TRẢ
LƠI BẠN:
THÁNH
KINH,THÁNH
QUYỀN
VÀ HUẤN
QUYỀN
Hy vọng
bạn Bùi
Xuân
Thanh là
Giảng
viên
Giáo lý
,đề nghị
bạn đọc
câu trả
lời dài
nhưng
cam đoan
sẽ hữu
ích cho
bạn.
I -
KINH
THÁNH LÀ
GÌ ?
1. Từ
ngữ:
Lần đầu
tiên
trong
văn
chương
tôn giáo
Israen,
sách
Macabê
quyển
một (thế
kỷ hai
trước
Công
nguyên)
dùng từ
ngữ
“Kinh
Thánh”
để chỉ
tất cả
các sách
Cựu Ước.
Trước
đó, Sách
Thánh
được gọi
bằng các
từ ngữ
cụ thể:
sách
Luật của
Môisen
(để chỉ
năm
quyển
đầu
tiên:
Khởi
nguyên,
Xuất
hành,
Lêvi,
Dân số,
Thứ
luật),
sách của
Đavid
(để chỉ
sách
Thánh
vịnh),
sách của
Salomon
(để chỉ
sách
Khôn
ngoan).
Câu nói
“Lề
luật,
Các Tiên
tri và
các Sách
khác"
trở nên
thành
ngữ để
chỉ toàn
bộ Kinh
Thánh
Cựu Ước
(xem
sách
Huấn ca,
bài
tựa).
Sang
tiếng
Hylạp,
người ta
dùng chữ
“Ta
Biblia”,
để chỉ
tất cả
bộ Kinh
Thánh.
Ta
Biblia
có nghĩa
là
“những
tấm da
viết chữ
cuộn
tròn
lại”.
Ta nên
biết
thời xưa
chưa có
giấy
viết như
chúng
ta.
Người ta
viết chữ
trên lá
cây kè,
trên võ
cây,
trên tấm
gỗ có
trét lớp
sáp, lớp
kim loại
chì,
trên
những
miếng
đất sét
rồi nung
chín,
trên
những
tấm da.
Vì dùng
nhiều
vật liệu
viết
khác
nhau,
sách vỡ
mang
nhiều
tên cụ
thể khác
nhau :
- Thanh
sử (sử
xanh) vì
người
Trung
Hoa viết
sử trên
những
thẻ tre
có cật
xanh.
-
Papyrus
- là
loại cây
chỉ
thảo,
mọc rất
nhiều ở
châu thổ
sông Nil
nước
Aicập,
thân cây
cấu tạo
bởi sợi
và gỗ
mềm,
người ta
cắt
thành
dải dài,
ép chặt
và phơi
khô
thành
những
“tờ
giấy”
rộng
không
quá
15cm,
nhưng
chiều
dài có
thể tới
50 mét.
Tờ giấy
cuốn
tròn
lại, vì
thế mới
gọi là
“volumen”
(do động
từ
volvere,
cuộn
tròn).
Aicập
sản xuất
và xuất
khẩu
papyrus.
Tất
nhiên,
thời đó,
người ta
dùng
giấy
papyrus
để sao
chép
Kinh
Thánh.
Ngày
nay, còn
giữ lại
được một
số bản
sao:
Papyrus
Nash
bằng
tiếng Do
thái
(Hébreu),
sao chép
khoảng
thế kỷ
hai sau
Công
nguyên,
gồm có
bản Hiệu
đính
Mười
giới răn
trong
sách
Xuất
hành (Xh
20,
2-17) và
ít khoản
của Thứ
luật (Tl
6,4
...).
Papyrus
Rylands
sao chép
khoảng
năm 150,
gồm có
một số
câu Phúc
Âm theo
Thánh
Gioan,
chương
18 (Jn
18,
31-33,
37, 38).
Papyrus
Bodmer
II sao
chép
khoảng
năm 200,
gồm các
chương I
đến
chương
14 Phúc
âm theo
thánh
Gioan
trừ 6,
11-35.
Papyrus
Chester
Beatty
gồm có
một số
sách Cựu
Ước
(Khởi
nguyên
Isaia,
Ezékiel,
Daniel,
Esther)
sao chép
khoảng
thế kỷ
hai sau
Công
nguyên,
và gần
trọn bộ
Tân Ước
trừ các
thư mục
vụ của
Thánh
Phaolô
(1, 2
Timôthê
và Titô)
viết vào
thế kỷ
3.
Parchemin
- là
những
miếng da
cừu hoặc
dê cạo
sạch,
làm giấy
viết,
sáng chế
tại
Pergame,
thủ đô
Mysie,
vì thế
mới gọi
là
“parchemin”
(perhamena
charta =
papyrus
của xứ
pergame).
Codex -
da được
cắt
thành
từng
miếng và
khâu dây
thành
sách gọi
là
codex.
Có nhiều
codex
nổi
tiếng :
Codex
Vaticanus
(gọi như
vậy vì
Thủ bản
này
thuộc
thư viện
Vatican),
gồm Cựu
Ước và
Tân Ước
trừ sách
Macabê,
sao chép
khoảng
thế kỷ
2, bằng
Hy lạp
ngữ.
Codex
Sinaiticus
(gọi như
vậy vì
tìm thấy
ở tu
viện
thánh
Cathérine,
núi
Sinai)
viết
bằng
tiếng Hy
lạp, gồm
Cựu Ước
và Tân
Ước với
cả thư
Barnabê
và sách
Pasteur
d'Hermas
không
thuộc
Kinh
Thánh,
sao chép
khoảng
thế kỷ
4.
Codex
Alexandrius,
viết
bằng chữ
Hy lạp
khoảng
thế kỷ
5, gồm
có Cựu
Ước trừ
đôi đoạn
sách
Khởi
nguyên,
I
Samuen,
mất
Thánh
vịnh,
Tân Ước
thiếu
phần lớn
Phúc âm
theo
thánh
Mathêu,
thiếu
hai
chương
Phúc âm
theo
Thánh
Gioan,
và
chương 7
thư 2
Corinto
ngoài ra
còn có
thư của
thánh
Clêmentê
Roma
không
thuộc
Kinh
Thánh
(Codex
này
thuộc
tài sản
tòa
thượng
phụ
Alexandrie).
Codex
Ephraemi
sao chép
bằng
tiếng Hy
lạp,
thuộc
thế kỷ
5, mang
danh
thánh
Ephrem,
gồm có
Cựu Ước
thiếu
một phần
sách
Khôn
ngoan)
và Tân
ước
(thiếu 2
Thess và
2 Jn).
Codex
Bexae
sao chép
bằng
tiếng Hy
lạp
khoảng
thế kỷ
5-6 gồm
có Tân
Ước.
Những từ
ngữ
Papyrus,
Parchemin,
Codex
bây giờ
ta hãy
để cho
các nhà
chuyên
môn
dùng.
Còn
chúng
ta,
ngoài
thành
ngữ chỉ
toàn bộ
Cựu Ước
(Lề
Luật,
các Tiên
tri và
các Sách
khác),
chúng ta
nhớ tới
tiếng
“Biblia”
chỉ toàn
bộ Kinh
Thánh
lẫn Cựu
và Tân
Ước.
Ngoài ra
cũng nên
nhớ tới
kiểu nói
“Có Lời
đã chép,
đã viết”
(Il est
écrit,
xem Mt
4, 4-7)
để chỉ
Kinh
Thánh
Cựu Ước.
Đáng lẽ
nói
“Thiên
Chúa
Giavê đã
phán”,
người ta
nói "Có
Lời đã
chép, đã
nói” tức
là dùng
thụ động
cách để
tránh
kêu đến
thánh
danh
Giavê,
có mục
đích vừa
nhấn
mạnh tới
sự thánh
thiện vô
phương
đạt tới
của
Thiên
Chúa vừa
chỉ sự
trung
tín,
không
bao giờ
suy
chuyển
của lời
Chúa
phán.
Nếu so
sánh các
kiểu nói
của Do
thái và
Hy lạp,
kiểu nói
Do thái
dài
nhưng ý
nghĩa
rất
phong
phú. Đó
là tâm
lý của
người
Đông
phương.
Tên đặt
thường
mang một
ý nghĩa.
Dân Việt
ta cũng
vậy. Đặt
cho
người
này là
Hiền, là
Dũng là
mong
muốn cho
người đó
có đức
tính
hiền
lành,
hoặc cam
đảm).
Dân tây
phương
không có
thói
quen đó.
Từ ngữ
“Ta
Biblia”
(tấm da
viết chữ
cuộn
tròn)
dùng để
chỉ Lời
Chúa
được
chép
lại, quả
thực nội
dung từ
ngữ đó
không
nói lên
ý nghĩa
như vậy,
vì nó
chỉ có
nghĩa là
sách,
tập
sách. Vì
thế,
người ta
thêm
tĩnh từ
“thánh”
vào, gọi
là Sách
Thánh
(la
sainte
bible)
làm cho
nó có
nội dung
phong
phú.
Tiếng
Việt gọi
là Kinh
Thánh
(theo
cách nói
tiếng
Nôm)
hoặc
Thánh
Kinh
(theo
cách nói
tiếng
Hán)
càng có
ý nghĩa
hơn :
- Kinh
là sách
chép lời
thánh
hiền.
- Thánh
chỉ sự
thiêng
liêng,
quyền
phép
(thí dụ:
thuốc
thánh,
hay như
thuốc
thánh)
hoặc chỉ
trí tuệ,
đạo đức
cao vời
(thí dụ
: thánh
hiền,
thánh
sư, giỏi
như ông
thánh,
đạo đức
như
thánh).
Nhưng từ
ngữ
“thánh”
trong
Kinh
Thánh
còn vượt
lên trên
các ý
nghĩa
trên, vì
nhấn
mạnh tới
hoạt
động
“thánh”
của Chúa
Thánh
Thần,
tới ơn
linh
hứng của
Chúa
Thánh
Thần tác
động nơi
các văn
sĩ viết
Kinh
Thánh
(Thánh
ký). Vì
thế, mọi
lời viết
ra trong
Kinh
Thánh
thực là
thánh
như
thánh
Phêrô
khẳng
định :
“Không
bao giờ
một lời
Tiên tri
lại do
người
phàm tự
ý viết
ra, trái
lại
chính
nhờ
Thánh
Thần
thúc đẩy
mà có
người đã
viết ra
nhân
danh
Thiên
Chúa” (2
Phêrô
1,21).
Và thánh
nhân đã
chỉ cho
biết giá
trị của
những
lời
thánh
Phaolô
viết ra
: “chiếu
theo sự
khôn
ngoan
của Chúa
mà anh
Phaolô
đã viết
ra cho
tín hữu”
(2 Phêrô
3,15),
và Ngài
gọi đó
là Kinh
Thánh
(xem 2
Phêrô
3,16).
Cùng lập
trường
với
Thánh
Phêrô,
thánh
Phaolô
viết :
“Tất cả
Kinh
Thánh đã
được
Thiên
Chúa
linh
hứng, có
ích cho
việc
giảng
dạy,
biện
bác, tu
chỉnh và
đào tạo
trong
đường
công
chính”
(2
Timôthê
3, 16).
Như vậy,
tạ tạm
định
nghĩa :
KINH
THÁNH là
sách do
Chúa
Thánh
Thần
linh
hứng cho
Thánh ký
viết ra.
2.
Một
quyển
sách có
hai tác
giả
Thánh
Thần
linh
hứng /
Thánh ký
viết ra.
Một
quyển
sách có
hai tác
giả (kẻ
làm ra).
Ta phải
hiểu
Thiên
Chúa và
Thánh ký
làm việc
như thế
nào?
viết như
thế nào
?
- Phải
chăng
Thiên
Chúa
phán và
Thánh ký
lắng tai
nghe rồi
chép ra
? (thầy
đọc cho
học trò
chép,
viết
chính
tả).
- Phải
chăng
Thiên
Chúa mạc
khải cho
Thánh ký
những
chân lý,
những đề
mục rao
giảng
rồi để
cho
Thánh ký
dùng
ngôn ngữ
của mình
viết ra
thành
bản văn
hẳn hoi
?
Cách thứ
nhất,
Thánh ký
chỉ là
viên thư
ký,
không
thể gọi
là tác
giả
được.
Chính
“bản
thân”
Kinh
Thánh
phi bác
giả
thuyết
này, vì
nếu do
một ông
thầy đọc
cho thì
các học
trò viết
“y
chang”,
đàng
này, mấy
Thánh ký
cùng
viết về
một đề
tài mà
văn khác
nhau,
thậm chí
có những
Lời Chúa
khác
nhau.
Thí dụ:
viết về
Chúa
Giêsu
lên
trời,
thánh
Matthêu
nói Chúa
lên trời
ở
Galilê,
thánh
Luca nói
ở Giuđa
(Giêrusalem)?
Cách thứ
hai,
Thiên
Chúa là
tác giả
nội dung
mạc
khải,
còn
Thánh ký
là tác
giả văn
chương.
Cách này
thường
gặp
trong
các bài
diễn văn
của các
nhà lãnh
đạo. Thí
dụ: bài
diễn văn
của quốc
trưởng,
của Đức
Giáo
Hoàng,
luôn
luôn do
một ban
nhân
viên
soạn
thảo
theo
nhũng tư
tưởng
của
Người
thành
bài văn
rồi đệ
trình
Người
xem lại.
Khi đọc,
Người
diễn tả
quan
điểm của
mình cho
phái
đoàn
v.v...
Ai cũng
bảo bài
diễn văn
này của
Người.
Đúng như
vậy vì
tư tưởng
bài văn
của
Người và
Người
chấp
nhận văn
chương
của ban
chuyên
môn diễn
tả tư
tưởng
của
Người,
dĩ nhiên
cũng
phải
chấp
nhận tài
viết
văn, tài
liên tả
tư tưởng
trong
sáng,
lưu loát
của ban
chuyên
viên. Họ
không
phải là
những
viên thư
ký ghi
chép,
“sao y
bản
chính”,
nhưng họ
đã góp
phần
sáng tạo
làm nên
bài diễn
văn.
Tuy
nhiên,
cách thứ
hai nầy
cũng
không
thể dùng
để cắt
nghĩa
Thiên
Chúa và
Thánh ký
là tác
giả Kinh
Thánh
được vì
Thiên
Chúa
chẳng
những là
tác giả
nội dung
Kinh
Thánh mà
còn là
tác giả
văn
chương
của Kinh
Thánh
nữa, còn
Thánh ký
chẳng
những là
tác giả
văn
chương
mà còn
sử dụng
quyền tự
do trong
phần thu
thập,
trình
bày nội
dung cho
độc giả
mình
nữa.
Thí dụ :
đọc
chương 1
và 2
sách
Sáng Thế
ký, ta
không
nghĩ
rằng
ngày nào
đó Thiên
Chúa
“chiếu
phim”
cho
thánh ký
biết
công
việc và
thứ tự
Thiên
Chúa tạo
dựng vũ
trụ,
muôn
loài,
muôn vật
rồi
Thánh ký
tường
thuật
lại y
nguyên.
Trái
lại, ta
phải
nghĩ
rằng
Thánh ký
là một
thần học
gia được
Thiên
Chúa
trực
tiếp mạc
khải
hoặc qua
trung
gian các
truyền
thông,
rồi suy
nghĩ,
sống với
các chân
lý đó,
sau
cùng,
Thánh ký
mới viết
ra bằng
ngôn
ngữ, văn
chương
của mình
trong
môi
trường
văn hóa,
trình độ
văn minh
của dân
tộc
mình,
của một
miền
chịu ảnh
hưởng
lẫn
nhau.
Thí dụ:
thánh
Luca cho
biết khi
viết
Phúc âm,
Ngài đã
“truy
tầm gốc
ngọn mọi
sự” về
Chúa
Kitô mới
viết ra.
Viết để
phục vụ
Giáo
đoàn Hy
lạp,
Ngài bỏ
ra những
gì cá
biệt Do
thái và
những
điều có
thể gây
mếch
lòng tân
tòng.
3. Ơn
linh
hứng và
mạc khải
a. Ơn
linh
hứng
(inspiration):
Là đoàn
sủng
dành
riêng
cho các
Thánh
ký, giúp
thu
thập,
tìm
hiểu,
phán
đoán và
diễn tả
Ý Chúa,
tư tưởng
của Chúa
không
sai lầm
để viết
ra thành
sách.
Thí dụ:
thánh
Luca cho
biết
“bởi
chưng đã
có nhiều
người
tra tay
diễn tả
lại
trình tự
các biến
cố đã
thực
hiện
giữa
chúng
tôi theo
như các
kẻ từ
đầu đã
chứng
kiến và
phục vụ
cho Lời
đã
truyền
lại cho
chúng
tôi, thì
chúng
tôi nhất
thiết là
sau khi
đã truy
tầm gốc
ngọn về
mọi sự
một cách
tường
tận,
cũng nên
cứ tuần
tự mà
viết ra,
thưa
Ngài
Thiophê,
ngõ hầu
Ngài
được am
tường
rằng
giáo
huấn
Ngài đã
lãnh hội
là chắc
chắn”
(Luca 1,
1-4).
Như vậy,
viết
Kinh
Thánh,
thánh
Luca đã
phải
thâu
tập,
chọn lọc
những
tài liệu
có trước
rồi mới
viết ra
thành
tác
phẩm.
Công
việc
không
khác chi
một
người
viết
truyện,
một
người
viết sử
hiểu
theo
nghĩa
rộng,
nhưng
việc làm
của
Thánh ký
khác hẳn
nhà viết
truyện,
viết sử
vì tác
động của
ơn linh
hứng
khiến
cho tác
phẩm
thánh
vừa là
của Chúa
vừa là
của
Thánh
ký.
b. Mạc
khải
(révélation)
:
Mạc là
tấm màn
che,
khải là
mở ra,
mở tấm
màn che
cho thấy
những gì
dấu ẩn
trong
đó.
Thiên
Chúa mạc
khải là
Thiên
Chúa tỏ
ra cho
người ta
biết
Ngài,
biết
Thánh Ý
Ngài,
biết tư
tưởng
của
Ngài.
Hoạt
động mạc
khải gồm
ba khía
cạnh
chính:
tỏ mình,
kêu gọi
và thông
ban :
- Chúa
tỏ mình
bằng lời
nói, cử
chỉ,
việc
làm. Thí
dụ: Chúa
phán dạy
Môisen
(trực
tiếp).
Chúa
Giêsu
tới
giảng
dạy
(trực
tiếp)
Chúa
dùng các
Tiên tri
đi rao
giảng
lệnh
Chúa
(trung
gian:
gián
tiếp).
Chúa tỏ
mình qua
sự hiện
hữu của
vũ trụ
(gián
tiếp).
- Chúa
mạc khải
để người
ta chạy
đến với
Chúa và
Chúa
trao
nhiệm vụ
(mạc
khải
luôn
luôn có
tính
thiên
triệu).
Thí dụ:
Chúa mạc
khải
Thánh
danh
Ngài
(Giavê)
cho
thánh
Môisen
và trao
cho
thánh
nhân sứ
mệnh
giải
thoát
Israen
khỏi Ai
cập.
- Chúa
mạc khải
để thông
ban sự
sống của
Ngài cho
ta,
thông
ban sự
thật
(chân
lý) cho
nhân
loại để
nhân
loại
được
giải
thoát
khỏi lầm
lạc,
sống
trong
chân lý,
kết hiệp
với
Chúa.
4.
Hai con
đường
mạc khải
Chúa mạc
khải cho
nhân
loại
biết
Ngài
bằng hai
con
đường:
TỰ NHIÊN
và SIÊU
NHIÊN.
a. Mạc
khải tự
nhiên:
Chúa tỏ
mình ra
trong
công
trình
sáng tạo
của
Ngài.
Điều này
suy luận
một tí
là biết
ngay.
Nhìn vào
tác phẩm
dĩ nhiên
ta biết
có người
đã làm
ra nó,
và có
thể biết
được tài
cán của
tác giả.
Nhìn vào
vũ trụ,
dùng lý
trí suy
luận
theo
nguyên
lý nhân
quả, ta
biết có
Đấng đã
tạo nên,
tức là
biết có
Chúa
hiện
hữu,
sáng tạo
vũ trụ.
Sách
Khôn
ngoan
chương
13, thư
Roma
1,20 làm
chứng có
mạc khải
tự
nhiên.
Vì thế,
ta không
lạ gì
khi mọi
bộ lạc,
dân tộc
đều tin
thờ Chúa
có thể
dưới
nhiều
hình
thức
khác
nhau -
có khi
sai lầm,
những
danh
xưng
khác
nhau
(Thượng
đế, Ông
Trời,
Thần
Trời,
Ông Xanh
v.v...)
nhưng
người ta
phải
công
nhận
rằng
chúng
đều biểu
lộ tâm
tình tôn
thờ Đấng
tạo dựng
vũ trụ,
muôn
loài,
muôn
vật, cầm
quyền
vạn vật
và ngự
trị trên
trời cao
huy
hoàng.
Họ tôn
thờ Đấng
Tạo Hóa
có thể
dưới
hình
thức sai
lầm như
thờ mặt
trăng,
mặt
trời,
tinh tú,
con thú
v.v...
vì giải
thích
sai lầm
các hiện
tượng
thiên
nhiên,
nhưng tự
căn bản
họ hướng
tới vị
Thần
linh lớn
nhất là
Thiên
Chúa,
Đấng tạo
dựng mọi
sự.
Do những
sai lầm
trong
việc tôn
thờ, ta
hiểu
rằng mạc
khải tự
nhiên
không rõ
ràng vì
cái hữu
hình che
lấp cái
vô hình.
Mạc khải
này chỉ
cho biết
một Đấng
linh
thiêng
tạo dựng
vũ trụ
hoặc chỉ
đưa ra
câu hỏi:
Ai làm
ra vũ
trụ? Ai
cho các
muôn vật
hiện
hữu?
v.v...
Mặc dầu
bài toán
vũ trụ
đã giúp
bác học
Newton
trả lời:
Tôi thấy
Thiên
Chúa
trước
viễn
vọng
kính của
tôi,
nhưng có
lẽ ông
trả lời
rõ ràng
dứt
khoát
như thế
là do
ảnh
hưởng
của mạc
khải
siêu
nhiên.
b. Mạc
khải
siêu
nhiên :
Là sự
Thiên
Chúa tỏ
mình ra
cho loài
người
biết
bằng
hành
động
nói, làm
và nhất
là việc
Nhập thể
và Cứu
chuộc
của Chúa
Giêsu,
Con
Thiên
Chúa làm
người.
Mạc khải
này mang
tính
cách một
cuộc đối
thoại
giữa
Thiên
Chúa và
loài
người,
ăn sâu
vào lịch
sử nhân
loại,
hướng
dẫn lịch
sử nhân
loại
theo
chương
trình
của
Chúa.
Tác giả
thư gửi
người Do
thái đã
viết :
“Đã lắm
phen
cùng
nhiều
cách,
xưa kia
Thiên
Chúa
dùng các
Tiên tri
mà nói
với cha
ông.
Nhưng
đến thời
sau hết,
tức là
ngày
nay,
Ngài đã
nói với
ta nơi
một con
người,
mà Ngài
đã đặt
làm thừa
tự của
vạn vật"
(Dt 1,
1-2).
Trước
hết,
Thiên
Chúa mạc
khải
chính
Ngài cho
những vị
Ngài
tuyển
chọn
(các
Tiên tri
rồi
chính
Con Một
của
Ngài) :
đây là
mạc khải
bằng lời
có tính
cách cá
nhân và
lịch sử:
- Cá
nhân vì
Thiên
Chúa
dành
quyền
tuyển
chọn
từng
người
một,
Ngài ban
ơn cho
người đó
có khả
năng
nhận
lãnh các
điều
siêu
nhiên.
- Lịch
sử vì sự
đáp ứng
của vị
được
Chúa mạc
khải:
biến đổi
bản thân
mình
thích
hợp với
ơn Chúa
ban,
thích
hợp với
sứ mệnh
Chúa
trao
phó. Đáp
ứng đó
là một
quá
trình
lâu dài,
một cuộc
sống
mới. Thí
dụ :
Abraham
đáp ứng
lời Chúa
kêu gọi
bỏ quê
cha, đất
tổ đi về
miền
Canaan
sinh
sống ông
đã ra đi
như một
cuộc mạo
hiểm
theo
tiếng
Chúa.
Thí dụ
thánh
Môisen
sau khi
được
Chúa mạc
khải
Thánh
Danh và
trao cho
thánh
nhân sứ
mệnh
giải
thoát
Israen,
thánh
nhân đã
từ bỏ
đời cũ,
sống
trọn
cuộc đời
theo
Chúa.
Tiếp
đến,
những vị
được mạc
khải
công bố,
rao
truyền
chân lý
mạc khải
thấm
nhập vào
cộng
đoàn,
vào tập
thể, vào
đất
nước.
Kết quả
là lịch
sử của
tập thể,
của đất
nước,
của nhân
loại mở
ra những
trang sử
mới.
Xét về
tự
nhiên,
ta có
thể hiểu
được
điều
trên vì
những
trang sử
nhân
loại
không
phải do
mọi
người
trên thế
giới tạo
ra,
nhưng là
do những
vị nhân,
những
nhân vật
lịch sử
tạo ra.
Thí dụ:
Thuyết
của
Copernic
“hành
tinh
quay
chung
quanh
mình và
chung
quanh
mặt
trời”
(thuyết
nhật
tâm) làm
đảo lộn
quan
niệm từ
xưa tới
nay cho
rằng
“mặt
trời
xoay
chung
quanh
quả đất,
quả đất
là trung
tâm vũ
trụ” tạo
nên cuộc
cách
mạng
khoa học
(Cách
mạng
Copernic).
Thí dụ :
Pasteur
dùng các
thí
nghiệm
khoa học
chống
lại
thuyết
tự nhiên
sinh,
trở
thành
cha đẻ
khoa vi
trùng
học,
ngành
sát
trùng,
phương
pháp
điều chế
Vaccin,
giúp cho
y khoa
tiến bộ
vượt
bực. Thí
dụ:
Permi
thành
công
trong
việc chẻ
nguyên
tử ra
làm đôi,
tính
được
năng
lượng
chúng
phóng
thích,
mở đầu
thời đại
nguyên
tử.
Cũng
thế,
chính
những vị
được mạc
khải đi
công bố,
rao
truyền
sứ điệp
mạc khải
đã làm
“đảo
lộn” đời
sống
cộng
đoàn,
tạo ra
nơi cộng
đoàn một
ảnh
hưởng
lớn lao,
phát
sinh một
đời sống
mới ảnh
hưởng
tới cả
nhân
loại.
Thí dụ :
các Tiên
tri loan
truyền
mạc khải
“chỉ có
một
Thiên
Chúa,
ngoài
Thiên
Chúa ra
không
còn thần
minh nào
cả, các
thần
tượng do
tay
người
phàm tạo
ra chỉ
là vật
tầm
thường”
đã giúp
dân
Israen
thoát
khỏi nạn
đa thần,
mê tín
dị đoan,
gây một
ảnh
hưởng
lớn lao
kéo dài
cho tới
ngày
nay.
Xét về
mặt siêu
nhiên,
ta để ý
tới sự
can
thiệp
của
Thiên
Chúa,
hành
động của
Thiên
Chúa
hướng
dẫn sứ
điệp của
Ngài do
vị Tiên
tri loan
báo. Mạc
khải của
Ngài
luôn
luôn tạo
nên
những
giai
đoạn mới
cho nhân
loại.
Chúng ta
ghi nhận
mấy giai
đoạn
chính:
1.
Mạc khải
cho
Ađam-Eva
trước
khi sa
ngả :
Con
người tự
nhiên có
giá trị
tầm
thường
(là bụi
đất, có
họ hàng
với sinh
vật khác
vì cùng
từ bụi
đất),
nhưng
được
Thiên
Chúa tạo
dựng
cách đặc
biệt (do
hơi thở
của
Thiên
Chúa phú
ban sự
sống)
thành
“tác
phẩm
giống
hình ảnh
Thiên
Chúa”.
Vì thế
loài
người
được ưu
đãi :
- Sống
trong
vườn Địa
đàng
(không
nên hiểu
là cái
vườn,
nên hiểu
là tình
trạng
sống
hạnh
phúc,
thánh
thiện).
- Sống
kết hiệp
thân mật
với Chúa
(Kinh
Thánh
diễn tả
bằng
hình ảnh
rất thơ
mộng:
chiếu
đến,
Chúa đi
dạo
vườn,
truyện
trò với
hai ông
bà).
- Với sứ
mệnh :
Sinh sản
và giáo
dục con
cái
trong
thể chế
hôn nhân
(Stk
1,28)
làm chủ
chim
trời cá
biển
(chủ
thiên
nhiên
Stk
1,28).
Sống lao
động
hạnh
phúc
(canh
tác và
giữ vườn
Stk
2,15).
Sống
theo thể
chế hôn
nhân tự
nhiên
(đơn
hôn, bất
khả ly
dị Stk
2,24).
Kết hiệp
với
Thiên
Chúa
bằng
cách giữ
luật
Luân lý
được
diễn tả
bằng
ngôn từ
“Không
được ăn
trái cây
biết
lành
biết dư"
(2,17).
2.
Mạc khải
sau khi
Ađam-Eva
phạm
tội:
“Ta sẽ
đặt mối
thù
ngươi và
người
đàn bà,
giữa
dòng
giống
ngươi và
dòng
giống
người
đàn bà.
Dòng
giống bà
sẽ đạp
đầu
ngươi,
còn
ngươi
thì rình
cắn gót
chân”
(3,15).
Lời Chúa
phán ở
đây là
“Tin
mầng
nguyên
thủy”
tức là
một tin
vui đầu
tin cho
loài
người bị
chết
trong
tội lỗi
rằng
Thiên
Chúa sẽ
cứu độ
loài
người
(tức là
loài
người
khỏi án
tử), sự
thiện sẽ
thắng sự
ác qua
một
trung
gian
“dòng
giống
bà”. Tin
Mầng này
khởi sự
công
cuộc cứu
chuộc
nhân
loại.
3.
Mạc khải
cho tổ
phụ
Abraham:
Tuyển
chọn và
thành
lập một
dân
riêng
của
Chúa.
4.
Mạc khải
cho
Môisen:
Đưa dân
ra khỏi
Ai cập,
tổ chức
dân Chúa
thành
một dân
tộc
thánh,
ký kết
Giao ước
để từ đó
dân sống
dưới
luật
pháp của
Chúa.
5.
Mạc khải
nơi Đức
Kitô:
Vì là
Thiên
Chúa làm
người,
Chúa
Kitô
trực
tiếp mạc
khải các
chân lý
tôn giáo
và Ngài
mạc khải
trọn vẹn
hoàn
toàn ý
định của
Thiên
Chúa, kế
hoạch
cứu
chuộc
nhân
loại
trong
mầu
nhiệm
Vượt qua
(chết và
sống
lại, lên
trời
vinh
hiển).
Từ mầu
nhiệm
Vượt
qua, kỷ
nguyên
của Nước
Trời đã
bắt đầu
ở trần
gian và
hoàn
toàn bộc
lộ trong
ngày
Chúa
quang
lâm
(ngày
tận
thế).
5.
Cách
thức
Thiên
Chúa mạc
khải
trong
Kinh
Thánh:
a. Mạc
khải
việc và
lời
Để cho
người ta
hiểu rõ
ràng
công
việc
Thiên
Chúa cứu
độ nhân
loại,
Thiên
Chúa đã
dùng mạc
khải lời
(révélation-parole)
và