằm ở
chính
giữa cơ
thể mà !
Vậy thì
“kính
Thánh
Tâm Chúa
có phải
chỉ là
kính quả
tim
(sinh lý
học) của
Chúa
không”
? Ái chà
! Vâng,
xin đừng
nổi nóng
vội, vì
câu hỏi
này
nhiều
người
bạn của
tôi (đa
phần là
không
cùng tôn
giáo) đã
đặt ra
với tôi
và tôi
cũng đã
muốn ...
nổi sùng
! Nhưng
nghĩ
lại,
thấy họ
cũng có
cái lý
của họ,
vì họ
nhìn
thấy rõ
ràng ảnh
(tượng)
Chúa (cả
Đức Mẹ
nữa) có
một trái
tim nổi
bật giữa
ngực.
Như vậy
thờ Chúa
là thờ
cả con
người
của Chúa
hay chỉ
thờ có
một trái
tim ?
Nếu chỉ
thờ trái
tim
Chúa,
sao
không
chỉ để
một trái
tim lên
bàn thờ
(giống
như bên
Cao Đài
thờ ‘con
mắt’ –
thiên
nhãn –
vậy) ?
Tôi phải
cố bình
tĩnh
giải
thích về
tính
cách
biểu
trưng
của hình
ảnh đó.
Ở đây,
có một
điểm
chung
nhất của
nhân
loại –
không
phân
biệt màu
da, sắc
tộc hay
tôn
giáo,
quốc gia
... và
là điều
tự thân,
tự phát
(không
có sự
can
thiệp
của thần
linh) –
là đều
lấy
trái tim
làm
biểu
tượng
cho
tình yêu
(tình
yêu nam
nữ,
tình
yêu
mẫu tử
– phụ
tử, tình
yêu gia
đình,
tình yêu
quê
hương
đất
nước,
tình yêu
nhân
loại, và
bao trùm
lên tất
cả là
Tình Yêu
Thiên
Chúa
dành cho
loài
người).
Tìm hiểu
kỹ thì
thấy có
lẽ tại
khi có
những
biến cố
thuộc
lãnh vực
tình cảm
(yêu
thương,
cảm
động,
giận
hờn, căm
thù …)
xảy đến
với con
người,
thì trái
tim là
điểm đầu
tiên
trong cơ
thể biểu
lộ những
phản
ứng,
những
động
thái rõ
rệt nhất
(tim đập
nhanh
hơn,
mạnh
hơn, máu
ở trái
tim như
dồn lên
đầu làm
cho mặt
mũi đỏ
bừng,
đầu óc
hồi hộp,
toàn
thân
nóng
rực, run
rẩy). Vì
thế mới
coi trái
tim là
nơi chất
chứa yêu
thương,
bộc lộ
cảm xúc,
và coi “Trái
Tim là
biểu
tượng
của Tình
Yêu”.
Còn
những
phán
đoán, lý
luận thì
không
thấy
trái tim
biểu lộ
rõ rệt
như vậy,
nên
thường
cho đó
là thuộc
lãnh vực
lý trí
nằm ở bộ
não.
Hình ảnh
trái tim
Chúa bốc
lên ngọn
lửa là ý
chỉ tình
yêu nồng
nàn toả
sáng,
đồng
thời
cũng hàm
ý Chúa
yêu
thương
loài
người
với một
tình yêu
lúc nào
cũng
thiêu
đốt
trong
trái tim
Người.
Chưa
hết,
hình ảnh
lưỡi lửa
còn là
biểu
tượng
của Thần
Khí
Chúa.
Vậy thì
hình ảnh
Trái Tim
Tình Yêu
bốc lửa
chính là
hình ảnh
Tình Yêu
Thiên
Chúa Ba
Ngôi
(Tình
yêu khơi
nguồn từ
Thiên
Chúa
Cha,
triển
khai nơi
Chúa Con
và kiện
toàn bởi
Chúa
Thành
Thần).
Khi dùng
đến tất
cả khả
năng tư
duy để
cảm
nhận,
tìm hiểu
về Tình
Yêu
Thiên
Chúa
(hoặc
một vấn
đề thuộc
phạm trù
siêu
nhiên
nào đó)
rất bao
la và
thật
trừu
tượng,
thì gọi
là
suy
niệm.
Mà nếu
chỉ
suy niệm
(về việc
Đức Chúa
Trời,
chẳng
hạn)
không
thôi thì
chắc
chắn sẽ
đến được
cái cảnh
“thiên
thần
hiện
thành
một trẻ
nhỏ
ngồi
lấy cái
vỏ hến
tát nước
biển vào
cái hang
cua”
(câu
chuyện
“suy sự
Đức Chúa
Trời”)
mà
thôi !
Và đó
chính là
điều tôi
mong
muốn
được
thưa
chuyện,
trong
tâm tình
ước
nguyện
được
“Chúa ở
trong
tim con
và con
mãi mãi
được ở
trong
Tim
Chúa”.
Khởi đầu
cho bước
đường
tìm hiểu
(suy
niệm),
thường
có hai
điểm
xuất
phát :
Ý
niệm
(từ đầu
óc) và
Tâm
niệm
(từ trái
tim).
Nêu lên
hai điểm
cốt để
phân
biệt hai
lãnh vực
lý trí
và tình
cảm
thôi,
chứ thật
sự thì
nó chỉ
có một
điểm
xuất
phát duy
nhất :
bộ não.
Còn trái
tim (về
mặt sinh
lý học),
chỉ
thuần
túy là
một cái
bơm –
bơm máu
nuôi cơ
thể –
không
hơn
không
kém. Tự
nhiên
thấy
manh nha
một ý
niệm về
một vấn
đề nào
đó, bộ
não bắt
đầu hoạt
động
bằng
cách
điều
khiển
các giác
quan tìm
tòi
trong
môi
trường
sống,
trong
thiên
nhiên,
đồng
thời với
việc moi
móc
trong
tiềm
thức,
trong tư
duy để
cố gắng
hiểu cho
được vấn
đề. Từ
ý
niệm,
ta đã
buớc
sang
suy niệm.
Đọc Kinh
Thánh
(Tân Ước
hay Cựu
Ước), ai
trong
chúng
ta mà
chẳng
có
những
giờ
phút
suy niệm
? Nhưng
nếu chỉ
là đọc
vì bổn
phận, vì
bắt buộc
hoặc do
thói
quen thì
dù có
những
phút
thinh
lặng kéo
dài cũng
khó mà
làm cho
cái đầu
óc của
chúng ta
hoạt
động
được,
hoặc giả
có hoạt
động
cũng chỉ
uể oải
mà thôi,
thiếu
hẳn sự
say mê
cần có
(vậy thì
– ở đây
– có
cần phải
lặp lại
: ‘tĩnh
tâm’
rất, rất
cần phải
‘động
não’
?).
Không
say mê
với công
việc,
điều tất
yếu sẽ
đến với
một kết
quả hời
hợt, tơ
lơ mơ,
không
được như
ý – nếu
không
muốn nói
là thất
bại hoàn
toàn. Vì
thế nên
tôi thấy
câu nói
của
Khổng Tử
“Công
dục
thiện kỳ
sự, tất
tiên lợi
kỳ khí”
(người
thợ muốn
hoàn
thành
tốt công
việc của
mình,
thì
trước
hết phải
biết
trau
giồi khí
cụ cho
thật sắc
bén)
cũng vẫn
rất đúng
trong
trường
hợp này.
Tiên vàn
phải say
mê đã,
rồi mới
tới được
(chuyên
cần)
trau
giồi khí
cụ cho
thật tốt
và hẳn
nhiên
thành
quả sẽ
thật khả
quan.
Vâng,
Say mê
-> Trau
giồi khí
cụ ->
Kiên
nhẫn làm
việc =>
Thành
công.
Thế với
chúng ta
thì sao
? Tôi
hằng
mong
rằng khi
tôi đọc
và suy
niệm Lời
Chúa,
tôi luôn
có sự
say mê ;
nói cách
khác,
tôi muốn
tìm đến
Lời Chúa
bằng
chính
cái
Tâm
của
mình,
nhiên
hậu mới
dùng đến
lý trí
để hiểu.
Vì thế,
nên xin
đi từ
Tâm
niệm.
Vâng,
Tâm niệm
phải
được
hiểu là
‘những
suy nghĩ
trong
lòng’
(tư
duy, tư
tưởng),
chứ
không
thể là ‘quả
tim nói
lẩm bẩm’
(theo
một
nghĩa
khác của
chữ ‘niệm’
có nghĩa
là ‘nói
lẩm bẩm’
– vd
: niệm
Phật,
niệm chú
v.v...).
Cần có
một nỗi
say mê
mới chịu
khó cất
công tìm
hiểu
(suy
niệm).
Tắt một
lời,
phải
yêu
thích
đã. Phải
chăng
cái gốc
của vấn
đề vẫn
là
Yêu
(chữ
Yêu
viết
hoa) ?
Mà
Yêu
thì ai
chẳng rõ
điểm
xuất
phát hẳn
phải từ
trái tim
: Tâm.
Vâng,
khởi từ
Tâm, sẽ
có được
sự say
mê với
công
việc. Có
Tâm
niệm
thì sẽ
hình
thành
được
Ý niệm
để
chuyển
thành
Suy
niệm.
Vấn
đề đã
rõ,
nhưng
khổ một
nỗi, tôi
lại là
con
người
– một
con
người
với đầy
đủ những
hỉ, nộ,
ái, ố
... –
một con
người
luôn
muốn
được đi
từ những
chứng
cứ,
những
hình ảnh
cụ thể,
rồi mới
đến với
những ý
niệm
trừu
tượng.
Vậy thì
những
biểu
tượng
quả thật
rất cần
thiết
cho suy
tư của
tôi.
Vâng,
không gì
bằng tôi
được
chiêm
ngắm
(nơi
biểu
tượng)
để
suy niệm
(về
đối
tượng).
Rõ ràng
Chiêm
niệm
là điều
kiện ắt
có và đủ
để tôi
hiểu rõ
được vấn
đề. Viết
tới đây,
tôi chợt
nhớ đến
câu
chuyện
do
Linh mục
Phêrô
Nguyễn
Văn Khảm
(hiện là
Giám Đốc
Trung
Tâm Mục
Vụ TGP
Sài Gòn)
kể trong
một buổi
tĩnh tâm
(cách
đây
khoảng
gần 20
năm) :
“Nhân
một cuộc
rước tôn
vinh
Thánh
Giá
trong
một trại
phong,
có Đức
Giám mục
phụ
trách
Giáo
phận về
chủ tế.
Chuẩn bị
rước,
Cha linh
hướng
và các
Tu sĩ
phụ
trách
chăm sóc
trại
phong sợ
hết hồn
khi thấy
các trại
viên để
lên kiệu
một cây
Thánh
giá, mà
trên đó
là tượng
Chúa
chịu
nạn,
ngoài
những
dấu đinh
và lưỡi
đòng,
toàn
thân
Chúa còn
bị lở
lói, máu
mủ nhơ
nhớp.
Nhìn kỹ
hơn, hai
bàn tay
và hai
bàn chân
Chúa ...
bị cụt
gần hết
ngón !
Đúng là
hình ảnh
Chúa bị
bệnh
phong
trầm
trọng
rồi !
Thế là
Cha linh
hướng
nổi trận
lôi
đình,
đòi tìm
người
tạc
tượng
đến để
khiển
trách và
sẽ ra
lệnh
không
được
rước để
thay vì
tôn vinh
Chúa lại
làm một
việc bêu
riếu như
vậy. Đến
tai Đức
Giám mục
thì ngài
lại tươi
cười
khen bộ
tượng
rất sinh
động và
cho phép
cuộc
rước bắt
đầu. Mãi
tới bài
giảng
trong
Thánh Lễ
sau đó,
Đức Cha
mới khen
ngợi tác
giả đã
diễn tả
thật tài
tình
tinh
thần
Phúc Âm,
vì ‘Như
thế là
đúng như
lời tiên
tri
I-sa-i-a
rằng :
Người đã
chịu lấy
tàn tật
của
chúng
ta, và
gánh lấy
bệnh
hoạn của
chúng
ta’
(Mt
VIII,
17)”.
Vâng,
càng
thấy gần
gũi thân
thiết
(nhất là
lại được
hoá thân
vào với
đối
tượng)
thì càng
có những
cảm nhận
sâu sắc
về đối
tượng
mình
thương
yêu, qúy
trọng,
và càng
thấy sự
hiện
diện của
đối
tượng là
có
thực
(chứ
không
phải
mình nằm
mơ) và
thật
cần
thiết.
Điều này
minh
chứng
Chúa
luôn ở
trong và
đồng
hành với
chúng ta
mọi
nơi mọi
lúc. Hoá
cho nên
tôi cứ
muốn có
một công
thức bất
di bất
dịch cho
tôi nơi
lãnh vực
này : [Tâm
niệm =>
Ý niệm
=> Suy
niệm =>
Chiêm
niệm =
Đức Tin
trưởng
thành].
Vâng,
tôi theo
Chúa
không
phải vì
tôi được
rửa tội
từ lúc
mới lọt
lòng
(Đạo
truyền
thống),
không
phải vì
muốn lấy
được vợ
(chồng)
đẹp +
khôn
ngoan +
tài giỏi
(Đạo
khai
thác),
càng
không
phải để
... dựa
hơi thần
quyền mà
sống
(Đạo cơ
hội) ...
Ngày
nay, tôi
đã có
trí
khôn,
tôi đã
trưởng
thành,
tôi đã ý
thức rất
rõ tôi
theo
Người vì
tôi yêu
Người và
được
Người
yêu bằng
cả Trái
Tim
thánh
thiện
nồng
cháy đến
nỗi đã
hy sinh
cả mạng
sống cho
tôi.
Chính
bởi tự
trái tim
tôi thúc
đẩy tôi
suy tư,
tìm
hiểu, để
tôi đến
được với
Người,
được
chạm tay
vào áo
Người và
nghe
Người
nói :
“Hỡi
con, đức
tin của
con đã
chữa
lành
con”
(Mt 9,
22).
Tháng 6
– tháng
kính
Thánh
Tâm Chúa
– chúng
ta hãy
xin cho
bằng
được
“Trong
Trái tim
Chúa yêu
muôn
đời, con
xin được
một chỗ
nghỉ
ngơi,
nhỏ bé
thôi,
nhỏ bé
thôi...”
(“Trong
tim
Chúa” –
Phanxicô
– Thánh
Ca Cộng
Đồng).
Mà không
chỉ
trong
tháng 6
hàng năm
thôi
đâu, hãy
xin cho
được
suốt đời
như vậy.
Muốn
được
thế, còn
đợi chi
mà không
tâm
niệm
“Lạy
Chúa,
xin ban
cho con
trái tim
tinh
tuyền,
để con
luôn
luôn cao
dâng tâm
tình
kính mến
...”
(“Trái
tim tinh
tuyền” –
Tv 50 –
TCCĐ).
Tôi ơi !
Hãy mạnh
dạn gạt
bỏ “cái
tôi” vốn
dĩ rất
đáng
ghét của
bản
thân, mà
tìm đến
Lời Chúa
bằng
chính sự
khao
khát
trong
Tim
mình,
nhiên
hậu sẽ
chiêm
niệm
để
quyết
tâm
giành
cho kỳ
được một
chỗ nhỏ
bé thôi,
khiêm
nhượng
thôi,
trong
THÁNH
TÂM
NGƯỜI.
JM. Lam
Thy Đinh
Văn Diệm