Chuyện
phiếm
đạo-đời:
“Ôi
những
câu
chuyện
lòng,”
Làm thơm
ngát
thêm
tuổi
hồng,
Anh ơi
yêu đi
yêu đi!
Trên
đỉnh yêu
đương,
gió toả
thêm
hương”
(Trần
Thiện
Thanh –
Trên
Đỉnh mùa
đông)
(2Cr 4:
11)
Mới vừa
rồi,
nhân
buổi
“thắp
nến
nguyện
cầu cho
quê
hương”
ở
Sydney
hồi đầu
tháng
Mười
2008,
vị linh
mục chủ
sự đã đề
cập đến
điều mà
ông gọi
là “có
một
trùng
hợp”
giữa sự
kiện 117
vị tử
đạo được
phong
thánh
năm
1988; và
gương
can đảm
tử đạo
của giáo
dân ở
Thái Hà,
đã khiến
bần đạo
có một
vài ý
tưởng
mọn hèn
về những
hành xử
sống-chết,
vì Đạo
Chúa.
Chết vì
Đạo, nay
trở
thành đề
tài,
nhiều
người
thắc
mắc, hỏi
rằng:
sống
chết vì
Đạo có
là
chuyện
thật
trong
đời,
ngày hôm
nay? Hay
chỉ là,
lập
trường
xưa cũ,
đã qua.
Rất hạn
hẹp.
“Hơi bị”
cường
điệu?
Quá lý
tưởng?
Nói cách
khác,
lập
trường
“sống
chết vì
Đạo, có
là “chết
trong
lòng một
ít”, cho
Đạo
không?
Và, với
người
đồng Đạo
không?
Thú thật
là, khi
đề cập
đến đề
tài này,
có một
câu hỏi
cứ quẩn
quanh
trong
đầu của
nhiều
bầu bạn
sống đời
đi Đạo,
và giữ
Đạo.
Những
người,
vẫn thắc
mắc: có
chăng
một tử
đạo của
người
mình,
rất hôm
nay? Với
ít
người,
hỏi như
thế là
đã trả
lời. Có
sẵn
trong
đầu.
Như mọi
lần, mỗi
khi nghe
có vấn
nạn, bần
đạo
thường
hay để
lòng
mình
trùng
xuống,
tìm đến
những tư
tưởng
nhà Đạo,
những
câu nói
hoặc ý
nhạc/lời
ca của
các nghệ
sĩ khi
xưa, đã
sống và
từng hỏi
những
câu
tương
tự. Để
từ đó,
có giòng
chảy
ngẫu
hứng, mà
suy tư.
Suy, về
tình yêu
qua mau.
Suy, về
lời ca
người
nghệ sĩ
thân
quen nọ
từng
viết
những
giòng,
như sau:
“Ôi
những
câu
chuyện
lòng,
từ lâu
vẫn như
mùa đông
anh ơi
yêu đi
yêu đi!
nếm thử
thương
đau,
khi hạnh
phúc qua
mau.”
(Trần
Thiên
Thanh –
bđd)
Bản thân
người
viết
nhạc,
khi ấy,
chưa hẳn
là đã
dám sống
- chết
với
giòng
nhạc,
mình
đang
sống.
Nhưng,
có điều
khá chắc
là: nghệ
sĩ viết
nhạc
hoặc thơ
ấy, có
thể vẫn
đang suy
nghĩ
miên
man, dài
dài.
Suy, về
tình tự.
Về,
cuộc-tình
thương-đau
trong
đạo làm
người.
Trong
đời
người đi
Đạo. Một
đời, vẫn
có yêu.
Có
sống/chết
vì Đạo.
Sống đạo
làm
người.
Và, tình
người
sống
đạo, vẫn
là thứ
tình xảy
đến rất
miên
trường.
Vĩnh
cửu. Khó
nguôi
ngoai.
Tình ấy,
có thể
là tình
kéo về
nỗi
chết,
rất đích
thực.
Hay, chỉ
là “chết
trong
lòng”,
một ít.
Cũng rất
Đạo.
Hôm nay,
nghe lại
nhạc-bản
chép ở
trên,
bần đạo
tuy
không
đạo-hạnh
cho lắm,
nhưng
cũng đã
lòng nhủ
lòng,
chia sẻ
vài tâm
tình hèn
mọn về
cái-gọi-là
“chết
trong
lòng”,
vì Đạo.
Chết,
như Thầy
Chí
Thánh đã
dạy phải
chết.
Và, các
thánh
vẫn
khuyến
khích/nhủ
khuyên,
như:
“Kẻ nghe
Lời Ta
và tin
vào Đấng
đã sai
Ta
sẽ có sự
sống đời
đời
và khỏi
đến toà
phán
xét,
nhưng đã
ngang
qua sự
chết
mà vào
sự
sống.”
(Yn 5:
24)
hoặc:
“Quả,
cũng như
nơi
Ađam,
mọi
người
đều phải
chết
thì
trong
Đức Kitô
mọi
người
cũng sẽ
được tác
sinh.”.
(1Cr 15:
22)
Như
thánh
Phao-lô
từng quả
quyết,
cái chết
(dù là
chết vì
Đạo, hay
cho Đạo)
chỉ có ý
nghĩa,
là để ta
được tái
sinh;
để, ta
đi vào
sự sống,
sống lại
“từ cõi
chết”.
Nói khác
đi, chết
vì Đạo
và cho
Đạo mà
không
liên
tưởng
đến,
hoặc vì
sự sống
lại cùng
với Đức
Kitô,
thì chỉ
là cái
chết
“lãng
xẹt”, vô
bổ.
Và,
thánh
nhân còn
nói về
sự chết
vô ích,
như sau:
“Tuy
sống đó,
nhưng
chúng
tôi luôn
luôn bị
phó nộp
cho án
chết, vì
Đức
Giê-su
ngõ hầu
sự sống
của Đức
Giê-su
cũng
được
hiện tỏ
nơi cái
xác chết
dở của
chúng
tôi.
Ấy vậy,
sự chết
đã hoạt
động nơi
chúng
tôi,
Còn sự
sống,
lại hoạt
động nơi
anh em.”
(2 Cr 4:
11)
Xem như
thế,
sống dở
chết dở,
hay sống
dở chết
thiệt,
mà vẫn
không
phải là
sống
chết vì
Đức
Giê-su,
thì cũng
chỉ là
sống mà
như
chết,
hoặc
chết
chẳng để
làm gì.
Là, sống
hoặc
chết, cứ
ương
ương dở
dở, như
thế
thôi!
Và ở
đây, bần
đạo
không có
tư cách
và cũng
chẳng có
thẩm
quyền để
nhận
định
hoặc phê
phán
cuộc
sống và
nỗi chết
(thực
hay dở),
của bất
cứ ai.
Đấng
thánh
nào. Hay
ông thần
nào, đã
chết.
Mà, chỉ
muốn
nhân dịp
này,
luận bàn
về đề
tài: có
chăng
các vị
được gọi
thánh,
thời hôm
nay? Nói
nôm na,
hỏi
rằng:
ngày
nay, có
cụ nào
sống
đích
thực
lành
thánh,
như
thánh
sống?
Và, chí
ít về
một câu
hỏi: là
con cháu
các đấng
tử Đạo,
ngày nay
ta vẫn
cần nên
thánh,
chứ?
Trả lời
câu hỏi
ở trên,
thật ra
cũng
chẳng
khó.
Bởi,
theo dõi
báo/đài
truyền
thông
hằng
ngày, ai
rồi cũng
nhận ra
rằng,
với các
vị Giáo
hoàng
đương
đại, ta
đều thấy
có những
cuộc
phong
thánh
cho rất
nhiều vị
sống
cùng
thời,
với ta.
Gần đây
nhất,
là: việc
phong
chân
phước
cho song
thân phụ
mẫu
thánh nữ
Têrêxa
Hài Đồng
Giê-su,
nữa. Và
tiêu
biểu hơn
cả, là
các vị
thánh
sống
thời
đương
đại được
mọi
người
coi như
đã thành
thánh,
như: Mẹ
Têrêxa
thành
Calcutta,
Đức cố
Giáo
Hoàng
Gio-an
XXIII,
và Đức
Gio-an
Phao-lô
Đệ Nhị,
nhất
nhất đều
là các
vị lành
thánh,
cả khi
còn
sống.
Thánh
sống hay
sống
thánh,
là vấn
đề của
mọi
thời.
Không
chỉ vào
thời có
bức
bách,
cấm Đạo.
Nhưng,
là những
vị đã
thể hiện
cuộc
sống
đúng như
đòi hỏi
của Đức
Chúa.
Nơi Tin
Mừng.
Tức: hôm
nay, ai
sống Đạo
theo đòi
hỏi của
Tin
Mừng, sẽ
được gọi
là
thánh.
Rất
thánh,
là đàng
khác.
Trả lời
các vấn
nạn ở
trên,
tưởng
cũng nên
xem xét
ngôn-từ
mà nhiều
vị từng
dùng để
xưng
tụng dân
con nhà
Đạo mình
là
thánh.
Cũng là
ý kiến
khá hay.
Theo
thiển ý,
lâu nay,
Giáo hội
mình
được gọi
là Hội
thánh,
tức bao
gồm các
thành
viên,
sống tốt
lành,
thánh
thiện.
Theo
đúng
nghĩa.
Là
thánh,
tức là
những
người
biết
sống cho
phải
đạo. Tốt
lành.
Hành
thiện.
Luôn
giùm
giúp/đỡ
đần, hết
mọi
người.
Cả những
người
thân cô,
thế cô.
Không
giúp để
lấy
tiếng.
Hoặc, để
có thể
nhờ vả
về sau.
Là
thánh,
tức
những
người
“sống
cùng” và
“sống
với”
trong
cộng
đoàn
Nước
Trời, ở
trần
gian. Ở
nơi đó,
mọi kiêu
căng/ngạo
mạn, bất
công/bạo
lực,
giận hờn
hoặc
ghét
ghen,
hiếp đáp
lẫn thù
hận… đều
không có
chỗ
đứng.
Chẳng
thế mà,
khi xưa,
cộng
đoàn tín
hữu ở
giáo
đoàn,
khắp
nơi, đều
được
thánh
Phao-lô
nhất cử
nhất
động,
gọi là
thánh.
Và,
thánh.
Chẳng
thế mà,
khi viết
cho dân
con nhà
Đạo ở
giáo
đoàn “có
vấn đề”,
như giáo
đoàn
Cô-rin-thô,
Phao-lô
thánh
nhân,
cũng đã
viết:
“Kính
gửi Hội
thánh
của
Thiên
Chúa
tại
Co-rin-thô”
(1Cr 1:
2)
Với giáo
đoàn
Ga-lát
đang
trong
vòng
tranh
tụng và
cãi vã,
thánh
nhân còn
viết:
“Phao-lô
Tông đồ
không
phải do
loài
người
hay nhờ
một
người
nào,
mà nhờ
Đức
Giê-su
và Thiên
Chúa Cha
kính gửi
các hội
thánh xứ
Galát..”
(Ga 1:
1)
Theo
ngôn ngữ
người
mình, ta
vẫn có
thói
quen đề
cao
“thiên
chức”
làm mẹ,
của các
bà mẹ
Công
Giáo,
tức:
chức
năng rất
lành và
rất
thánh,
của
người
mẹ. Có
lẽ ở
đây,
cũng nên
hỏi: ta
có nên
đề nghị
phong
thánh
cho các
bà mẹ
nói
chung,
và nhất
là các
bà mẹ
Việt
Nam, vào
buổi
nhiễu
nhương,
sống
dưới uy
lực của
bạo tàn,
không?
Của giới
chức ở
bên
trên,
rất độc
tài. Rất
toàn
trị. Vì,
phải là
người
thánh
thiện
lắm mới
dám
“vượt
cạn”,
mang rất
nặng và
đẻ rất
đau; rồi
còn,
nuôi con
cho ăn
cho học
đến khi
con
thành
nhân,
thành
tài mà
chẳng
cần gì
chuyện
đền đáp.
Phải là
thánh
ghê lắm,
mới vui
lòng
chấp
nhận
cuộc
sống bấp
bênh,
hãi
hùng.
Một thân
một
mình,
chăm cơm
nuôi
chồng ở
tù/học
tập “cải
tạo”;
lại còn,
tay xách
nách
mang,
một bầy
con cái
đùm đề.
Vậy thì,
các bà
mẹ đâu
có thua
gì các
đấng tử
đạo vì
“tình
thương”,
như Chúa
dạy?
Và, vấn
nạn cuối
có lẽ sẽ
là câu
hỏi:
ngày
nay, có
ai được
gọi là
thánh
“Tử
Đạo”,
chăng?
Hôm nay,
nếu quan
niệm
sống
Đạo, là
sống
đúng tư
cách của
người đi
Đạo. Là,
sống
luôn
luôn cổ
vũ/thực
hiện
cuộc
sống yêu
thương
giùm
giúp,
thì câu
trả lời,
thật rất
dễ. Thật
vậy,
ngày
nay, vẫn
còn thấy
nhiều
đấng
thánh,
rất
thánh
dẫy đầy
nơi phố
chợ,
nhưng
không
được
hoặc
chưa
được
gọi/chưa
được
phong
làm
“thánh
nhân”
(như
định
nghĩa
của một
số
tự-điển
rất phàm
trần)
đang ở
cạnh ta.
Bên ta.
Mà không
biết.
Như các
bà mẹ.
Ông bố.
Như
người
tình, dù
có chân
dung hay
là
không.
Như,
người
phối
ngẫu, cố
gắng ở
với nhau
suốt
đời, chỉ
vì yêu.
Yêu thật
sự. Yêu,
trong
nhịn
nhục. Có
hy sinh.
Có từ
bỏ. Vì
người
mình
yêu. Yêu
như con
trẻ.
Sống như
trẻ thơ.
Ở đâu
đó. Chốn
thế
trần.
Nói tóm
lại,
những ai
sống đời
công
chính,
sống như
trẻ nhỏ,
dám chết
đi cho
những
tính hèn
và mọn
của
mình,
đều xứng
đáng
được gọi
là
“thánh”.
Và, mỗi
ngày ta
vẫn
thường
“tử vì
đạo”,
đấy chứ!
“Tử vì
đạo”, là
chết cho
lòng
tham –
sân -
si, có
những
hờn
ghen. Tị
hiềm.
Tranh
chấp.
Bởi, nếu
không
chết đi
cho
những
thứ lòng
thòng ở
trên,
thì làm
sao ta
có thể
trở
thành
Kitô-hữu
đích
thực
được?
Và,
những ai
có tâm
trạng
trẻ thơ
như
truyện
kể bằng
thư ở
dưới, có
nên gọi
họ là
thánh,
hay
chăng?
Truyện
kể rằng:
“Thiên
Ân là
trẻ thơ,
lĩnh
nhận ân
sủng từ
bậc
Thánh
Hiền,
được mẹ
giáo dục
là phải
cố sống
đời thơ
trẻ
thiên
thần,
vào mọi
lúc. Bất
cứ lúc
nào,
cũng
phải
hành xử
như
thiên
thần nhỏ
bé, rất
nên thơ.
Việc gì
xảy đến
dù không
thích,
cũng
đừng
quên
thưa
Chúa,
thưa Cha
bằng
những
câu
kinh,
hoặc thư
từ, rất
nhẹ. Hôm
ấy, bé
em Thiên
Ân có
người
bạn thân
tên
Tô-tô,
đột
nhiên
qua đời,
sau cơn
sốt.
Thiên Ân
bèn thỏ
thẻ với
Chúa,
bằng văn
thư, như
sau:
Lạy Chúa
dấu yêu,
Con vừa
mất đi
người
bạn thân
yêu nhất
trên
trần,
Bạn của
con tên
là
Tô-tô.
Chú bé,
tự dưng
đột xuất
đau ốm.
Bỏ con
lại,
không
người
chơi.
Thấy con
buồn, ba
má bảo:
trên
thiên
đàng,
vẫn đủ
chỗ cho
Tôtô và
cả con
nữa.
Vậy hôm
nay, con
thưa với
Chúa,
Chúa ơi,
Chúa hứa
với con
đi. Hãy
hứa là:
sẽ cho
Tôtô
cùng con
ở trên
đó.
Tôtô lúc
nào cũng
xử tốt
với con
hết đó,
không có
vấn đề
gì.
Nên con
nghĩ:
nếu loài
chó được
lên
thiên
đàng
Thì Tôtô
của con
rất xứng
đáng,
lắm đó.
Tôtô
cũng sẽ
thành
thánh,
có thua
ai đâu.
Và sau
này, khi
con
chết,
con sẽ
nói với
Chúa cho
ở gần
bên mãi,
với
Tôtô.
Vậy bây
giờ,
Chúa săn
sóc cho
Tôtô của
con nhé.
Chúa
đừng
quên dắt
nó ra
ngoài,
cho nó
đùa giỡn
và chạy
nhảy mỗi
ngày
nhé,
Lạy Chúa
yêu dấu
của con.
Ký tên
Con tên
Thiên
Ân, đó
Chúa.”
Chuyện
thánh
nhân,
theo
nhãn
quan của
trẻ thơ,
rất trẻ,
cũng nhè
nhẹ. Thơ
bé. Như
các
thánh ở
chốn
gian
trần.
Chốn
sống, có
vần thơ.
Có ý
nhạc rất
nhè nhẹ,
như sau:
“Ôi,
những
câu
chuyện
lòng
làm thơm
ngát
thêm
tuổi
hồng
Em ơi
yêu đi,
yêu đi
Trên
đỉnh yêu
đương
Gió tỏa
thêm
hương...”
(Trần
Thiện
Thanh –
bđd)
Yêu, như
tình yêu
rất thơ
rất trẻ,
của trẻ
bé rất
nên thơ.
Yêu và
chết, để
tình yêu
đơm mầm,
nảy
chồi,
những
hoa lá.
Đó, là
tâm
trạng
rất
thánh,
của
thánh
nhân.
Tâm
trạng,
rất đáng
sống đời
tử Đạo.
Vì Tình
Yêu. Của
Thầy Chí
Thánh
rất Nhân
Hiền.
Rất
Kitô.
Trần
Ngọc
Mười Hai
Vẫn quan
niệm
thánh
thiện là
như thế.
Cũng nhè
nhẹ
như
thiên
chức làm
mẹ,
như tuổi
thơ, rất
thánh.
(xem
thêm các
bài cũ,
xin mời
vào
www.tranngocmuoihai.blogspot.com)