KHÓC HAY
CƯỜI ?
Trong
một lần
ngồi
chuyện
vãn với
một vị
linh
mục, tôi
được
nghe kể
về một
bài
giảng
của
ngài.
Sau phần
chia sẻ
về bài
Tin Mừng
trong
Thánh lễ
hôm đó,
đến phần
liên hệ
thực
tiễn,
ngài có
nêu lên
hình ảnh
đối
nghịch
giữa
hoàn
cảnh với
thân
phận con
người
khi chào
đời. Đó
là hình
ảnh
những
người
thân nở
những nụ
cười
thật
tươi,
vui mừng
chào đón
một nhân
tố mới
của gia
đình,
trong
khi
chính
bản thân
người
được
chào đón
thì lại
… khóc.
Cất lên
“tiếng
khóc
chào
đời”
thay vì
“tiếng
cười”,
phải
chăng
con
người đã
thấy
trước
được
cuộc đời
là bể
khổ, là
tục luỵ,
là trần
ai, là
trần
gian,
trần thế
… ? Phải
chăng
con
người
phải
chấp
nhận một
thân
phận bi
đát, một
thân
phận tro
bụi, bọt
bèo quay
lông lốc
trong
cái vòng
xoay của
số mệnh,
với một
vốn
liếng là
tấm thân
trần
trụi,
mỏng
giòn ?
Đặt ra
một lô
những
câu hỏi
có vẻ
màu mè,
triết lý
vụn,
chắc
không
khỏi lại
được
nghe lời
của cụ
cố Hồng
trong
“Số Đỏ”
của Vũ
Trọng
Phụng :
“Biết
rồi… Khổ
lắm… Nói
mãi…”
À, vâng
! Tôi
rất tâm
đắc với
câu
chuyện
của vị
linh
mục,
nhưng
không
phải ở
chỗ
“Biết
rồi… Khổ
lắm… Nói
mãi…”
nêu
trên
đâu, mà
nó lại
nằm ở
phần
cuối bài
giảng
kia.
Phần
cuối,
ngài
khuyên
thính
giả,
nhất là
giới
trẻ, là
“hãy
làm sao
cho đến
khi từ
giã cỏi
đời,
trong
khi mọi
người
thân
khóc
lóc, thì
cái
người
được
tiễn đưa
– được
thương
khóc ấy
– lại …
mỉm cười
từ biệt”.
Khóc
chào đời
và cười
từ giã
đời
(được
vui mừng
đón tiếp
thì
khóc, mà
được
ngậm
ngùi
tiễn đưa
lại
cười),
ấy mới
là cái
nghịch
lý đáng
khuyên
một vòng
tròn đỏ
–
không,
phải là
hai ba
vòng
tròn đỏ
mới xứng
(giống
như các
cụ đồ
nho xưa
đọc
sách,
bắt gặp
những
từ,
những ý
“đắt
giá”
–
những
“mắt
thơ”
(thi
nhãn)
chẳng
hạn –
thì liền
vỗ đùi
đánh bốp
một cái
và cầm
bút
“khuyên”
liền một
vòng
tròn đỏ
vào chỗ
đắc ý
ấy).
Sao thế
nhỉ ?
Tôi vẫn
còn nhớ
trong
một bài
viết tôi
có nhắc
đến
“thân
phận con
người
trong
vòng
xoay số
mệnh”
(câu
chuyện
đổ thừa
tại Chúa
“một
sợi tóc
trên đầu
rớt
xuống
cũng do
ý Chúa
định !”),
với hàm
ý chứng
minh
được
rằng :
“con
người
được tự
do,
không lệ
thuộc
hoàn
toàn vào
cái được
gọi là
số mệnh,
xin đừng
đổ thừa
tại Chúa
về những
hành vi
do chính
mình lựa
chọn và
thưc
hiện”.
Vậy thì
tại sao
ta lại
không
thể chọn
cho mình
một lối
sống,
một cách
sống, để
đến cuối
đời ta
mỉm cười
mãn
nguyện
thay vì
phải
khóc lóc
ăn năn,
hối tiếc
? Nếu
coi đời
là bể
khổ, tại
sao ta
lại
không
nghĩ
rằng đó
chính là
thập giá
Chúa ban
tặng cho
ta, để
ta có
cái mà
vác đi
theo
Người (“hãy
từ bỏ
chính
mình,
vác thập
giá mình
mà theo
Thầy” –
Mc
8, 34) ?
Và khi
đã hoàn
tất cuộc
lữ hành
trần thế
vác thập
giá theo
Đức Kitô
(như xưa
Đức Kitô
hoàn tất
cuộc khổ
nạn trên
thập
giá,
chiến
thắng
vinh
quang sự
chết,
đem lại
sự sống
đời đời
cho
chúng
ta), ta
lại
không
thể mỉm
cười mãn
nguyện ?
Tôi cứ
nhớ mãi
những ca
từ trong
bài
thánh ca
“Con
đường
Chúa đã
đi” của
Văn Chi
:
“Lạy
Chúa !
Xin cho
bước đi
với
Ngài,
xin cho
con cùng
vác với
Ngài
thập giá
trên
đường
đời con
đi. Lạy
Chúa !
Xin cho
con đóng
đinh với
Ngài,
xin cho
con cùng
chết với
Ngài, để
được
sống với
Ngài
vinh
quang”.
Thấm
thía lắm
! Vậy
thì mỉm
cười là
đúng quá
đi chứ !
Còn càng
nên cười
như
Trình
Giảo Kim
xưa nữa
kia
(cười
thật
sảng
khoái,
cười đến
sặc sụa,
cười đến
ngất
xỉu, rồi
… “đi”
luôn).
Nhưng –
lại
nhưng
mất rồi
– để
được mỉm
cười mãn
nguyện
khi từ
giã cõi
thế, kể
cũng gay
go lắm !
Nhất là
khi ghé
mắt nhìn
lại xung
quanh,
thấy
những
người
thân sụt
sùi nhỏ
lệ khóc
thương,
nhìn lại
ngôi nhà
“hoành
tráng”
mà mình
mới xây
dựng
được,
nhìn lại
cái “xế
hộp” đắt
tiền mới
tậu, thì
lại thấy
thương
thương
tiếc
tiếc cái
“bể khổ”
thế nào
ấy,
không
thể tả
được
(nào là
“vợ đẹp
con
khôn”,
nào là
“nhà cao
cửa
rộng”,
nào là
“mũ áo
xênh
xang”,
“lên xe
xuống
ngựa”,
“mâm cao
cỗ đầy”,
“sơn hào
hải vị”
v.v… và
v.v…).
Ôi chao
! Khóc
hay cười
? Cười
hay mếu
đây ?
Tâm đắc
với câu
chuyện
của vị
linh
mục, tôi
bị sa
vào cái
mê đồ
“triết
lý vụn…
khóc
khóc
cười
cười”,
đến nỗi
lúng
túng
quên cả
lối ra,
không
biết
mình
đang
định
viết về
cái gì
nữa !
Cắm cúi
nhìn mãi
vào cái
keyboard
của
computer,
thấy mỏi
cả mắt,
ê cả
lưng,
vươn vai
ngẩng
đầu
“diện
bích”,
bắt gặp
bài thơ
“Xuân
tứ” dán
trên
tường
(làm từ
đầu năm
Mậu Tý –
2008)
với cặp
đề “Lại
một mùa
Xuân nữa
tới kề.
Một mùa
Xuân nữa
sắp qua
đi”.
À, thì
ra thế !
“Xuân
đang tới
nghĩa là
Xuân
đang
qua.
Xuân còn
non
nghĩa là
Xuân đã
già”
(Xuân
Diệu). Ở
cái
ngưỡng
“thất
thập cổ
lai hy”
đã được
kể là
già chưa
? Mà
“trẻ thì
chỉ
thích
hướng
tới
tương
lai, còn
già thì
lại
khoái
hồi
tưởng dĩ
vãng”,
nên chi
nhìn lại
cái cõi
thế lắm
chuyện
này, kể
cũng
“hợp lẽ
Trời”.
Cái cõi
thế ba
vạn sáu
ngàn
ngày
tưởng
đâu
chừng
dài lắm,
mà thật
ra nó
cũng chỉ
là “ba
vạn sáu
ngàn
ngày là
mấy”,
cho nên
mới có
“cảnh
phù du
trông
thấy
cũng nực
cười”
(Nguyễn
Công
Trứ).
Cái
“bóng
câu qua
cửa sổ”
ấy, nếu
có dịp
nhìn
lại,
chúng ta
sẽ thấy
mình
giống
hệt
những
trinh nữ
trong
việc
chuẩn bị
dầu đèn
chờ đón
tân
lang,
chúng ta
sẽ thấy
những
nén bạc
ông chủ
trao cho
đã sinh
lợi được
bao
nhiêu
(hoặc
giả vẫn
còn
nguyên
hay đã
bị tiêu
hao
hết),
chúng ta
sẽ thấy
cái hạt
giống là
chính
con
người
của
chúng ta
đây đã
được
gieo vào
miếng
đất màu
mỡ tốt
tươi hay
khô cằn
sỏi đá
hoặc gai
góc um
tùm ?
Đến lúc
đó – và
chỉ đến
lúc đó
thôi,
cái lúc
mà người
đời
thường
nói là
“cái
quan
luận
định”
(đậy nắp
quan tài
rồi, mới
bàn luận
định
đoạt
được) ấy
– chúng
ta chỉ
có thể ở
vào một
trong
hai
trường
hợp :
KHÓC
hoặc
CƯỜI.
Không
còn kịp
để đi
mua thêm
dầu,
không
còn kịp
để làm
lại cuộc
làm ăn
bắt đầu
từ một
nén bạc,
hoặc nhổ
gốc đem
trồng
vào
miếng
đất màu
mỡ được
nữa. Thế
thì tại
sao ngay
trong
lúc này,
ngay
trong
lúc
chúng ta
còn đủ
thời
gian
nhìn lại
chính
con
người
thực của
mình, ta
không
chuẩn bị
dầu đèn
cho chu
đáo, đem
nén bạc
ra mà
chí thú
làm ăn
cho sinh
lợi,
hoặc
chăm
bón, cải
tạo cho
mảnh
đất
thành
màu mỡ
tốt tươi
?
Vâng và
cũng
không
phải vô
tình,
khi – về
mặt xã
hội –
các cụ
ta đã đề
ra công
tác
“tổng
kết cuối
năm”,
“kiểm
điểm
cuối
năm”, để
mà
“hoạch
định
tương
lai”.
Nên lắm
chứ !
Nhất là
với
những
Kitô
hữu,
những
dịp cuối
năm là
những
dịp để
chúng ta
nhìn lại
mình mà
tự hoàn
thiện.
Chúng ta
hãy coi
lại
trong
năm vừa
qua,
chúng ta
đã làm
đuợc
những gì
trong sứ
vụ tông
đồ,
trong
công tác
hiệp
thông,
trong
hành
trình
rao
giảng
Tin Mừng
Cứu Độ ?
Tắt một
lời,
chúng ta
đã sống
chứng tá
bằng đời
sống
Kitô hữu
đích
thực ra
sao ? Ở
đây
không
phải là
“báo cáo
thành
tích”
với Chúa
(căn
bệnh
trầm kha
của
thời
đại, của
xã hội
hôm
nay),
nhưng
cũng cần
tìm ra
được
những ưu
điểm để
phát
huy, rồi
từ đó
biết
mạnh dạn
sửa chữa
những
khuyết
điểm còn
tồn tại.
Chúng ta
chỉ có
thể tự
hoàn
thiện,
đừng
trông
chờ vào
bất cứ
ai khác.
Các
trinh
nương
khờ dại
đừng ỷ
lại vào
sự giúp
đỡ của
các
trinh nữ
khôn
ngoan.
Đừng
mong
những
người từ
một lạng
vàng,
một nén
bạc, họ
đã làm
ra bạc
muôn,
vàng
khối,
thì họ
có thể
san sẻ
cho.
Chẳng ai
giúp
được
chúng ta
đâu. Cái
vốn để
mua sự
nên
thánh –
cái vốn
đạo đức
thánh
thiện
công
chính…
trong
mỗi con
người
chúng ta
– chúng
ta có
thể đem
sẻ bớt
cho ai
được
không ?
Tất
nhiên
cái vốn
đó không
phải và
không
thể là
tiền của
vật
chất, để
chúng ta
có thể
đem làm
việc bác
ái từ
thiện,
hoặc
mua bán
đổi chác
như khi
ở trần
gian.
Ngay đến
những
lời cầu
nguyện
của
những
người
thân,
lúc đó
chúng ta
cũng
không
thể
hưởng
được,
nếu
chúng ta
không
được
đứng ở
bên phải
Chúa vào
ngày
cánh
chung
hoặc ít
ra cũng
còn cơ
hội vào
nơi
thanh
luyện
(bởi chỉ
có ở nơi
thanh
luyện
mới còn
trông
chờ được
vào lời
cầu
nguyện
của tha
nhân mà
thôi).
Vâng,
chính
lúc đó,
chúng ta
chỉ
trông
nhờ vào
mức độ
hoàn
thiện
của
chính
bản thân
trong
thời
gian còn
… “tại
thế”, để
có thể
vui cười
mãn
nguyện
hưởng
thành
quả gặt
hái
được,
hoặc sẽ…
khóc lóc
nghiến
răng
trong
chốn tối
tăm khổ
sầu.
Mở đầu
cho một
năm là
mùa
Xuân,
nhưng mở
đầu cho
một năm
Phụng vụ
(mùa
Vọng)
lại vào
tháng
cuối năm
công
lịch
(mùa
Đông).
Tại sao
lại
không
khởi đầu
năm
Phụng vụ
vào
chính
ngày Lễ
Giáng
Sinh như
khởi đầu
cho một
cuộc đời
là từ
ngày
người ấy
cất
tiếng
khóc
chào đời
? Chắc
có lẽ ai
cũng
nghĩ
rằng Đức
Kitô
sinh vào
ngày
25/12 và
trước đó
4 tuần
Hội
Thánh
dành cho
mùa Vọng
hàm ý
“mùa
trông
đợi Chúa
đến” từ
ngàn xưa
(4.000
năm
tượng
trưng
trước
công
lịch).
Mấu chốt
vấn đề
chính ở
điểm ấy.
Con
người
cất
tiếng
khóc
chào đời
tức là
đã biết
lo rồi
đấy. Hãy
biến cái
lo ấy
thành
hành
động để
chuẩn bị
hành
trang
bước vào
cuộc
sống.
Vâng, ý
nghĩa vô
cùng khi
mở đầu
năm
Phụng vụ
là mùa
Vọng.
Vậy thì
xin hãy
coi mở
đầu cuộc
đời là
mùa Vọng
cho cuộc
sống. Sự
chuẩn bị
cho ngày
chào đời
của một
con
người
suốt 9
tháng 10
ngày
(nào là
khám
thai
định kỳ,
siêu âm
xét
nghiệm,
nào là
dưỡng
thai,
dưỡng
mẫu, sắm
sửa tã
lót áo
quần
v.v… và
v.v…) há
chẳng
phải là
những
ngày
trông
đợi (mùa
Vọng) đó
sao ?
Còn cuối
đời ? Ấy
lại là
thời
gian
cuối năm
công
lịch, mà
công
lịch –
nếu tôi
nhớ
không
lầm –
thì lại
lấy ngày
sinh của
Đấng Cứu
Thế làm
một cái
mốc để
tính lại
thời
gian
lịch sử
cho mãi
đến thời
thượng
cổ, thời
tối cổ ;
đồng
thời
cũng là
cái mốc
khởi
điểm cho
tương
lai. Vậy
thời
gian
trước
Công
nguyên
há chẳng
phải là
mùa Vọng
cho Công
nguyên –
nói khác
đi, thời
Cựu Ước
chính là
mùa Vọng
của thời
Tân Ước
– đó sao
?.
Cuối năm
công
lich
(cuối
tháng 11
+ tháng
12) là
mùa Vọng
cho năm
Phụng vụ
mới,
đồng
thời
cũng là
mùa Vọng
cho Năm
Mới (mùa
Xuân).
Thời
gian con
người
còn
trong
bụng mẹ
là mùa
Vọng cho
ngày
chào
đời, vậy
thì tại
sao
những
ngày
cuối đời
không
thể là
mùa Vọng
cho đời
sau ?
Hơn thế
nữa, tại
sao lại
không
coi cả
cái cuộc
sống tạm
bợ nơi
trần thế
này là
MÙA
TRÔNG
ĐỢI CHO
CUỘC
SỐNG MAI
SAU ? Và
nếu quả
thực như
thế thì
hãy
chuẩn bị
chu đáo
dầu đèn,
hãy mang
vàng ra
mà kinh
doanh.
“Kinh
doanh” ư
? Vâng,
cách
“kinh
doanh
vàng”
hiệu quả
nhất là
“Nói với
Chúa,
với Mẹ”
bằng
Kinh Mân
Côi, và
“Nói về
Chúa”
bằng cả
tấm
lòng,
bằng cả
cuộc đời
của một
người
bạn chân
chính
của Đức
Giêsu
Kitô
(“Anh em
là bạn
hữu của
Thầy,
nếu anh
em thực
hiện
những
điều
Thầy
truyền
dạy” –
Ga 15,
14).
Chắc
chắn chỉ
có như
vậy thì
mới mong
đến ngày
‘bái
bai’ cõi
thế,
chúng ta
sẽ cười
rạng rỡ,
cười mãn
nguyện.
Ôi chao
! Thật
vô cùng
thú vị
khi phải
“cất
tiếng
khóc
chào
đời”,
nhưng
rồi sẽ
“nở nụ
cuời giã
biệt cõi
thế”.
Xin hãy
bắt đầu
ngay từ
bây giờ,
ngay từ
hôm nay
bước vào
MÙA VỌNG
– MÙA
TRÔNG
ĐỢI CHÚA
ĐẾN –
MÙA
TRÔNG
ĐỢI CUỘC
SỐNG
VĨNH CỬU
mai sau.
JM. Lam
Thy Đinh
Văn Diệm
\