Tháng
Hoa và
Mẹ tôi.
Tháng
Năm,
tháng
Hoa dâng
kính Đức
Mẹ lại
về, làm
tôi nhớ
đến Mẹ
tôi và
liên
tưởng
đến một
kỷ niệm
đẹp thời
niên
thiếu.
Hồi đó,
mỗi năm
đến
tháng
Hoa, đối
với tôi
là cả
một
tháng
tìm tòi
sáng
kiến để
trang
trí bàn
thờ Đức
Mẹ. Mẹ
tôi giao
“công
tác”
trong
tháng
Năm cho
tôi là
trang
trí bàn
thờ,
chưng
hoa đèn
nến cho
bốn lần
đọc kinh
dâng
kính Đức
Mẹ tại
nhà tôi.
Công
việc
không có
gì là to
lớn cho
lắm,
nhưng
tôi cũng
muốn
chứng tỏ
cho gia
đình,
nhất là
Mẹ và bà
con
trong
xóm biết
đến khả
năng “có
hoa tay”
của tôi.
Tôi dặn
Mẹ mua
đủ thứ
giấy
màu,
đèn,
nến…để
tuỳ nghi
xử dụng.
Tôi cắt
giấy bìa
cứng làm
sườn rồi
dán giấy
màu lên.
Lúc thì
làm theo
kiểu nhà
thờ có
mái vòm,
lúc kiểu
khác như
cửa tam
quan,
hay có
lúc như
dáng một
chiếc
thuyền.
Thực ra
cũng
không
phải là
sáng
kiến của
tôi, mà
là
“copy”
lại
những
kiểu mẫu
trang
trí bàn
thờ Đức
Mẹ trong
nhà thờ,
hay dựa
theo
những
bức ảnh
trong
báo Đức
Mẹ Hằng
Cứu
Giúp,
báo Trái
Tim Đức
Mẹ rồi
sửa đổi
đôi chút
cho dễ
làm.
Buổi
chiều
tối hôm
đọc
kinh,
tôi đã
chuẩn bị
xong bàn
thờ, chỉ
còn kiếm
ít hoa
chưng
lên nữa
là xong.
Tôi lấy
chiếc xe
đạp cũ
kỹ chạy
một vòng
đến nhà
mấy anh
em bà
con hàng
xóm, xin
mỗi thứ
một ít
rồi đem
về chưng
lên bàn
thờ.
Nhìn tôi
loay
hoay xếp
dọn, Mẹ
chỉ mỉm
cưòi
không
nói gì
cả, tôi
hiểu là
Mẹ rất
bằng
lòng.
Sau giờ
đọc
kinh, bà
con còn
ngồi lại
chuyện
trò giải
trí,
uống
bát nước
trà, ăn
miếng
kẹo
lạc…Lần
nào tôi
cũng
được bà
con khen
lấy khen
để về
cái bàn
thờ Đức
Mẹ. Tôi
biết là
họ khen
thực chứ
không
phải là
nịnh mà
thôi, vì
tối nào
trong
Tháng
Năm, tôi
và em
gái cũng
theo Mẹ
đi đến
từng nhà
để tham
dự giờ
đọc
kinh,
hầu hết
nhà nào
cũng chỉ
trang
trí hoa
đèn nến
mà thôi,
chứ
không
trang
trí bàn
thờ một
cách đặc
biệt đầy
“màu
sắc,
kiểu
cách”
như nhà
tôi cả.
Tôi
không
biết
chắc là
Mẹ có
chủ tâm
gì
không,
nhưng
quả tình
sau mấy
năm tích
cực
trong
công tác
đó, thì
lòng
sùng
kính Đức
Mẹ trong
tâm hồn
tôi tăng
triển
lên rất
nhiều.
Rồi đi
đâu, tôi
cũng xem
chừng
bàn thờ
Đức Mẹ
để “lấy
kiểu”,
để ý đến
những
bài suy
niệm,
những
bài
thánh ca
về Đức
Mẹ và
ngay cả
chương
trình
một buổi
đọc kinh
rồi về
“học
lại” cho
Mẹ nghe.
Mẹ sẵn
sàng làm
theo ý
tôi và
còn
khuyến
khích
tìm hiểu
thêm
nữa.
Càng lớn
lên, tôi
càng
nhận ra
người Mẹ
của tôi
thật
tuyệt
vời, từ
trong
cách cư
xử, xếp
đặt việc
nhà đến
tình
thương
dành cho
con cái.
Tuy vậy
cuộc đời
của Mẹ
đầy gian
nan và
đau khổ.
Như bao
cô thôn
nữ khác,
Mẹ lấy
chồng
chưa
tròn hai
mươi
tuổi, và
ở xã hội
thời bấy
giờ vào
thập
niên Bốn
Mươi ở
miền
Bắc,
Việt
Nam, Mẹ
cũng
chiụ bao
nhiêu sự
cực nhọc
từ công
việc
ruộng
đồng đến
cáng
đáng gia
đình nhà
chồng.
Mẹ luôn
âm thầm
chịu
đựng
ngay cả
những
bất công
phi lý
của cảnh
Mẹ chồng
nàng
dâu, anh
chị em
nhà
chồng mà
ca dao
Việt Nam
đã diễn
tả một
cách rõ
ràng
chẳng úp
mở:
“Một
trăm ông
chú
không
lo,
“Lo vì
một nỗi
mụ O nỏ
mồm”!…
Thế rồi
chính
biến
1954 xảy
ra, sau
những
khó
khăn,
cha mẹ
tôi đã
theo
chân
được
nhiều
người
khác bỏ
làng
xóm, lên
đường
vào Nam
với trên
tay hai
đứa con
thơ. Cha
tôi lâm
bệnh
nặng
trong
những
ngày
tháng
đầu tiên
ở một
miền đất
vừa khai
hoang xa
lạ đầy
chướng
khí,
chẳng có
được mấy
người
ruột
thịt
thân
thích,
vì hầu
hết bà
con Nội
Ngoại
đều ở
lại nơi
quê Cha
đất Tổ,
chỉ có
chú và
bác cùng
đi, mà
cả hai
đều độc
thân cả.
Một mình
Mẹ vừa
phải lo
cho hai
đứa con,
vừa săn
sóc cho
Cha tôi.
Có lần
một
người
bạn quen
đồng
cảnh ngộ
người
ngoại
đạo đã
khuyên
Mẹ, nên
bỏ lại
hai đứa
con cho
ông
chồng
bệnh
hoạn
“thế nào
cũng có
người
lo”, rồi
tìm bến
khác neo
thuyền
cho cuộc
đời bớt
khổ cực,
thế
nhưng Mẹ
đã trả
lời cho
người
bạn đó
rằng:
-Mình là
người có
Đạo, lấy
chồng là
theo
chồng,
dù cực
khổ thế
nào cũng
chịu chứ
không
thể như
bên
lương
được!
Và Mẹ đã
can đảm
chiụ
đựng
suốt
cuộc đời
như thế.
Những
năm
tháng
tiếp
theo,
Cha tôi
luôn đau
ốm, Mẹ
lo lắng
nghĩ
rằng vì
khí hậu
những
vùng mới
khẩn
hoang
không
tốt, nên
xếp đặt
gia đình
dời cư
đi vùng
khác.
Vốn
liếng
không có
và cũng
không
quen để
tới
những
miền
thành
thị,
loanh
quanh từ
Phan
Thiết ra
Bình Tuy
rồi lên
tận Đức
Minh,
Buôn-mê-thuột.
Cuối
cùng gia
đình tôi
cùng hai
chú bác
định cư
tại Bình
Giã, một
vùng đất
đai
tương
đối phì
nhiêu,
nhưng
cũng là
một
trong
những
vùng mới
khai
hoang.
Lúc đó,
chính
phủ miền
Nam rất
quan tâm
đến
những
người
dân di
cư, từ
miền Bắc
vào Nam
để tránh
nạn Cộng
sản, nên
gia đình
tôi cũng
như mọi
gia đình
khác,
được trợ
cấp nhà
ở, thực
phẩm cho
những
năm đầu
mới định
cư.
Mẹ tôi
vừa chăm
sóc mảnh
vườn
nhỏ, vừa
đi tới
những
vùng lân
cận như
Xuân
Sơn,
Ngãi
Giao để
làm thuê
kiếm
thêm
tiền
trang
trải cho
cuộc
sống gia
đình.
Không
biết có
phải vì
chưóng
khí của
vùng đất
hoang
hay
không mà
liên
tiếp mấy
năm sau
bác tôi
cũng ngã
bệnh và
qua đời.
Mẹ tôi
cũng là
người đã
săn sóc
thuốc
thang
cho bác
vào
những
ngày
cuối
cùng.
Chị em
tôi lớn
lên
trong sự
tảo tần
của Mẹ.
Là đàn
bà, Mẹ
làm bất
cứ một
công
việc
nặng
nhọc nào
mà đúng
ra phải
là sức
đàn ông
mới
đương
nổi. Có
lúc Mẹ
cũng
kiệt sức
vì yếu
đuối.
Lần đó,
chị em
tôi cũng
khá lớn
và đều
đi học
cả, một
mình Mẹ
gánh mạ
ra đồng
cấy lúa.
Buổi
chiều
mưa to
gió lớn,
có người
từ ruộng
về ghé
qua nhà
nhắn Cha
tôi là:
Mẹ trúng
gió
ngoài
ruộng.
Chị và
anh tôi
vội vã
choàng
áo mưa
chạy ra
đồng đưa
Mẹ về.
Quả thực
tôi
không
thể
tưởng
tượng
được sự
đau đớn
Mẹ phải
chiụ. Mẹ
kêu van
đau đớn
ở các
khớp
xưong
tay
chân,
nhất là
hai cổ
tay. Hồi
đó tôi
không
hiểu Mẹ
bị đau
bệnh gì
cả. Chị
tôi chạy
đi mời Y
sĩ đến
khám
bệnh
chích
thuốc
cho Mẹ.
Cơn đau
làm Mẹ
rên rỉ
suốt cả
đêm, đây
là lần
đầu tiên
tôi nghe
Mẹ rên
rỉ vì
đau
bệnh, từ
trước
tới giờ
chưa bao
giờ Mẹ
than van
một lời,
ngay cả
những
lúc sốt
nặng.
Theo yêu
cầu của
Mẹ, Cha
tôi cho
mời Cha
xứ đến
để xức
dầu
Thánh,
chiụ các
phép cho
Mẹ rước
Mình
Thánh
Chúa.
Thấy Cha
xứ và bà
con đông
đủ đọc
kinh cho
Mẹ, tôi
cứ nghĩ
là Mẹ sẽ
chết, vì
từ xưa
tới nay,
ở trong
làng,
chỉ có
những
người
bệnh
nặng sắp
chết mới
mời Cha
xứ đến
xức dầu,
giải
tội. Tôi
lặng lẽ
ngồi
khóc
cuối
chân
giường
Mẹ nằm.
Tôi cầu
xin Đức
Mẹ hãy
ban ơn
cho Mẹ
khoẻ
lại. Lúc
đó, tôi
cầu
nguyện
thật tha
thiết,
tôi tin
rằng chỉ
có Chúa
và Đức
Mẹ mới
cứu được
Mẹ tôi
mà thôi.
Tôi cũng
nghe
loáng
thoáng
tiếng xì
xầm của
bà con,
người
thì bảo
rán chịu
đến sớm
mai kêu
xe đò
chở đi
bệnh
viện
tỉnh,
người
thì bảo
e không
qua khỏi
đêm nay.
Tôi còn
nhỏ,
chẳng
biết làm
gì chỉ
khóc và
cầu
nguyện
cho đến
khi ngủ
thiếp
đi.
Mẹ tôi
được đưa
đi bệnh
viện vào
sáng sớm
hôm sau,
và chỉ
hơn một
tuần lễ
nằm bệnh
viện, Mẹ
khoẻ
hơn, rồi
lại trở
về tiếp
tục công
việc
thường
ngày như
là chưa
bao giờ
bệnh
hoạn cả.
Mấy năm
sau, chị
em tôi
cũng đã
khôn
lớn, chị
tôi đã
quán
xuyến
được
việc nhà
giúp Mẹ,
rồi chị
cũng lấy
chồng.
Gia đình
tương
đối đỡ
cơ cực
thì Cha
lại bệnh
nặng và
chẳng
bao lâu
thì mất.
Tôi
thương
Mẹ, luôn
âm thầm
chịu
đựng
chẳng
bao giờ
than van
một
điều.
Tôi đã
từng
nghe một
bà cô,
em họ
Cha tôi
nói:
“Người
khác thì
chỉ lấy
một
chồng,
chứ Mẹ
tụi bay
thì lấy
những ba
chồng”!
Quả là
bà cô đã
nói
cường
điệu mà
đúng!
Lấy
chồng
gánh vác
nhà
chồng,
vất vả
lo cho
con cái,
lại còn
lo thêm
cho chú
và bác
nữa,
chắc
chẳng
mấy ai
như Mẹ
tôi. Lúc
chú bệnh
nặng,
tôi rất
thương
Mẹ, nhớ
lại Mẹ
đã chiụ
khó
thuốc
thang
săn sóc
cho Bác,
cũng như
cho Cha
suốt mấy
năm
trời,
giờ lại
đến
phiên
Chú, lúc
này tôi
cũng đã
khôn
lớn,
tôi
thay thế
cho Mẹ
rất
nhiều để
đỡ đần
cho Mẹ
trong
việc
thuốc
thang
cho Chú.
Mặc dù
vậy, Mẹ
vẫn qua
lại
thường
xuyên để
trông
nom coi
sóc hỏi
han cho
đến lúc
Chú mất.
Đôi khi
tôi cũng
tự hỏi
không
hiểu sao
Mẹ lại
có một
sức chịu
đựng đến
như thế.
Tôi nghĩ
chỉ còn
một cách
giải
thích: “
Mẹ quá
nhiều
tình
cảm”.
Nhạc sĩ
Y Vân đã
diễn tả
tượng
hình về
tình
thương
của một
bà Mẹ
rất cảm
động và
dễ hình
dung hơn
cả:
“Lòng
Mẹ bao
la như
biển
Thái
Bình…”
Tôi cũng
hiểu và
biết
rằng có
một sức
mạnh
khác
giúp cho
Mẹ vượt
qua mọi
gian nan
thử
thách
trong
cuộc
đời, đó
là Mẹ
thường
ngày đi
xem lễ,
luôn cầu
nguyện
và lần
hạt.
Chính vì
tin
tưởng
vào sức
mạnh
siêu
nhiên
đó, Mẹ
cũng
luôn
nhắc nhở
con cái
đi xem
lễ, đọc
kinh,
xưng tội
vào các
dịp lễ
trọng.
Tôi cũng
là người
tế nhị
sớm nhận
ra tình
thương
và sự hy
sinh của
Mẹ nên
luôn
giúp
cũng như
nghe
theo lời
khuyên
của Mẹ.
Tôi gia
nhập
đoàn
Thiếu
Nhi
Thánh
Thể từ
lúc xưng
tội lần
đầu và
sinh
hoạt mãi
cho đến
lúc trở
thành
một
Huynh
Trưởng,
rồi cuối
cùng là
Đoàn
trưởng.
Tôi nghĩ
sở dĩ có
ơn bền
đỗ như
vậy có
lẽ là
nhờ lời
cầu
nguyện
của Mẹ,
chẳng
những
luôn
nhắc nhở
những
ngày lễ
trọng,
những
sinh
hoạt
thường
xuyên
hàng
tuần mà
còn
khuyên
bảo
những
điều đạo
đức khác
nữa. Lúc
đó các
anh chị
tôi đã
lập gia
đình,
chỉ còn
đứa em
gái và
tôi ở
chung
với Mẹ,
công
việc gia
đình
nhiều
khi rất
bận rộn,
nhưng
tất cả
các công
tác sinh
hoạt
đoàn
thể, Mẹ
đều cho
phép và
khuyến
khích
tham
gia.
Mười mấy
năm trời
từ một
em Ấu
nhi trở
thành
Đoàn
trưởng,
tôi
chẳng
bao giờ
nghe Mẹ
phàn nàn
một điều
gì về
việc để
nhiều
thì giờ
vào các
sinh
hoạt
đoàn
thể.
Trái lại
Mẹ còn
quan tâm
đến giờ
giấc hội
họp của
tôi nữa.
Có một
lần vào
vụ mùa
gặt lúa,
tôi xin
phép Cha
Tuyên Úy
cho các
Huynh
trưởng
được
nghỉ một
buổi
sáng họp
Chủ nhật
thường
lệ. Sáng
Chủ nhật
đó, tôi
còn nghe
nhạc đọc
sách, Mẹ
nhẹ
nhàng
nhắc
khéo:
-Gần đến
giờ họp
rồi,
liệu
chừng
trễ các
em nó
cười
cho!
Tôi thực
sung
sướng và
cảm động
xen lẫn
phần nào
ân hận
đã không
nói với
Mẹ từ
hôm qua,
để Mẹ
biết
sáng hôm
nay nghỉ
họp.
Bản tính
Mẹ ít
nói,
không
nhiều
chuyện,
nên Mẹ
cũng
khuyên
bảo tôi
trong
lúc sinh
hoạt,
giao
tiếp
nhiều
người
phải ý
tứ ăn
nói:
“Biết
thì thưa
thốt,
không
biết thì
dựa cột
mà
nghe”;
“Bệnh là
bởi
miệng
vô, hoạ
là bởi
miệng
ra”;
“Nghe
nhiều
thì học
được
nhiều,
nói
nhiều
thì
mang vạ
nhiều”…những
lời đó
thực ra
tôi cũng
đã được
học ở
trường
lớp hay
đọc
trong
sách vở
rồi,
nhưng
nghe từ
miệng Mẹ
nói tôi
ghi nhớ
vào
trong
tâm trí
và cảm
thấy quí
báu vô
ngần!
Lòng đạo
đức và
tình
thương
của Mẹ
ảnh
hưởng
đến cuộc
đời tôi
rất
nhiều,
tôi luôn
chứng tỏ
cho Mẹ
thấy tôi
nghe lời
và cố
gắng
sống
theo
gương
Mẹ. Sức
khoẻ Mẹ
theo
ngày
tháng
càng lúc
càng
kém, còn
tôi càng
ngày
càng lớn
lên, tuy
vậy Mẹ
cũng vẫn
luôn săn
sóc tôi
như thuở
tôi còn
bé vậy.
Những
lần tôi
cảm mệt,
không
muốn ăn
cơm, Mẹ
đi ra
phiên
chợ nhỏ
đầu làng
mua ít
bánh
mướt hay
tô bún
riêu.
Buổi
chiều
tối nào
từ ruộng
về mà
trời mưa
to gió
lạnh, Mẹ
đã nấu
sẵn nước
nóng cho
tôi tắm
rửa để
đỡ lạnh.
Tôi rất
thích ăn
cháo cá
hoặc chè
đậu xanh
mỗi buổi
tối, Mẹ
biêt ý
nấu cháo
hay chè
vài ba
lần một
tuần.
Thỉnh
thoảng,
buổi tối
đi họp
về
khuya,
cả nhà
ngủ cả,
tôi thấy
nồi cháo
còn nóng
sốt trên
bếp, vừa
ăn vừa
rưng
rưng
nước mắt
nghĩ Mẹ
thương
mình vô
cùng.
Càng lớn
lên,
tình
thương
của Mẹ
càng làm
cho tôi
thấy
thấm
thía
tình Cha
nghĩa Mẹ
trong
câu ca
dao:
“Công
Cha như
núi Thái
sơn
“Nghĩa
Mẹ như
nước
trong
nguồn
chảy
ra”…
Và lòng
đạo đức
của tôi
có được
chắc
chắn nhờ
ở tình
thương
đó. Sự
nhạy cảm
của tâm
hồn làm
tôi
thông
cảm và
hiểu Mẹ
ngay từ
hồi còn
nhỏ.
Những
buổi tối
theo Mẹ
đi đọc
kinh
luân
phiên
trong
tháng
Hoa hoặc
tháng
Mân Côi,
cho đến
bây giờ
vẫn còn
gây xúc
cảm cho
tôi
những
khi nhớ
đến Mẹ.
Hầu như
tôi đặt
trọn tâm
tình vào
từng lời
kinh câu
hát
trong
những
buổi đọc
kinh đó.
Ngồi kề
bên Mẹ,
tôi nghe
từng hơi
thở,
từng
cung
giọng Mẹ
cất lên.
Lời Mẹ
hát tôi
nghe như
Mẹ đang
tha
thiết
nài van:
“Lạy
Mẹ xin
yên ủi
chúng
con luôn
luôn, Mẹ
từ bi
xin phá
những
nỗi u
buồn. Vì
đời con
gieo rắc
biết bao
đau
thương,
và tràn
lan gai
góc
vướng
trên con
đường…!”
Tôi có
cảm
tưởng Mẹ
đang
buồn, vì
quả thực
cuộc đời
Mẹ phải
cực khổ
quá
nhiều.
Tuy vậy,
ở nhà
cũng có
lúc tình
cờ tôi
nghe Mẹ
hát nho
nhỏ một
mình:
“Lạy
Mẹ
Maria,
Mẹ Thiên
Chúa Mẹ
Đồng
trinh…!”
Những
lúc đó,
tôi biết
Mẹ đang
vui, tự
nhiên
tôi cũng
cảm thấy
niềm vui
tràn
ngập
trong
lòng. Từ
những
tâm tình
của tôi
với Mẹ,
và với
những
lời kinh
tôi gần
gũi với
Đức Mẹ
hơn, tôi
thấy Mẹ
tìm sự
an ủi
nơi Đức
Mẹ, phó
thác tất
cả cho
Đức Mẹ.
Lời kinh
:
“Xin hãy
nhớ xưa
nay chưa
từng
nghe có
người
nào chạy
đến cùng
Đức Mẹ
mà Mẹ
chẳng
nhậm
lời…”.
Ngày
nào cũng
được đọc
lên, tôi
nghe
thật
thân
tình.
Tôi có
cảm
tưởng
Đức Mẹ
đang
hiện
thân
trong Mẹ
vậy, bởi
vì chính
Mẹ đã
cho tôi
những gì
Mẹ có.
Sự liên
tưởng
đó, bây
giờ lớn
lên tôi
mới cảm
nghiệm
đươc,
Đức Mẹ
Maria
chính là
một
người Mẹ
thực sự
của mỗi
người,
mặc dù
ai cũng
có một
bà Mẹ
sinh ra
mình,
nhưng
diễm
phúc hơn
nữa có
Mẹ Maria
là Mẹ
Thiên
Chúa và
cũng là
Mẹ chung
của mỗi
người.
Tôi nghĩ
tình
thương
của Mẹ
Maria
cũng như
của các
bà Mẹ
rất
giống
nhau:
thương
con, lo
lắng cho
con, để
ý từng
nụ cười
giọng
nói,
nghe
ngóng
từng
nhịp đập
của quả
tim con…
“Mẹ
là suối
mát…Mẹ
là trăng
thanh…Mẹ
là hy
vọng…!”
Bài
Thánh ca
này ca
tụng Đức
Mẹ,
nhưng
mỗi lần
nghe
hát, tôi
cứ tưởng
tượng
tác giả
cùng một
lúc diễn
tả một
người Mẹ
siêu
nhiên và
một
người Mẹ
bình
thường
trong
tất cả
những bà
Mẹ. Có
lẽ sự
khác
biệt là
Đức Mẹ
đã được
hiển
Thánh,
được
Thiên
Chúa lựa
chọn
trong số
những bà
Mẹ để
trở nên
Đấng cao
trọng,
làm Mẹ
của Đấng
Cứu Thế.
Trong
các tước
hiệu về
Đức Mẹ,
Đức Mẹ
Hằng Cứu
Giúp là
tước
hiệu tôi
cảm thấy
sống
động,
gần gũi,
gợi tình
âu yếm
Mẹ con
hơn cả.
Không
biết có
phải tại
vì từ
thuở
nhỏ, tôi
thường
hay nhìn
xem bức
ảnh cổ
truyền:
Đức Mẹ
bồng
Chúa
Giêsu,
một bên
chân sút
cả dép
làm cho
tôi có
ấn tượng
đó hay
không.
Tôi đã
đọc lời
giải
thích về
nguồn
gốc bức
ảnh cổ
truyền
Đức Mẹ
Hằng Cứu
Giúp và
ý nghĩa
của bức
ảnh đó.
Thế
nhưng
tôi vẫn
có một
cảm nghĩ
riêng về
bức ảnh:
Một
bà Mẹ
rộng
lượng,
dễ dãi,
đơn sơ
thực thà
cũng như
bao
nhiêu bà
Mẹ khác
vậy.
Rộng
lượng
trong ân
tình, ân
nghĩa.
Dễ dãi
trong
nghiêm
phép
phân
minh.
Đơn sơ
trong sự
kín đáo
tế nhị
và thực
thà
trong sự
khôn
ngoan
chính
chắn.
Bức ảnh
gây tác
động
trong
tâm hồn
tôi rất
nhiều,
đến nỗi
từ ngày
xa cách
Mẹ tôi,
thì bức
ảnh Đức
Mẹ Hằng
Cứu Giúp
tôi luôn
giữ bên
mình bất
cứ lúc
nào. Tôi
tin rằng
Đức Mẹ
luôn gìn
giữ cứu
giúp
tôi,
cũng như
Mẹ tôi
luôn nhớ
và cầu
nguyện
cho tôi
vậy.
Năm nay
Mẹ tôi
đã bảy
mươi
tuổi,
không
biết Mẹ
còn sống
được bao
lâu nữa.
Mặc dù
đã
trưởng
thành,
nhưng
mỗi lần
nghĩ đến
chuyện
không
còn Mẹ
nữa, tôi
cảm thấy
hơi xót
xa nhớ
đến hai
câu thơ
của Thầy
Nhất
Hạnh:
“Tôi
thấy tôi
mất Mẹ
“Mất
cả một
bầu
trời…!”
Tôi
không
thể nào
quên
được
những
ngày
tháng
sống bên
Mẹ, Mẹ
đã lo
lắng cho
tôi như
thể tôi
mãi mãi
là một
đứa bé
con.
Ngay cả
tôi lúc
đã là
một
thanh
niên,
tôi vẫn
luôn
quấn
quít bên
Mẹ, mong
đem niềm
vui đến
cho Mẹ.
Những
lần Mẹ
nằm
bệnh,
tôi lấy
thuốc
bưng
nước cho
Mẹ, dù
đêm
khuya,
Mẹ muốn
chút
nước trà
nóng,
tôi vẫn
đun củi
nấu nước
cho ấm
lên. Đôi
khi, nửa
đêm tôi
thức dậy
đến bên
giường
Mẹ xem
chừng
giấc
ngủ, có
lẽ Mẹ
mệt nên
ngủ quên
buông
mùng,
tôi nhẹ
nhàng
đắp
chiếc
chăn
mỏng
buông
mùng
xuống
cho Mẹ.
Tôi cảm
tạ Thiên
Chúa đã
ban cho
tôi một
người Mẹ
thật
hoàn
toàn,
mặc dù
cả cuộc
đời có
nhiều
gian
nan, thử
thách,
đau khổ,
nhưng
luôn
luôn vẫn
tận tuỵ
với gia
đình,
luôn
chuyên
tâm cầu
nguyện,
nêu
gương
cho con
cái. Gia
tài vật
chất của
Mẹ để
lại
chẳng
được bao
nhiêu,
nhưng về
tinh
thần,
tôi nghĩ
rằng đó
là tất
cả hành
trang
tôi cần
cho cuộc
lữ hành
tìm về
quê
thật, ở
nơi miền
đất đầy
chông
gai cạm
bẫy này.
Những gì
tôi đã
cố gắng
làm cho
Mẹ, có
lẽ chẳng
đáp đền
được bao
nhiêu
công sức
của Mẹ
đã lo
cho gia
đình,
cho tôi.
Trong
tim tôi
chứa
đựng tất
cả những
tâm tư
tình
cảm,
hình ảnh
của Mẹ.
Và trong
tâm thức
đó, Mẹ
Maria
cũng
luôn ngự
trị
trong
tâm hồn
tôi. Tôi
cảm thấy
sung
sướng,
vì có
đến hai
bà Mẹ
luôn an
ủi vỗ
về, nâng
đỡ trong
suốt
cuộc
đời.
Xin cảm
tạ ơn
Trời,
xin cảm
tạ ơn
Người.
đặngxuânhường