“Cả
không
gian là
bể sáng
tràn
lan…”
Rồi sắc
đẹp hiện
ra trong
chính
phẩm
Linh
thiêng
như mây
nước
đỉnh Nga
My!
Và muôn
hồn hoa
lên vì
say
ngấm.
Và muôn
lòng
phát
tiết cả
uy nghi.
(dẫn
nhập
bằng thơ
Bích
Khê)
(Ga 20:
19-23)
Cả
không
gian là
bể sáng,
khi Thần
Linh
Chúa,
hiện
đến.
Ngài
đến,
trong
chính
phẩm,
linh
thiêng
như mây
nước. Có
muôn
lòng
phát
tiết cả
uy nghi.
Có tình
tự của
thi
nhân,
diễn tả
hết nét
đẹp, với
muôn
người.
Phải
chăng,
đây cũng
là ý
nghĩa mà
trình
thuật lễ
Ngũ
Tuần, đã
ghi lại.
Trình
thuật lễ
Ngũ Tuần
hôm nay,
thánh sử
Gio-an
viết về
công
trình
tổng thể
khởi từ
tuần
thánh.
Tổng thể
công
trình,
gồm cuộc
Vượt
Qua,
tiến đến
sự chết.
Có Phục
Sinh. Có
Thăng
Thiên.
Có lễ
Ngũ
Tuần,
ngày
Thần
Linh
Chúa ngự
đến, rất
đầy đủ.
Tất cả,
nói lên
thực
trạng
công
trình
cứu độ,
luôn soi
rọi tâm
can con
người,
trong
hành
trình
hiệp
thông
với
Chúa,
vào mỗi
ngày.
Như đã
thấy ở
trình
thuật
ngày
Thăng
Thiên
tuần
trước,
truyền
thống
giáo lý
Hội
thánh
thời
tiên
khởi có
khuynh
hướng
thẩm
định ý
nghĩa
của lễ
Ngũ
tuần,
qua các
chương
đoạn rút
từ sách
Công vụ
Tông đồ.
Điều
này,
được bộc
lộ rõ
nơi bài
đọc thứ
nhất.
Trong
khi đó,
Tin Mừng
thánh
Gio-an
cho
thấy:
Đức
Kitô,
trước
khi Ngài
về trời,
đã trao
ban Thần
Linh
Chúa cho
các đồ
đệ. Đồng
thời,
Ngài còn
uỷ thác
cho các
thánh sứ
vụ rao
truyền
Tin Vui
Cứu Độ
đến với
mọi
người.
Hai
trình
thuật sử
dụng
phương
cách
khác
nhau, để
nói lên
cùng một
thực
tại.
Thực tại
này,
không
đặt nặng
về thời
gian và
nơi
chốn/địa
điểm xảy
ra công
trình
cứu độ,
Ngài đem
đến.
Theo Tin
Mừng, sự
kiện này
xảy đến
vào ngày
thứ nhất
trong
tuần,
tức Chúa
Nhật
Phục
Sinh.
Vào tình
huống
lúc ấy,
các môn
đệ co
cụm
trong
phòng
kín, e
rằng sẽ
có ruồng
bắt,
hành
hình
hoặc tệ
hơn.
Nhưng
bất
chợt,
Chúa đã
hiện
diện
giữa các
thánh.
Ngài
chào hỏi
mọi
người
bằng
những
lời chào
thân
thương:
“”Shalom”
-
Bình an
cho các
con”.
Lời
chào,
còn là
lời chúc
phúc an
lành.
Bởi, Đức
Chúa của
Bình An
đang ở
giữa các
thánh,
không
còn gì
phải sợ
hãi. Và,
niềm vui
đã đến
với mọi
người.
Chúa
đến,
Ngài đem
Hoà Bình
lẫn An
Vui hoà
lẫn nơi
tâm hồn
mọi con
dân, cần
thương
mến. Và
cũng vào
lúc ấy,
Chúa uỷ
thác các
công
việc
linh
thiêng
trọng
đại:
“Như Cha
đã sai
Thầy,
Thầy
cũng sai
anh em.”
Như thế,
là mọi
người
nay đã
có công
tác để
làm.
Không
còn thu
người
lại mà
ẩn lánh.
Nhưng,
hiên
ngang
nhận bài
sai dấn
bước ra
đi, làm
việc
nghĩa.
Việc
nghĩa ở
đây, là:
thiết
lập
Vương
Quốc
Nước
Trời, ở
nơi nào
mình đặt
chân
đến.
Cùng với
bài sai
Ngài
trao,
Đức Kitô
còn
thổi
hơi vào
người
các môn
đệ.
“Hơi
thở”
và
“thần
khí”,
bên
tiếng Hy
Lạp đều
một
nghĩa.
Chúa thở
hơi, để
dân con
đồ đệ
nhớ việc
Gia-vê
Thiên
Chúa
dùng hơi
sự sống
thổi vào
cõi bụi
mù, đưa
con
người
vào chốn
ngàn
năm,
hiện
diện. Ở
đây nữa,
khi thở
làn hơi
sống
động vào
người,
Chúa tái
tạo đồ
đệ thành
con-người
mới.
Con-người,
mà thánh
Phao-lô
có nói
trong
thư gửi
giáo
đoàn
Cô-rin-thô,
tức
người
con đầy
Thần Khí
Chúa
nhận
hiệu
lệnh
tiếp tục
rao
truyền
Bình An
và Niềm
Vui
sống,
đến muôn
dân.
Thực thi
hiệu
lệnh,
các
thánh có
toàn
quyền
thứ tha
tội nhân
và hoà
giải đưa
họ về
lại
trong
tương
quan mật
thiết
với
Chúa.
Với mọi
người.
Để mọi
người
trở
thành
những
người
anh
người
chị, và
con em
có cùng
một Cha.
Hoà giải
còn có
nghĩa,
chữa
lành vết
thương
đau ẩn
tàng
dưới mọi
hình
thức của
những rẽ
chia.
Hận thù.
Đây là
công tác
mà thành
viên
Nước
Trời đều
được mời
gọi, để
thực
thi.
Bài đọc
thứ
nhất,
thánh
Lu-ca
thuật
lại kinh
nghiệm
mà thành
viên
Nước
Trời
thời
tiên
khởi đã
từng
trải.
Đôi khi,
kinh
nghiệm
từng
trải này
được coi
như Xuất
Hành lần
nữa.
Xuất
Hành là
bởi, làm
ta nhớ
việc
Gia-vê
Thiên
Chúa
giải
thoát
dân Do
Thái
khỏi
vòng vây
nô lệ,
xứ Ai
Cập.
Trong
Xuất
Hành lần
nữa,
cũng có
hai sự
kiện
tương
tự:
cơn gió
Thần Khí
Chúa,
mà Tin
Mừng
thánh
Gio-an
gọi là
“hơi
thở”.
Và, có
cả lửa
ngọn
theo
hình
lưỡi ,
phủ trùm
hết cả
mọi
người có
mặt.
Như một
Xuất
Hành
đích
thực, có
quyền
năng
Thiên
Chúa
đang phủ
trùm, và
hiện
hữu.
Xuất
hành có
lửa ngọn
phủ
trùm,
làm mọi
người
nhớ lại
tình
huống
khi xưa
mỗi lần
Gia-vê
phán bảo
điều gì
với tổ
phụ
Mô-sê,
Ngài đều
ra hiệu
lệnh đi
đến với
dân
mình.
Lửa
ngọn,
còn làm
ta liên
tưởng
đến các
cột lửa
dẫn dắt
dân con
người Do
Thái
băng qua
sa-mạc.
Lửa ngọn
hay cột
lửa, vẫn
cho thấy
con cái
của Chúa
chẳng hề
bị bỏ
rơi, bao
giờ.
Kinh
nghiệm
tiếp cận
với
Chúa, đã
giúp dân
con đồ
đệ không
còn biết
hãi sợ.
Nhưng,
nay đã
biết san
sẻ các
kinh
nghiệm
cho mọi
người.
San sẻ,
cả kinh
nghiệm
có chung
với Đức
Kitô, cả
vào giai
đoạn
chịu
hành
hình, tù
tội. Nay
không
còn biết
sợ.
Cùng lúc
với kinh
nghiệm
được sẻ
san, là
quyền
năng ban
cho các
thánh
được
hiệp
thông,
trao
đổi. Tín
thư hiệp
thông
ấy, đã
được đón
nhận và
mọi
người
đều đã
hiểu.
Đến độ,
các rào
cản
Babel về
ngôn ngữ
đã bị bẻ
gãy. Đây
không
chỉ là
đặc sủng
về khoa
ăn nói,
nhưng
còn là
cách
thức cho
thấy tín
thư của
Đức Chúa
đã được
chuyển
tải và
mọi
người
đều đón
nhận.
Nhận với
tất cả
tấm
lòng,
như Sách
đã viết:
“Tâm
hồn ta
sẽ chẳng
được
nghỉ yên
cho đến
khi lửa
Thần Khí
yên nghỉ
trong
ta.”
Khi lửa
Thần Khí
ở trong
ta, là
ta được
mời dự
phần
sống
trong
Nước
Trời, có
Thần
Khí.
Và, kinh
nghiệm
sống
trong
Nước
Trời có
Thần
Khí,
được
thánh
Phao-lô
diễn tả
trong
bài đọc
2 như
sau:
“Không
ai có
thể nói:
Đức
Giê-su
là
Chúa”,
nếu họ
không ở
trong
Thần Khí
Chúa”
(1Cr
12: 3).
Nói: Đức
Giê-su
là
“Chúa”,
không
chỉ là
lời nói
lên lòng
sùng
Đạo,
nhưng
còn hàm
ngụ niềm
tin vào
Ngài.
Tin, và
chứng tỏ
niềm tin
của
mình,
bằng
cách
sống cho
ra
sống.
Sống
chứng tỏ
có Thần
Khí Chúa
ở với
mình,
còn là
ân huệ
mà thành
viên
cộng
đoàn
Nước
trời đều
nhận
lĩnh.
Thần khí
Chúa, là
nguồn ân
sủng vẫn
hiệp
nhất nối
kết
những ai
nhận
lĩnh ơn
ấy về
sống với
nhau,
thành
cộng
đoàn. Ơn
Thần Khí
ban cho,
không là
ân huệ
riêng tư
cho mỗi
mình.
Nhưng,
là khả
năng đặc
biệt
giúp ta
phục vụ
nhu cầu
của
người
khác
trong
cộng
đoàn
Nước
Trời,
nữa. Xem
như thế,
sử dụng
ân đặc
sủng để
cùng làm
việc với
nhau ngõ
hầu dựng
xây cộng
đoàn
mình
đang
sống.
Tính
theo số
lượng,
chúng ta
là đám
đông, số
nhiều.
Nhưng
qua tác
động của
Thần
Khí, ta
trở nên
một tổng
thể,
trong
cùng
Thân
Mình Đức
Kitô.
Chỉ một
Chúa.
Như
thánh
Phao-lô
đã xác
định:
“Vì
trong
Thần Khí
độc
nhất,
hết thảy
ta được
thanh
tẩy mà
nhập vào
Thân
mình độc
nhất, dù
là Do
Thái hay
Hy Lạp,
nô lệ
hay tự
do; hết
thảy ta
được
cùng
uống
Thần Khí
độc
nhất.”
(1
Cr 12:
13)
Thần Khí
Chúa, là
con
đường
của tự
do và
giải
thoát.
Thần Khí
Chúa
không là
đường
dẫn đến
tình
trạng nô
lệ, dù
đó là nô
lệ thân
xác,
tiền của
và tham
vọng.
Bằng vào
Thần
Khí, và
qua Thần
Khí ta
được
hiệp
thông
tương
quan với
Chúa,
Đấng cho
phép ta
gọi Ngài
là
“Abba”
(Cha/Ba).
Ngập
tràn
thần
Khí, ta
thực sự
là con
cái Chúa
theo
nghĩa
đầy đặn
nhất.
Và, là
ảnh hình
sống
động của
Cha ta.
Thần Khí
biến ta
thành
đồng-thừa-tự
với Đức
Kitô để
cùng
chịu khổ
hình và
cùng
vinh
quang
với
Ngài.
Có được
Thấn Khí
Chúa ở
cùng, ta
toả sáng
Thần Khí
bằng lời
nói và
gương
sống
lành
mạnh. Để
rồi, mời
gọi
người
khác san
sẻ đặc
sủng ấy.
Ta vẫn
biết,
đặc sủng
Thần Khí
không để
ta hưỏng
một
mình,
nhưng sẻ
san. Như
đã thấy,
đồ đệ
Đức Kitô
sau khi
nhận
lĩnh
Thần
Khí, đã
không ở
lại
trong
phòng
kín
hưởng
thụ.
Nhưng,
đã bung
đi khắp
nơi. Đi,
mà kể
cho thế
giới
biết
tình
Chúa
thương
yêu mọi
người.
Và, ta
muốn mọi
người có
kinh
nghiệm
về tình
thương
yêu ấy.
Trong
hân hoan
nhận
Thần
Khí, ta
cùng hát
lên lời
ca của
người
nghệ sĩ
đời
thường,
thuở
trước:
“Ta cánh
chim
lướt bay
thênh
thang
đem sức
gieo
khắp nơi
oai vang
cho phỉ
chí tang
bồng
Đi đi đi
cùng
nhau ta
cười
Cười
tiếng
cười
muôn đời
còn luôn
xinh
tươi.
Đôi mắt
ta ngời
lên ngàn
tia sáng
Sáng cho
đời hùng
luôn
không
thôi
(Văn
Giảng –
Đoàn
người
phiêu
lưu)
Vâng.
Đi, đi
đi cùng
nhau ta
cười.
Cười
vui, vì
đã có
Thần Khí
Chúa,
dẫn bước
ta đi.
Đi đi,
đôi mắt
ngời lên
tia
sáng.
Sáng cho
đời.
Sáng cho
người.
Vì, đời
đã có
Thần Khí
Chúa.
Vì,
người đã
có bạn
và có
ta. Có
cả không
gian, là
bể sáng
tràn
lan…
những
đặc
sủng.
Lm
Phan Đỗ
Thục
Linh.
Mai
Tá diễn
dịch.
(xem
thêm bài
cũ, xin
vào
www.suyniemloingai.blogspot.com)