MÙA VỌNG: ĐỢI CHỜ
TRONG TIN TƯỞNG
Khi nhận được “thiệp hồng” của
một người bạn thân báo tin vui được truyền chức
linh mục nhiều năm trước đây, tôi vội vã thu xếp
để bay về Đà nẵng cho kịp tham dự Thánh Lễ và
ngày vui của anh. Trong Thánh Lễ, tôi cảm động
rất nhiều dù không phải đó là lần đầu tiên tham
dự Thánh Lễ Truyền Chức Thánh. Đến phần tân chức
cám ơn, tôi lại cảm động vì mấy lời chân thành
của anh: “Con xin cám ơn các ân nhân, thân nhân
ở Sàigòn đã giúp đỡ con cách này cách khác khi
con còn lưu lạc. Đặc biệt con cám ơn gia đình
bác Năm Trịnh và anh Thương, gia đình dì Dụng,
bác An, bác Kim… đã cho con miếng cơm qua bữa,
giấc ngủ qua đêm”. Tại sao nhiều năm trôi qua mà
tôi vẫn nhớ đến từng lời trong bài cám ơn của
tân linh mục hôm ấy? Thưa là bởi vì tôi đã cùng
chia sẻ với anh những ngày “Mùa Vọng” trong cuộc
đời anh, những năm tháng cơ cực, có phần lam lũ
nhưng tràn đầy hy vọng và bình an. Rồi tôi rẽ
đường, anh đi tiếp… Nhưng dù sống ơn gọi nào,
cuộc đời vẫn là Mùa Vọng, mùa đợi chờ những hồng
ân Chúa tuôn đổ từng ngày, từng giờ, không, phải
nói là từng giây, từng khoảnh khắc phần triệu
giây trong đời mình, và đợi chờ ngày Chúa quang
lâm.
Hàng
năm, Giáo Hội sống Mùa Vọng bốn tuần lễ trước
Đại Lễ Giáng Sinh. Ngày xưa dân Chúa chờ ngày
Cứu Chuộc qua bao nhiêu niên đại. Nếu chỉ tính
từ Abraham đến thời Chúa Giêsu thì cũng đã mười
tám thể kỷ. Tại sao Thiên Chúa cứ để con người
mãi đợi chờ? Và dường như Ngài ít khi ban cho
chúng ta điều gì ngay tức khắc, trừ những ơn huệ
cần thiết cho những giờ phút khẩn thiết nhất.
Khi Chúa chữa người mù, Ngài bảo anh đi đến suối
Silôê mà rửa mắt. Chúa chữa người bệnh tật nào,
Ngài cũng hỏi họ về lòng tin. Chúa cho Lazarô
sống lại cũng hỏi hai chị em Matta và Maria về
niềm tin phục sinh. Hình như Chúa vẫn muốn con
người đợi chờ và chuẩn bị sẵn sàng. Mà nào có
phải chỉ có con người đợi chờ đâu. Tất cả các
mầu nhiệm thánh suy cho cùng cũng là những mầu
nhiệm của sự đợi chờ với lòng kiên nhẫn của
Thiên Chúa. Khi sáng tạo đất trời, Chúa có thể
phán một lời thì tích tắc tất cả xuất hiện.
Nhưng Chúa vẫn dựng nên thời gian, và trong thời
gian quí giá ấy Ngài “nhẩn nha” thực hiện như
một người thợ rất đỗi cần cù, cho dù Ngài quyền
năng tuyệt đối và vô song. Mầu nhiệm sáng tạo,
mầu nhiệm cứu chuộc, và mầu nhiệm thánh hoá trần
gian bao giờ cũng mang yếu tố đợi chờ. Và qua
bao năm tháng, mãi cho tới ngày chung thẩm, dân
thánh vẫn không ngừng hát lên lời ca “Trời cao
hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng Cứu
đời”, dân thánh vẫn ngày ngày tung hô “chúng con
mong đợi ngày Chúa đến vinh quang”.
Như
thế Thiên Chúa toàn năng và đầy yêu thương rõ
ràng muốn dạy con người về lòng kiên nhẫn và
niềm trông cậy. Thiên Chúa cũng muốn nhắc nhở họ
đừng nóng lòng khi thấy thế giới này còn quá
nhiều những điều chướng tai gai mắt. Chúa Giêsu
cũng đã dạy về việc kiên nhẫn đợi chờ ngày Vua
vinh hiển phân biệt rõ ràng lúa tốt và cỏ lùng
vào ngày Ngài ngự đến xét xử muôn dân. Nhưng
những loài cỏ lùng trong ruộng lúa cũng đừng
nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ bỏ qua những hành động
ức hiếp cây lúa. Tất cả những gì chúng làm cho
Dân Ngài, chúng phải trả lẽ trước mặt Ngài.
Và
Thiên Chúa dạy chúng ta rằng tất cả mầu nhiệm
thánh đều là mầu nhiệm của tình yêu. Mà có tình
yêu nào là không đòi con người kiên trì và nhẫn
nhục? Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối, nhưng tạo
vật của Ngài là tương đối. Luxiphe muốn trở
thành tuyệt đối. Eva muốn trở thành tuyệt đối.
Và họ đã tự mình đánh mất niềm hạnh phúc vô biên
bởi vì khi chối từ thân phận mình để đòi ngang
bằng với Đấng Tạo Thành thì tức khắc họ phá đổ
tất cả trật tự của ngày sáng tạo. Học Thuyết Xã
Hội Công Giáo tuyệt vời ở chỗ lý giải được
nguyên nhân của mọi đổ vỡ đồng thời mở ra con
đường tìm về sự sống cho con người. Con đường ấy
là chính Đức Kytô, Đấng đã mạc khải chân lý “Ta
là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Ở đây ta
lại khám phá một chiều kích khác của niềm hy
vọng. Chúa Kytô là Đường cho con người bước
theo. Mà đường đi thì bao giờ cũng là một quãng
kéo dài, ai lên đường cũng mang theo niềm thao
thức và nỗi đợi chờ. Chẳng ai vừa bước chân lên
đã đến ngay tức khắc, trừ khi muốn đi về chỗ
mình đang đứng! Sự Thật tự bản chất cũng đòi con
người khắc khoải đi tìm, bởi vì chốn trần gian
này đâu đâu cũng thấy bẫy giăng của loài gian
xảo là Satan, con rắn quỉ quyệt nhất của mọi
thời đại. Đức Kytô là miêu duệ của Người Phụ Nữ
theo Lời Hứa, chính Ngài cùng với Mẹ Ngài đạp
nát đầu kẻ gian xảo quỉ quyệt kia, nhưng Ngài
cũng muốn nhắc nhở con người đợi chờ vì có những
lúc “giờ Ngài chưa đến”. Cũng có lúc “giờ Ngài
chưa đến” nhưng Ngài vẫn thi ân giáng phúc cho
con người bởi vì có sự can thiệp của Mẹ Thánh
Ngài. Nhưng xét về tổng thể, tất cả đều chờ đến
“giờ của Ngài”.
Mùa
Vọng cũng là mùa của tình liên đới và sự bổ trợ
lẫn nhau. Vị tân linh mục khi cám ơn những ân
nhân thân nhân, ngài gián tiếp nhắn nhủ rằng
cuộc sống này là một chuỗi những liên kết và lệ
thuộc. “Không ai là một hòn đảo” là tựa đề một
cuốn sách của Thomas Merton, và cũng có thể dùng
làm câu tóm tắt các nguyên tắc của Học Thuyết Xã
Hội Công Giáo. Mùa Vọng được soi rọi bằng ánh
sáng của Lời Chúa, với lời tiên báo của ngôn sứ
Isaia, tiếng vang từ Gioan Tiền Hô trong sa mạc,
và nhất là thái độ khiêm tốn đợi chờ của Mẹ
Thiên Chúa. Lời vang vọng ấy chứa đựng nhiều
thông điệp cho Mùa Vọng Giáng Sinh và Mùa Vọng
cuộc đời, nhưng nổi bật hơn cả vẫn là sự bình an
mà Thiên Chúa ban cho dân Ngài. Một trong những
đặc tính của bình an là sống liên đới, hoà hợp
trong Công Lý. Do vậy mà Thánh Vịnh 71 được
trích đọc để ca ngợi thời của Đấng Thiên Sai:
“Sự công chính và nền hòa bình viên mãn sẽ triển
nở trong triều đại người cho đến muôn đời”.
Lạy Chúa là Đấng đã vô cùng kiên
nhẫn trước những tâm hồn chai đá, trong đó có
chúng con. Xin Chúa cho chúng con biết tin yêu
và vững tâm chờ đợi Chúa. Mùa Vọng sẽ qua đi,
ngày hồng phúc sẽ đến nhanh với những ai biết
chuẩn bị sẵn sàng. Xin Chúa cho chúng con có đủ
đèn dầu để ra đón Chúa ngày Chúa đến. Xin Mẹ
nâng đỡ chúng con trong Mùa Vọng, lắm khi trong
đó bóng tối cứ phủ xuống cuộc đời chúng con.
Nhưng chúng con vẫn vững tin rằng “Ánh Sáng đã
chiếu toả vào nơi tối tăm”.
Gioan Lê Quang Vinh