“Này em
con chim
lười
“
Nhiều
năm chim
đau phổi
Buổi
sáng
vắng
tiếng
chim
cười vui
(Phạm
Duy –
Bình ca)
Lc 18:
22
Thời
buổi
này,
lười
biếng
hay
siêng
chăm,
luôn là
vấn đề
thời
thượng.
Vấn đề
tuy
không
gai góc,
như
chuyện
kinh
tế/chính
trị, ở
nhiều
nơi.
Nhưng,
vẫn
thành
chuyện.
Chí ít,
là
chuyện
“buổi
sáng,
vắng
tiếng
chim
cười
vui”.
Chim
cười vui
mỗi
buổi,
còn là
vấn đề
của
riêng
tôi, và
của bạn
nữa,
những
người
đang
sống ở
nơi thị
thành
hoặc
miền quê
xa xôi
ấy, thấy
nhiều ấm
ức. Sầu
buồn.
Thở
than.
Thở và
than,
với chú
trâu
già,
từng vất
vả nhiều
năm, nay
biết
buồn:
“Này
em, con
trâu
già,
nhiều
năm trâu
vất vả,
cùng với
bác xã
nơi đồng
quê.
Này em,
con trâu
già
Nằm chơi
trâu
nhai cỏ
Nhìn
những
chiếc
máy
đang,
cầy bừa.
Trâu
đừng
buồn vì
máy cầy
ghê.
(Phạm
Duy –
bđd)
Lười
biếng
hay
siêng
chăm,
thường
dẫn đến
cảnh
buồn/vui,
vui/buồn
lẫn lộn.
Một cảnh
tình
diễn ra
thường
ngày.
Với mọi
loài. Về
sầu
buồn,
Kinh
Sách có
đoạn
cũng nói
đến lý
do khiến
người
thanh
niên
giàu có
đã thấy
buồn. Vì
anh chỉ
giàu có
chứ
không
giàu
lòng:
"Anh chỉ
còn
thiếu có
một
điều,
là hãy
bán tất
cả những
gì anh
có
mà phân
phát cho
người
nghèo,
và anh
sẽ được
một kho
tàng
trên
trời.
Rồi hãy
đến theo
tôi."
Nghe
vậy, anh
buồn
lắm, vì
anh rất
giàu.
(Lc 18:
22)
Theo
Kinh
thánh,
chìa
khoá gây
cảnh sầu
buồn
trong
đời vui,
là:
“vì anh
rất
giàu”,
lại
chẳng có
được
tinh
thần của
người
nghèo
khó. Cho
nên, mới
hụt hẫng
mất lời
vui chúc
phúc, ở
mọi
thời:
“Phúc
cho
những ai
có tinh
thần
nghèo
khó.”
(Mt 5:
3).
Những
ngày
trước,
nhân đọc
lời bàn
niệm suy
Lời Chúa
của một
linh mục
nọ trên
trang
mạng,
bần đạo
thấy
nói:
tinh
thần
nghèo
khó, là
tinh
thần
“không
còn lo
lắng cho
chính
mình, mà
chỉ lo
cho
người
khác.
Những
người
thiếu
thốn,
nhiều
nhu cầu
hơn.”
Và, đây
là một ý
kiến rất
hay. Còn
nhớ, có
linh mục
khác,
cũng cắt
nghĩa:
tinh
thần
nghèo
khó là
tinh
thần
biết
mình
không là
gì cả,
chỉ
thuộc
giai cấp
thấp
hèn, chỉ
là tôi
tá Chúa,
nên đặt
hết hy
vọng vào
Thiên
Chúa.
Chứ
không ỷ
vào sức
của
mình.
Ở đây,
tinh
thần
nghèo,
có nghĩa
không
lười
trong
việc
quan tâm
đến
người
khác
trong
cộng
đồng
nhân
loại
mình
chung
sống.
Cộng
đồng ấy,
vẫn thấy
“nhiều
năm chim
đau
phổi”,
vẫn thấy
“vắng
tiếng
chim
cười vui”.
Và hôm
nay,
tinh
thần
nghèo,
là tinh
thần đem
của cải
mình có,
mà đi
phân
phát cho
những
người
nghèo
hơn
mình, để
họ tìm
ra kho
tàng
Nước
Trời.
Trong
cùng một
đời
người.
Hôm nay,
bần đạo
hân hạnh
mời bạn
bè/người
thân, ta
thử đi
một vòng
luận bàn
bỏ túi
hoặc
phiếm
cho vui,
về cuộc
đời đi
Đạo. Một
đời có
cả niềm
vui, lẫn
nỗi
buồn.
Không
giống
như “này
em, con
chim
lười”,
chẳng
bao giờ
bị “đau
phổi”.
Chỉ mỗi
tội, như
“trâu
già”,
“nằm
chơi
trâu
nhai cỏ”,
nhìn
người
khác vẫn
cứ cày
và bừa
quanh
năm suốt
tháng,
nhưng
không
buồn.
Vậy nên,
ta cứ
phiếm:
Về
chuyện
không
siêng
chăm,
Kinh
Sách có
nói:
“Hỡi
tôi tớ
bất hảo
và lười
biếng!”
(Mt 25:
26)
Và,
thánh
Phao-lô
cũng có
khuyên:
“Anh
em đừng
nên uể
oải/biếng
nhác,
nhưng
hãy bắt
chước
những
người
nhờ có
đức tin
và lòng
kiên
nhẫn
mà được
thừa
hưởng
các lời
hứa.
(Hp 6:
12)
Thế đó,
tâm
trạng
của
người
xưa.
Vẫn, hay
làm
biếng
bắt
chước
gương
lành từ
những
người có
đức tin
và lòng
kiên
nhẫn.
Với nhà
Đạo hôm
nay,
chuyện
lười và
biếng
còn
nghiêm
trọng
hơn.
Ngày
nay,
nhiều
người
tuy vẫn
tin; và
vẫn đầy
lòng
kiên
nhẫn
đấy,
nhưng
vẫn
lười.
Bệnh
“lười”
thời
đại, nay
trải dàn
ra ở
nhiều
địa hạt.
Địa hạt
nào cũng
“lươi
huyền,
lười”.
Lười đọc
kinh.
Lười đi
lễ. Lười
xưng
tội,
rước lễ.
Lười, cả
chuyện
học hỏi
giáo lý,
với Phúc
Âm. Quả,
là
nghiêm
trọng.
Đáng sợ.
Cách đây
không
lâu,
những
người
sống ở
Anh và
xứ
Wales,
đã quan
ngại về
tình
hình
sống Đạo
của tín
hữu ở
nước
này, bèn
làm cuộc
khảo sát
gửi đến
1,500
giáo hữu
thuộc đủ
mọi
thành
phần,
trên
toàn
quốc, để
tìm xem
người
ngoan
Đạo ở
đây, nay
sống và
nghĩ thế
nào. Kết
quả,
không
tươi
sáng,
cho lắm.
Cũng
“hơi”
báo
động.
Có người
nói:
Giáo hội
Công
giáo ở
Anh và
xứ
Wales,
là Giáo
hội đang
trong
thời kỳ
tàn tạ.
Đa phần,
đều
“thôi
không
giữ Đạo”
khi rời
trường
hoặc bỏ
gia
đình, ở
riêng.
Một số
khác,
chỉ thấy
hy vọng
nơi di
dân sắc
tộc, đến
từ các
nước
siêng
chăm/“Đạo
gốc” như
Ba-Lan,
Ba-Tây,vv...
Kết quả
khảo sát
cho thấy
khuynh
hướng
đại trà
người
nước
này,
không
còn giữ
Đạo như
hồi thời
tiền
nhân,
ông bà.
Tức, họ
không
thấy
ràng
buộc
nhiều
trong
việc đi
lễ, mỗi
tuần.
Nhiều
người,
nay vẫn
đều đặn
đi lễ
hàng
tuần.
Vẫn rước
Mình
Thánh
Chúa,
nhưng
không
mấy bận
tâm đến
chuyện
xưng tội
hoặc
chay
kiêng,
vào
trước
lễ. Nói
chung,
Bí tích
Hoà Giải
chỉ còn
chỗ đứng
rất nhỏ,
trong
sống Đạo
hôm nay.
Về hôn
nhân với
người
cùng
Đạo,
người
Công
giáo ở
Anh
thường
thành
thân với
người
phối
ngẫu
cùng là
Công
giáo,
hơn. Như
thế, đỡ
vất vả.
Có thể
nói, 70%
người
Công
giáo ở
Anh có
người
phối
ngẫu
hoặc đối
tác cũng
là người
Công
giáo.
Với
người
sắc tộc,
thì
người
Công
giáo lấy
người
Công
giáo vẫn
thoải
mái,
thích
thú hơn.
Trong số
người
trả lời
khảo
sát, 85%
người
gốc Đông
Nam Á
Châu
thích
lấy vợ
lấy
chồng
cùng tín
ngưỡng.
Trong
khi đó,
với
người
gốc Ái
Nhĩ Lan
và Châu
Phi sống
ở Anh,
thì tỷ
lệ này
chỉ đếm
được có
77%. Và,
với
người
Công
giáo gốc
Anh, chỉ
đếm được
có: 64%,
thôi.
Về tỷ lệ
người
tín hữu
ở Anh
vốn dĩ
“lười đi
lễ”,
khảo sát
trên đã
cho
thấy: số
tuổi
người đi
lễ mỗi
tuần,
thì: với
hạn tuổi
18-35 có
62%
người;
hạn tuổi
36-45 có
67%; hạn
tuổi
46-55 có
84%; và,
tuổi
trên 65,
vẫn còn
khoảng
92% đi
thường
xuyên
hơn.
Về đi lễ
ở đâu và
tại sao
đi lễ,
64% số
người
trả lời,
nói: sở
dĩ họ đi
lễ là vì
có quyết
tâm với
Chúa.
55% số
người
nói: đi
lễ mới
thấy
mình
được
thêm sức
mạnh cho
cuộc
sống
hằng
ngày.
62% nói:
vì đó là
truyền
thống
gia
đình.
48% nói:
lĩnh
nhận Bí
tích
Thánh
Thể như
của ăn
nuôi
sống
trong
đời. 44%
nói: đi
lễ để
cầu
nguyện
cho
người
thân vừa
mới mất.
37% nói:
để đền
bù các
tội mình
mắc
phải.
36% nói:
để cầu
được
nhiều
thứ cần
thiết
trong
đời. Có
mỗi 36%
số người
nói: vì
thấy
mình là
thành
viên của
cộng
đoàn.
Về siêng
chăm
rước
Mình
Chúa,
89% số
người
nói mỗi
lần đi
lễ đều
rước
Mình
Thánh,
hết. Chỉ
đếm có
3% số
người
nói:
rước lễ
sau khi
đã xưng
tội.
trong
khi đó
3% nói:
chả bao
giờ xưng
tội, hết
đó. Trả
lời câu
hỏi: đâu
là phần
quan
trọng
trong
thánh
lễ? 75%
trả lời:
là Rước
Mình
Thánh
Chúa.
68% thấy
có Chúa
hiện
diện.
61% trả
lời: đó
là phần
cầu
nguyện
và suy
niệm Lời
Chúa.
46% thấy
quan
trọng
trong
việc
“bắt
tay,
chúc hoà
bình”.
42% cho
đó là
việc
giảng
giải Lời
Chúa.
43% cho
phần đọc
Sách
Thánh là
phần
quan
trọng.
29% nói:
ca hát
và âm
nhạc.
Về
chuyện
lười
xưng
tội, 47%
số người
được hỏi
đã đồng
ý với
câu
“Mình có
thể là
người
Công
giáo
đúng
nghĩa mà
không
cần Bí
tích Hoà
Giải.
34% số
người
được
hỏi, đều
nói:
không
đồng ý
với câu
đó. Phần
còn lại,
không có
ý kiến.
Về
chuyện
lười đọc
kinh/cầu
nguyện,
66% số
người
hồi đáp
khảo
sát, nói
vẫn đọc
kinh mỗi
ngày.
22% nói:
mỗi tuần
đọc vài
lần. 6%
số người
nói: chỉ
đọc kinh
vào lúc
gặp
khủng
hoảng.
Về siêng
chăm đọc
kinh/cầu
nguyện
tính
theo sắc
tộc, thì
người
gốc Đông
Nam Châu
Á có 85%
số người
vẫn đọc
kinh,
người
gốc Châu
Phi, chỉ
đếm có
79%.
Người
gốc Ái
Nhĩ lan
có đến
78% và
người
gốc rặt
Ănglô
saxon
chỉ đếm
được
59%,
thôi.
Các hồi
đáp cho
câu hỏi
về khía
cạnh của
niềm tin
yêu và
tín
ngưỡng
nói
chung,
người
Công
giáo ở
Anh hôm
nay đặt
nặng vào
Tiệc
Thánh
Thể và
tình
thương
của
Chúa,
nhiều
hơn tội
lỗi và
sám hối.
Họ cũng
có tin
vào
Thiên
Đàng
nhiều
hơn hoả
ngục.
Tuy
nhiên có
điều lạ,
là:
nhiều
người
cũng tin
vào việc
tái sinh
làm
người,
dù việc
này
không
nằm
trong
giáo lý
của Hội
thánh
Công
giáo.
Nói
chung,
83% số
người
tin có
sự sống
sau khi
chết.
63%
người
tin có
ác
thần/quỷ
dữ. 60%
tin có
hoả
ngục.
91% tin
có thiên
đàng.
70% tin
về tội
trọng.
80% tin
vào sự
sống
lại. 38%
tin vào
việc tái
sinh làm
người.
81% tin
Đức Mẹ
Đồng
trinh.
76% tin
vào cuộc
Phán
xét,
ngày
mình
chết.
79% tin
vào ơn
cứu rỗi
khỏi tội
lỗi.
Về nhận
thức,
biết đã
có xảy
ra Công
Đồng
Chung
Vatican
II, thì
18% số
người
trẻ từ
18-35
nói:
không
biết gì
về
chuyện
này. 18%
số người
tuổi từ
36-45
nói như
thế.
Riêng
lớp tuổi
trên 65,
chỉ có
38% là
biết đến
Công
Đồng
này.
Về hiến
chế
“Humanae
Vitae”,
chỉ có
16% số
người
được
hỏi, nói
là có
nghe nói
đến giáo
huấn của
Hội
thánh về
các vấn
đề dục
tính,
37% nói
cũng
nghe
loáng
thoáng,
nhưng
47% trả
lời:
chẳng
bao giờ
biết đến
chuyện
ấy(trích
bản Khảo
sát do
viện Von
Hugel,
Đại Học
Cambridge
thực
hiện-
7/2008).
Nói cho
cùng,
khảo sát
với hỏi
han, chỉ
như thế.
Như thế
có
nghĩa,
là người
được hỏi
ý kiến
từng có
thói
quen
phát
biểu,
không
sượng
sùng.
Phát
biểu,
như
người
lâu nay
sống ở
xã hội
tự do.
Rất
thoải
mái. Rất
thật
tình.
Tuy
nhiên,
có một
điều
trong
bản khảo
sát, đã
cho
thấy: tỷ
lệ nói
chung
thấy khá
cao ở
câu đáp,
là những
người
sắc tộc
sống
từng
trải ở
các nước
có nhà
cầm
quyền
vẫn o ép
về
chuyện
Đạo.
Vấn đề
là, khi
tín
ngưỡng
không
còn bị
hạn chế,
tự do
không
còn bị o
ép, thì
sự thể
sẽ khác
chăng?
Và, niềm
tin của
người đi
Đạo, có
còn là
những
điều
đáng lo
nữa hay
không?
Hoặc,
người đi
Đạo có
còn lo
cho
mình? Lo
cho
người,
nữa hay
chăng?
Hoặc,
vẫn cứ
như bài
hát của
Phạm
Duy, có
câu
nhắn: “Này
em, con
chim
lười”?
Hoặc,
chim con
vẫn cứ “bình
chân như
vại”,
giống
hệt như
người
đứng ở
ngoài.
Ngoài
Đạo.
Ngoài
cuộc.
Như
truyện
kể, để
minh
hoạ, ở
bên
dưới?
“Chú
chuột
nhắt để
mắt nhìn
qua
đường lỗ
nơi
tường
kho của
trang
trại,
bất chợt
nhận ra
trang
chủ và
vợ hiền
đang mở
nắp gì
đó.
Chuột ta
tự hỏi
không
biết
trong đó
có gì để
ăn, hay
không?
Kịp hú
hồn, khi
khám phá
ra trong
đó, là
chiếc
bẫy.
Chạy vội
về hang
ở, chuột
ta bèn
bắn đi
mọi nơi
nhiều
tín hiệu
khẩn
báo:
-Nhà
trại có
bẫy
chuột!
nhà trại
có bẫy
chuột!
Gà nòi
nghe
thấy,
cũng chỉ
lắc đầu
nguầy
nguậy,
bảo: Này
anh
chuột
nhắt,
bẫy
chuột
chứ có
phải là
bẫy gà
đâu, có
liên can
gì đến
tôi đâu
mà nhắng
lên
thế!”
Chuột ta
bèn chạy
đến anh
lợn nọc,
và hét
to cho
anh nghe
rõ:
-Nhà
trại
mình có
bẫy! nhà
trại
mình có
bẫy!
Heo ta,
tuy
thông
cảm với
bạn
chuột,
cũng ỉn
ỉn chỉ
vài câu:
-Xin lỗi
bạn nhé,
tớ đây
chỉ
thông
cảm/biết
mỗi
nguyện
cầu. Sẽ
cầu, cho
bạn đừng
mắc bẫy,
có thế
thôi!
Yên chí
đi bạn
ạ, tớ mà
cầu
nguyện,
là thế
nào Bề
Trên
cũng
nhậm
lời,
thôi.”
Chuột
lại chạy
đến với
chị bò
nặng nề,
lề mề
bầu sữa,
và kêu
lên:
-Nhà
trại
mình có
bẫy! nhà
trại
mình có
bẫy!
Nghe
xong, bò
ta chỉ
biết an
ủi:
-Chà,
chuột
nhắt bạn
ơi! Ta
xin bạn
thứ lỗi,
chứ ta
thấy bẫy
này
chẳng
nhằm nhò
gì với
lớp da
khá dầy,
của ta.
Quá chán
nản,
chuột
trở về
nơi chốn
cũ, nằm
bịch
xuống,
rồi than
thở. Rất
cám
cảnh.
Một mình
một chợ,
lo chống
đỡ mối
hiểm
nguy
đang trờ
tới. Với
bẫy sâu.
Đêm đến,
có tiếng
chân
chạy ồn
ào,
chừng
như nhà
trại vừa
phát
hiện có
gia súc
gia cầm
nào đó
vừa sập
bẫy. Náo
loạn cả
một
không
gian.
Người vợ
trang
chủ chạy
đến xem
có gì bị
mắc bẫy.
Trong
bóng
đêm, bà
chẳng
nhìn
thấy gì,
hình như
chú rắn
độc vừa
bị sập
bẫy, vẫy
vùng đứt
mất
đuôi.
Nổi nóng
vì bị
đứt
đuôi,
rắn độc
quay lại
cắn vào
chân vợ
trang
chủ.
Khiến
người
chồng
phải vội
đưa vào
bệnh
viện gần
đó, hòng
chữa
trị. Gặp
lúc nhà
thương
thiếu
thuốc
trị nọc
rắn,
người vợ
đã về
lại chịu
cơn sốt,
lên cao
độ. Để
trị sốt,
trại chủ
bèn bắt
gà cho
vào nồi
nấu
cháo,
chữa cho
vợ.
Nhưng
chữa mẹo
bằng
cháo,
không
công
nghiệm.
Người vợ
cứ sốt
đều,
khiến
bạn bè
người
thân đến
gần hầu
giúp đỡ,
ủi an.
Để tiếp
đón bà
con đến
thăm
nom,
bụng đói
cào,
trại
chủ, lại
bắt heo
làm
thịt, mà
thết
đãi. Vợ
ông vẫn
không
bớt
bịnh, đã
lìa trần
ít ngày
sau đó.
Đám tang
tổ chức
tươm
tất, rất
đông
người.
Trại chủ
bèn hạ
bò để
thù
tiếp,
mới đủ
thức ăn
cho mọi
người.
Nhìn qua
khe
tường,
chuột
nhắt ta
thấy hết
mọi
chuyện,
tuần tự
diễn
tiến,
lòng
buồn
rầu,
khôn tả.
Buồn cho
số phận
của bầu
bạn loài
thú,
chẳng
cảm
thông.
Chuột
tuy nhỏ,
nhưng
vẫn thầm
nhủ:
phải chi
bạn hữu
đừng
lười. Cứ
ra tay
hộ giúp,
với đỡ
đần,
biết đâu
sự thể
sẽ không
tồi tệ
đến như
thế?
Tất cả
cũng chỉ
do mình
lười.
Tất cả
chỉ vì,
cứ quan
niệm
“sống
chết mặc
bay”, ta
đây đâu
cần
biết.
Chính đó
mới là:
đầu mối
tội đầu.
Mọi sự
xấu. Từ
truyện
“cái bẫy
chuột”,
người
nghe bèn
rút ra
được bài
học, để
đời. Học
rằng,
trong
sống
cùng và
sống
chung,
cũng nên
để mắt
đến
người ở
gần bên,
xem họ
có vấn
đề gì
cần mình
giúp đỡ.
Bởi, tất
cả sẽ
thành
chuyện,
nếu mình
không ra
tay giúp
đỡ. Hết
mọi
người.
Bởi,
chuyện
riêng
một
người,
vẫn có
thể là
mấu chốt
quan
trọng
trong
toàn bức
thảm đời
người,
luôn đan
kết với
nhau.
Cần đến
nhau.
Đừng
lười!”
Và, đây
cũng là
ý tưởng
của
người
nghệ sĩ
vẫn hát
vui,
nhưng đã
biết
buồn.
Hát, là
hát
những
giòng
nhạc lê
thê như
thế này:
“Này
em, anh
đã già
tuổi cao
thiếu
sức khoẻ
dù sống
với trái
tim cằn
khô
Này em,
anh đã
về
Thì xin
nghe anh
kể
Chuyện
mới/cũ,
khóc vui
tràn
trề.
Những
chuyện
hoà bình
có người
nghe…”
(Phạm
Duy –
Bình Ca)
Chuyện
hoà bình
anh kể,
có chăng
nay
người
nghe?
Hay em
hay anh
vẫn cứ
bảo:
chuyện
Đạo –
chuyện
đời, nào
mấy
thích.
Chẳng
thích
nghe.
Cũng
chẳng
thích
đọc, đây
vẫn cứ
lười.
Lười
việc
Đạo.
Lười cả
việc
đời, nay
chán
hết.
Chán hay
không,
cũng
đừng
chán
chuyện
hoà
bình,
tình
thương
Chúa vẫn
nói, nhé
em. Nhé
anh. Nhé
mọi
người.
Trần
Ngọc
Mười Hai
Tuy rất
lười,
nhưng
chưa
biết
chán.
Chí ít,
là
chuyện
sống
Đạo,
trong
đời..
xem
thêm các
bài cũ,
xin mời
vào
www.tranngocmuoihai.blogspot.com
)