MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Kho Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Nhạc Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 
TRẢ LƠI BẠN: THÁNH KINH,THÁNH QUYỀN VÀ HUẤN QUYỀN
 
       Hy vọng bạn  Bùi Xuân Thanh là Giảng viên Giáo lý ,đề nghị bạn đọc câu trả lời dài nhưng cam đoan sẽ hữu ích cho bạn.
 
I - KINH THÁNH LÀ GÌ ?
 
1. Từ ngữ:
 
Lần đầu tiên trong văn chương tôn giáo Israen, sách Macabê quyển một (thế kỷ hai trước Công nguyên) dùng từ ngữ “Kinh Thánh” để chỉ tất cả các sách Cựu Ước.
 
Trước đó, Sách Thánh được gọi bằng các từ ngữ cụ thể: sách Luật của Môisen (để chỉ năm quyển đầu tiên: Khởi nguyên, Xuất hành, Lêvi, Dân số, Thứ luật), sách của Đavid (để chỉ sách Thánh vịnh), sách của Salomon (để chỉ sách Khôn ngoan). Câu nói “Lề luật, Các Tiên tri và các Sách khác" trở nên thành ngữ để chỉ toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước (xem sách Huấn ca, bài tựa).
 
Sang tiếng Hylạp, người ta dùng chữ “Ta Biblia”, để chỉ tất cả bộ Kinh Thánh. Ta Biblia có nghĩa là “những tấm da viết chữ cuộn tròn lại”.
 
Ta nên biết thời xưa chưa có giấy viết như chúng ta. Người ta viết chữ trên lá cây kè, trên võ cây, trên tấm gỗ có trét lớp sáp, lớp kim loại chì, trên những miếng đất sét rồi nung chín, trên những tấm da. Vì dùng nhiều vật liệu viết khác nhau, sách vỡ mang nhiều tên cụ thể khác nhau :
 
- Thanh sử (sử xanh) vì người Trung Hoa viết sử trên những thẻ tre có cật xanh.
 
- Papyrus - là loại cây chỉ thảo, mọc rất nhiều ở châu thổ sông Nil nước Aicập, thân cây cấu tạo bởi sợi và gỗ mềm, người ta cắt thành dải dài, ép chặt và phơi khô thành những “tờ giấy” rộng không quá 15cm, nhưng chiều dài có thể tới 50 mét. Tờ giấy cuốn tròn lại, vì thế mới gọi là “volumen” (do động từ volvere, cuộn tròn). Aicập sản xuất và xuất khẩu papyrus. Tất nhiên, thời đó, người ta dùng giấy papyrus để sao chép Kinh Thánh. Ngày nay, còn giữ lại được một số bản sao:
 
Papyrus Nash bằng tiếng Do thái (Hébreu), sao chép khoảng thế kỷ hai sau Công nguyên, gồm có bản Hiệu đính Mười giới răn trong sách Xuất hành (Xh 20, 2-17) và ít khoản của Thứ luật (Tl 6,4 ...).
 
Papyrus Rylands sao chép khoảng năm 150, gồm có một số câu Phúc Âm theo Thánh Gioan, chương 18 (Jn 18, 31-33, 37, 38).
 
Papyrus Bodmer II sao chép khoảng năm 200, gồm các chương I đến chương 14 Phúc âm theo thánh Gioan trừ 6, 11-35.
 
Papyrus Chester Beatty gồm có một số sách Cựu Ước (Khởi nguyên Isaia, Ezékiel, Daniel, Esther) sao chép khoảng thế kỷ hai sau Công nguyên, và gần trọn bộ Tân Ước trừ các thư mục vụ của Thánh Phaolô (1, 2 Timôthê và Titô) viết vào thế kỷ 3.
 
Parchemin - là những miếng da cừu hoặc dê cạo sạch, làm giấy viết, sáng chế tại Pergame, thủ đô Mysie, vì thế mới gọi là “parchemin” (perhamena charta = papyrus của xứ pergame).
 
Codex - da được cắt thành từng miếng và khâu dây thành sách gọi là codex. Có nhiều codex nổi tiếng :
 
Codex Vaticanus (gọi như vậy vì Thủ bản này thuộc thư viện Vatican), gồm Cựu Ước và Tân Ước trừ sách Macabê, sao chép khoảng thế kỷ 2, bằng Hy lạp ngữ.
 
Codex Sinaiticus (gọi như vậy vì tìm thấy ở tu viện thánh Cathérine, núi Sinai) viết bằng tiếng Hy lạp, gồm Cựu Ước và Tân Ước với cả thư Barnabê và sách Pasteur d'Hermas không thuộc Kinh Thánh, sao chép khoảng thế kỷ 4.
 
Codex Alexandrius, viết bằng chữ Hy lạp khoảng thế kỷ 5, gồm có Cựu Ước trừ đôi đoạn sách Khởi nguyên, I Samuen, mất Thánh vịnh, Tân Ước thiếu phần lớn Phúc âm theo thánh Mathêu, thiếu hai chương Phúc âm theo Thánh Gioan, và chương 7 thư 2 Corinto ngoài ra còn có thư của thánh Clêmentê Roma không thuộc Kinh Thánh (Codex này thuộc tài sản tòa thượng phụ Alexandrie).
 
Codex Ephraemi sao chép bằng tiếng Hy lạp, thuộc thế kỷ 5, mang danh thánh Ephrem, gồm có Cựu Ước thiếu một phần sách Khôn ngoan) và Tân ước (thiếu 2 Thess và 2 Jn).
 
Codex Bexae sao chép bằng tiếng Hy lạp khoảng thế kỷ 5-6 gồm có Tân Ước.
 
Những từ ngữ Papyrus, Parchemin, Codex bây giờ ta hãy để cho các nhà chuyên môn dùng. Còn chúng ta, ngoài thành ngữ chỉ toàn bộ Cựu Ước (Lề Luật, các Tiên tri và các Sách khác), chúng ta nhớ tới tiếng “Biblia” chỉ toàn bộ Kinh Thánh lẫn Cựu và Tân Ước. Ngoài ra cũng nên nhớ tới kiểu nói “Có Lời đã chép, đã viết” (Il est écrit, xem Mt 4, 4-7) để chỉ Kinh Thánh Cựu Ước. Đáng lẽ nói “Thiên Chúa Giavê đã phán”, người ta nói "Có Lời đã chép, đã nói” tức là dùng thụ động cách để tránh kêu đến thánh danh Giavê, có mục đích vừa nhấn mạnh tới sự thánh thiện vô phương đạt tới của Thiên Chúa vừa chỉ sự trung tín, không bao giờ suy chuyển của lời Chúa phán.
 
Nếu so sánh các kiểu nói của Do thái và Hy lạp, kiểu nói Do thái dài nhưng ý nghĩa rất phong phú. Đó là tâm lý của người Đông phương. Tên đặt thường mang một ý nghĩa. Dân Việt ta cũng vậy. Đặt cho người này là Hiền, là Dũng là mong muốn cho người đó có đức tính hiền lành, hoặc cam đảm). Dân tây phương không có thói quen đó. Từ ngữ “Ta Biblia” (tấm da viết chữ cuộn tròn) dùng để chỉ Lời Chúa được chép lại, quả thực nội dung từ ngữ đó không nói lên ý nghĩa như vậy, vì nó chỉ có nghĩa là sách, tập sách. Vì thế, người ta thêm tĩnh từ “thánh” vào, gọi là Sách Thánh (la sainte bible) làm cho nó có nội dung phong phú. Tiếng Việt gọi là Kinh Thánh (theo cách nói tiếng Nôm) hoặc Thánh Kinh (theo cách nói tiếng Hán) càng có ý nghĩa hơn :
 
- Kinh là sách chép lời thánh hiền.
 
- Thánh chỉ sự thiêng liêng, quyền phép (thí dụ: thuốc thánh, hay như thuốc thánh) hoặc chỉ trí tuệ, đạo đức cao vời (thí dụ : thánh hiền, thánh sư, giỏi như ông thánh, đạo đức như thánh). Nhưng từ ngữ “thánh” trong Kinh Thánh còn vượt lên trên các ý nghĩa trên, vì nhấn mạnh tới hoạt động “thánh” của Chúa Thánh Thần, tới ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần tác động nơi các văn sĩ viết Kinh Thánh (Thánh ký). Vì thế, mọi lời viết ra trong Kinh Thánh thực là thánh như thánh Phêrô khẳng định : “Không bao giờ một lời Tiên tri lại do người phàm tự ý viết ra, trái lại chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có người đã viết ra nhân danh Thiên Chúa” (2 Phêrô 1,21). Và thánh nhân đã chỉ cho biết giá trị của những lời thánh Phaolô viết ra : “chiếu theo sự khôn ngoan của Chúa mà anh Phaolô đã viết ra cho tín hữu” (2 Phêrô 3,15), và Ngài gọi đó là Kinh Thánh (xem 2 Phêrô 3,16). Cùng lập trường với Thánh Phêrô, thánh Phaolô viết : “Tất cả Kinh Thánh đã được Thiên Chúa linh hứng, có ích cho việc giảng dạy, biện bác, tu chỉnh và đào tạo trong đường công chính” (2 Timôthê 3, 16).
 
Như vậy, tạ tạm định nghĩa : KINH THÁNH là sách do Chúa Thánh Thần linh hứng cho Thánh ký viết ra.
 
2. Một quyển sách có hai tác giả
 
Thánh Thần linh hứng / Thánh ký viết ra. Một quyển sách có hai tác giả (kẻ làm ra). Ta phải hiểu Thiên Chúa và Thánh ký làm việc như thế nào? viết như thế nào ?
 
- Phải chăng Thiên Chúa phán và Thánh ký lắng tai nghe rồi chép ra ? (thầy đọc cho học trò chép, viết chính tả).
 
- Phải chăng Thiên Chúa mạc khải cho Thánh ký những chân lý, những đề mục rao giảng rồi để cho Thánh ký dùng ngôn ngữ của mình viết ra thành bản văn hẳn hoi ?
 
Cách thứ nhất, Thánh ký chỉ là viên thư ký, không thể gọi là tác giả được. Chính “bản thân” Kinh Thánh phi bác giả thuyết này, vì nếu do một ông thầy đọc cho thì các học trò viết “y chang”, đàng này, mấy Thánh ký cùng viết về một đề tài mà văn khác nhau, thậm chí có những Lời Chúa khác nhau. Thí dụ: viết về Chúa Giêsu lên trời, thánh Matthêu nói Chúa lên trời ở Galilê, thánh Luca nói ở Giuđa (Giêrusalem)?
 
Cách thứ hai, Thiên Chúa là tác giả nội dung mạc khải, còn Thánh ký là tác giả văn chương. Cách này thường gặp trong các bài diễn văn của các nhà lãnh đạo. Thí dụ: bài diễn văn của quốc trưởng, của Đức Giáo Hoàng, luôn luôn do một ban nhân viên soạn thảo theo nhũng tư tưởng của Người thành bài văn rồi đệ trình Người xem lại. Khi đọc, Người diễn tả quan điểm của mình cho phái đoàn v.v... Ai cũng bảo bài diễn văn này của Người. Đúng như vậy vì tư tưởng bài văn của Người và Người chấp nhận văn chương của ban chuyên môn diễn tả tư tưởng của Người, dĩ nhiên cũng phải chấp nhận tài viết văn, tài liên tả tư tưởng trong sáng, lưu loát của ban chuyên viên. Họ không phải là những viên thư ký ghi chép, “sao y bản chính”, nhưng họ đã góp phần sáng tạo làm nên bài diễn văn.
 
Tuy nhiên, cách thứ hai nầy cũng không thể dùng để cắt nghĩa Thiên Chúa và Thánh ký là tác giả Kinh Thánh được vì Thiên Chúa chẳng những là tác giả nội dung Kinh Thánh mà còn là tác giả văn chương của Kinh Thánh nữa, còn Thánh ký chẳng những là tác giả văn chương mà còn sử dụng quyền tự do trong phần thu thập, trình bày nội dung cho độc giả mình nữa.
 
Thí dụ : đọc chương 1 và 2 sách Sáng Thế ký, ta không nghĩ rằng ngày nào đó Thiên Chúa “chiếu phim” cho thánh ký biết công việc và thứ tự Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, muôn loài, muôn vật rồi Thánh ký tường thuật lại y nguyên. Trái lại, ta phải nghĩ rằng Thánh ký là một thần học gia được Thiên Chúa trực tiếp mạc khải hoặc qua trung gian các truyền thông, rồi suy nghĩ, sống với các chân lý đó, sau cùng, Thánh ký mới viết ra bằng ngôn ngữ, văn chương của mình trong môi trường văn hóa, trình độ văn minh của dân tộc mình, của một miền chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Thí dụ: thánh Luca cho biết khi viết Phúc âm, Ngài đã “truy tầm gốc ngọn mọi sự” về Chúa Kitô mới viết ra. Viết để phục vụ Giáo đoàn Hy lạp, Ngài bỏ ra những gì cá biệt Do thái và những điều có thể gây mếch lòng tân tòng.
 
3. Ơn linh hứng và mạc khải
 
a. Ơn linh hứng (inspiration):
 
Là đoàn sủng dành riêng cho các Thánh ký, giúp thu thập, tìm hiểu, phán đoán và diễn tả Ý Chúa, tư tưởng của Chúa không sai lầm để viết ra thành sách.
 
Thí dụ: thánh Luca cho biết “bởi chưng đã có nhiều người tra tay diễn tả lại trình tự các biến cố đã thực hiện giữa chúng tôi theo như các kẻ từ đầu đã chứng kiến và phục vụ cho Lời đã truyền lại cho chúng tôi, thì chúng tôi nhất thiết là sau khi đã truy tầm gốc ngọn về mọi sự một cách tường tận, cũng nên cứ tuần tự mà viết ra, thưa Ngài Thiophê, ngõ hầu Ngài được am tường rằng giáo huấn Ngài đã lãnh hội là chắc chắn” (Luca 1, 1-4).
 
Như vậy, viết Kinh Thánh, thánh Luca đã phải thâu tập, chọn lọc những tài liệu có trước rồi mới viết ra thành tác phẩm. Công việc không khác chi một người viết truyện, một người viết sử hiểu theo nghĩa rộng, nhưng việc làm của Thánh ký khác hẳn nhà viết truyện, viết sử vì tác động của ơn linh hứng khiến cho tác phẩm thánh vừa là của Chúa vừa là của Thánh ký.
 
b. Mạc khải (révélation) :
 
Mạc là tấm màn che, khải là mở ra, mở tấm màn che cho thấy những gì dấu ẩn trong đó. Thiên Chúa mạc khải là Thiên Chúa tỏ ra cho người ta biết Ngài, biết Thánh Ý Ngài, biết tư tưởng của Ngài.
 
Hoạt động mạc khải gồm ba khía cạnh chính: tỏ mình, kêu gọi và thông ban :
 
- Chúa tỏ mình bằng lời nói, cử chỉ, việc làm. Thí dụ: Chúa phán dạy Môisen (trực tiếp). Chúa Giêsu tới giảng dạy (trực tiếp) Chúa dùng các Tiên tri đi rao giảng lệnh Chúa (trung gian: gián tiếp). Chúa tỏ mình qua sự hiện hữu của vũ trụ (gián tiếp).
 
- Chúa mạc khải để người ta chạy đến với Chúa và Chúa trao nhiệm vụ (mạc khải luôn luôn có tính thiên triệu). Thí dụ: Chúa mạc khải Thánh danh Ngài (Giavê) cho thánh Môisen và trao cho thánh nhân sứ mệnh giải thoát Israen khỏi Ai cập.
 
- Chúa mạc khải để thông ban sự sống của Ngài cho ta, thông ban sự thật (chân lý) cho nhân loại để nhân loại được giải thoát khỏi lầm lạc, sống trong chân lý, kết hiệp với Chúa.
 
4. Hai con đường mạc khải
 
Chúa mạc khải cho nhân loại biết Ngài bằng hai con đường: TỰ NHIÊN và SIÊU NHIÊN.
 
a. Mạc khải tự nhiên:
 
Chúa tỏ mình ra trong công trình sáng tạo của Ngài. Điều này suy luận một tí là biết ngay. Nhìn vào tác phẩm dĩ nhiên ta biết có người đã làm ra nó, và có thể biết được tài cán của tác giả. Nhìn vào vũ trụ, dùng lý trí suy luận theo nguyên lý nhân quả, ta biết có Đấng đã tạo nên, tức là biết có Chúa hiện hữu, sáng tạo vũ trụ. Sách Khôn ngoan chương 13, thư Roma 1,20 làm chứng có mạc khải tự nhiên. Vì thế, ta không lạ gì khi mọi bộ lạc, dân tộc đều tin thờ Chúa có thể dưới nhiều hình thức khác nhau - có khi sai lầm, những danh xưng khác nhau (Thượng đế, Ông Trời, Thần Trời, Ông Xanh v.v...) nhưng người ta phải công nhận rằng chúng đều biểu lộ tâm tình tôn thờ Đấng tạo dựng vũ trụ, muôn loài, muôn vật, cầm quyền vạn vật và ngự trị trên trời cao huy hoàng. Họ tôn thờ Đấng Tạo Hóa có thể dưới hình thức sai lầm như thờ mặt trăng, mặt trời, tinh tú, con thú v.v... vì giải thích sai lầm các hiện tượng thiên nhiên, nhưng tự căn bản họ hướng tới vị Thần linh lớn nhất là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng mọi sự.
 
Do những sai lầm trong việc tôn thờ, ta hiểu rằng mạc khải tự nhiên không rõ ràng vì cái hữu hình che lấp cái vô hình. Mạc khải này chỉ cho biết một Đấng linh thiêng tạo dựng vũ trụ hoặc chỉ đưa ra câu hỏi: Ai làm ra vũ trụ? Ai cho các muôn vật hiện hữu? v.v... Mặc dầu bài toán vũ trụ đã giúp bác học Newton trả lời: Tôi thấy Thiên Chúa trước viễn vọng kính của tôi, nhưng có lẽ ông trả lời rõ ràng dứt khoát như thế là do ảnh hưởng của mạc khải siêu nhiên.
 
b. Mạc khải siêu nhiên :
 
Là sự Thiên Chúa tỏ mình ra cho loài người biết bằng hành động nói, làm và nhất là việc Nhập thể và Cứu chuộc của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.
 
Mạc khải này mang tính cách một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và loài người, ăn sâu vào lịch sử nhân loại, hướng dẫn lịch sử nhân loại theo chương trình của Chúa.
 
Tác giả thư gửi người Do thái đã viết : “Đã lắm phen cùng nhiều cách, xưa kia Thiên Chúa dùng các Tiên tri mà nói với cha ông. Nhưng đến thời sau hết, tức là ngày nay, Ngài đã nói với ta nơi một con người, mà Ngài đã đặt làm thừa tự của vạn vật" (Dt 1, 1-2).
 
Trước hết, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài cho những vị Ngài tuyển chọn (các Tiên tri rồi chính Con Một của Ngài) : đây là mạc khải bằng lời có tính cách cá nhân và lịch sử:
 
- Cá nhân vì Thiên Chúa dành quyền tuyển chọn từng người một, Ngài ban ơn cho người đó có khả năng nhận lãnh các điều siêu nhiên.
 
- Lịch sử vì sự đáp ứng của vị được Chúa mạc khải: biến đổi bản thân mình thích hợp với ơn Chúa ban, thích hợp với sứ mệnh Chúa trao phó. Đáp ứng đó là một quá trình lâu dài, một cuộc sống mới. Thí dụ : Abraham đáp ứng lời Chúa kêu gọi bỏ quê cha, đất tổ đi về miền Canaan sinh sống ông đã ra đi như một cuộc mạo hiểm theo tiếng Chúa. Thí dụ thánh Môisen sau khi được Chúa mạc khải Thánh Danh và trao cho thánh nhân sứ mệnh giải thoát Israen, thánh nhân đã từ bỏ đời cũ, sống trọn cuộc đời theo Chúa.
 
Tiếp đến, những vị được mạc khải công bố, rao truyền chân lý mạc khải thấm nhập vào cộng đoàn, vào tập thể, vào đất nước. Kết quả là lịch sử của tập thể, của đất nước, của nhân loại mở ra những trang sử mới.
 
Xét về tự nhiên, ta có thể hiểu được điều trên vì những trang sử nhân loại không phải do mọi người trên thế giới tạo ra, nhưng là do những vị nhân, những nhân vật lịch sử tạo ra. Thí dụ: Thuyết của Copernic “hành tinh quay chung quanh mình và chung quanh mặt trời” (thuyết nhật tâm) làm đảo lộn quan niệm từ xưa tới nay cho rằng “mặt trời xoay chung quanh quả đất, quả đất là trung tâm vũ trụ” tạo nên cuộc cách mạng khoa học (Cách mạng Copernic). Thí dụ : Pasteur dùng các thí nghiệm khoa học chống lại thuyết tự nhiên sinh, trở thành cha đẻ khoa vi trùng học, ngành sát trùng, phương pháp điều chế Vaccin, giúp cho y khoa tiến bộ vượt bực. Thí dụ: Permi thành công trong việc chẻ nguyên tử ra làm đôi, tính được năng lượng chúng phóng thích, mở đầu thời đại nguyên tử.
 
Cũng thế, chính những vị được mạc khải đi công bố, rao truyền sứ điệp mạc khải đã làm “đảo lộn” đời sống cộng đoàn, tạo ra nơi cộng đoàn một ảnh hưởng lớn lao, phát sinh một đời sống mới ảnh hưởng tới cả nhân loại. Thí dụ : các Tiên tri loan truyền mạc khải “chỉ có một Thiên Chúa, ngoài Thiên Chúa ra không còn thần minh nào cả, các thần tượng do tay người phàm tạo ra chỉ là vật tầm thường” đã giúp dân Israen thoát khỏi nạn đa thần, mê tín dị đoan, gây một ảnh hưởng lớn lao kéo dài cho tới ngày nay.
 
Xét về mặt siêu nhiên, ta để ý tới sự can thiệp của Thiên Chúa, hành động của Thiên Chúa hướng dẫn sứ điệp của Ngài do vị Tiên tri loan báo. Mạc khải của Ngài luôn luôn tạo nên những giai đoạn mới cho nhân loại. Chúng ta ghi nhận mấy giai đoạn chính:
 
1. Mạc khải cho Ađam-Eva trước khi sa ngả :
 
Con người tự nhiên có giá trị tầm thường (là bụi đất, có họ hàng với sinh vật khác vì cùng từ bụi đất), nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách đặc biệt (do hơi thở của Thiên Chúa phú ban sự sống) thành “tác phẩm giống hình ảnh Thiên Chúa”. Vì thế loài người được ưu đãi :
 
- Sống trong vườn Địa đàng (không nên hiểu là cái vườn, nên hiểu là tình trạng sống hạnh phúc, thánh thiện).
 
- Sống kết hiệp thân mật với Chúa (Kinh Thánh diễn tả bằng hình ảnh rất thơ mộng: chiếu đến, Chúa đi dạo vườn, truyện trò với hai ông bà).
 
- Với sứ mệnh : Sinh sản và giáo dục con cái trong thể chế hôn nhân (Stk 1,28) làm chủ chim trời cá biển (chủ thiên nhiên Stk 1,28). Sống lao động hạnh phúc (canh tác và giữ vườn Stk 2,15). Sống theo thể chế hôn nhân tự nhiên (đơn hôn, bất khả ly dị Stk 2,24). Kết hiệp với Thiên Chúa bằng cách giữ luật Luân lý được diễn tả bằng ngôn từ “Không được ăn trái cây biết lành biết dư" (2,17).
 
2. Mạc khải sau khi Ađam-Eva phạm tội:
 
“Ta sẽ đặt mối thù ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống người đàn bà. Dòng giống bà sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi thì rình cắn gót chân” (3,15). Lời Chúa phán ở đây là “Tin mầng nguyên thủy” tức là một tin vui đầu tin cho loài người bị chết trong tội lỗi rằng Thiên Chúa sẽ cứu độ loài người (tức là loài người khỏi án tử), sự thiện sẽ thắng sự ác qua một trung gian “dòng giống bà”. Tin Mầng này khởi sự công cuộc cứu chuộc nhân loại.
 
3. Mạc khải cho tổ phụ Abraham:
 
Tuyển chọn và thành lập một dân riêng của Chúa.
 
4. Mạc khải cho Môisen:
 
Đưa dân ra khỏi Ai cập, tổ chức dân Chúa thành một dân tộc thánh, ký kết Giao ước để từ đó dân sống dưới luật pháp của Chúa.
 
5. Mạc khải nơi Đức Kitô:
 
Vì là Thiên Chúa làm người, Chúa Kitô trực tiếp mạc khải các chân lý tôn giáo và Ngài mạc khải trọn vẹn hoàn toàn ý định của Thiên Chúa, kế hoạch cứu chuộc nhân loại trong mầu nhiệm Vượt qua (chết và sống lại, lên trời vinh hiển). Từ mầu nhiệm Vượt qua, kỷ nguyên của Nước Trời đã bắt đầu ở trần gian và hoàn toàn bộc lộ trong ngày Chúa quang lâm (ngày tận thế).
 
5. Cách thức Thiên Chúa mạc khải trong Kinh Thánh:
 
a. Mạc khải việc và lời
 
Để cho người ta hiểu rõ ràng công việc Thiên Chúa cứu độ nhân loại, Thiên Chúa đã dùng mạc khải lời (révélation-parole) và