NHO CAO LÀ NHO CHUA!
Ai cũng biết
chuyện
con cáo và dàn nho trong ngụ
ngôn của
Jean de La Fontaine: cáo thèm những
chùm nho mọng
nước,
nhưng
vói không tới
do dàn quá cao. Cáo bỏ
đi và chê là vì nho chua! Càng đi sâu vào khủng
hoảng
kinh tế
thế
giới,
người
ta càng nhớ
đến
Karl Marx và tư
bản
luận
của
ông, nhưng
từ
chỗ
thán phục
cái nhìn về
kinh tế
của
Marx, để
rồi
rập
khuôn kết
luận
của
ông, rằng
“tôn giáo là thuốc
phiện”
ru ngủ
dân chúng, lại
là một
sai lầm
to lớn,
nhất
là khi di sản
tinh thần
của
Marx bị
các chế
độ cộng
sản
thế
kỷ
20 lạm
dụng
sai lạc
và làm hư
hỏng.
Giáo sư
Georg Sans,đại
học
giáo hoàng Grêgôriô diễn
tả
điều
nầy
một
cách thú vị
:”Không phóng đại
chút nào khi nói rằng
không có gì làm hại
những
vấn
đề
Marx quan tâm cho bằng
chủ
nghĩa Marx”. Cái nhìn theo chủ
nghĩa duy vật
về lịch
sử của
Marx đã hạ
thấp
con người
một
cách sai lầm,
biến
con người
thành một
sản
phẩm
của
những
hoàn cảnh
vật
chất,
kinh tế
và thể
lý. Nghĩa là hoàn toàn duy vật.
Cũng có nghĩa là rơi
vào vòng luẩn
quẫn
“nho cao là nho chua”, ”nho chua vì nho cao”.
Không ít người
vô thần
cũng có suy nghĩ về
Kitô giáo như
thế:
thay cho mỗi
sự yếu
kém, nhu nhược,
bất
lực,
Kitô giáo đưa
vào đó một
“phúc thật”
để
ngụy
trang và “che” mắt
thiên hạ.
Ví dụ
khi cứ
gian nan lận
đận
mãi kiếp
nghèo, Kitô giáo tôn vinh nghèo đói đứng
hàng đầu
Bát Phúc. Nắm
được
ngươi
nghèo, tức
là nắm
được
phần
đa số
nhân loại,
làm cho họ
thấy
nghèo đói không phải
đáng xấu
hổ,
đáng buồn
như
họ
nghĩ. Chủ
nghĩa cộng
sản
đã làm ngược
lại
: dùng lớp
bần
cố để
đấu
tranh vũ trang chống
cái mà họ
gọi
là những
thế
lực,
đế
quốc
tư bản
chủ
nghĩa, cho dù thực
tế lịch
sử
cho thấy
họ đạp
đổ tư
bản
để dựng
nên độc
tài không kém chút nào những
gì họ
đã xô đổ.
Thật
kỳ quái : rút cuộc
họ lại
đi theo nó và còn say mê tư
bản
hơn
ai hết,
sẵn
sàng hy sinh người
nghèo và lý tưởng
đấu
tranh giai cấp,
để qụy
lụy,
tôn thờ
những
gì họ
cho là xấu
xa,phản
động
: quyền
lợi
ít oi của
người
nghèo được
mau mắn
đem phục
vụ
thú vui, tiêu khiển
(kể
cả
sa đoạ
trác táng) của
những
tay trọc
phú, tư
bản.
Lại
là những
chùm nho chua! Chùm nào là “chùm nho uất
hận”?
Khi không làm gì nỗi
người
khác, không đôi co hoặc
không đấu
lại
đối
thủ,
phải
nhún mình như
con chi chi, thì gọi
đó là “hiền
lành” ư?
Đó là nhu nhược,
là yếu
kém. Từ
khi Kitô giáo xuất
hiện
cho đến
nay, từ
thủ
lĩnh là Chúa Giêsu Kitô cho đến
các môn đệ
và những
kẻ
tin theo, không chỉ
một
thời
gian, mà cho đến
tận
thế,
đều
chung một
số
phận
: bị
ghét bỏ,
tấn
công, bắt
bớ,
tù đày, sát hại,
xử tử.
Tóm lại,
ai cũng có “quyền”
tấn
công Kitô giáo, bắt
bớ
Kitô hữu
và như
lời
Kinh Thánh : họ
“như
chiên bị
đem đi làm thịt,
dầu
bị
ngược
đãi, Người
cam chịu
nhục,
chẳng
mở
miệng
kêu ca” (Is 53,7). Ngày nay ở
nhiều
nơi,
nhiều
quốc
gia, Kitô hữu
chẳng
khác nào cá nằm
trên thớt,
ai cũng có thể
bắt
nạt,
bắt
bớ,
chém giết
vô tội
vạ,
từ
giám mục,
linh mục
cho tới
giáo dân. Như
thể
đức
tin Kitô giáo là một
điều
sai quấy
xấu
xa, phạm
thuần
phong mỹ
tục
và nhân phẩm
vậy.
Thời
các vua chúa bắt
đạo
ở Việt-Nam
thường
thích hai chữ
“tà đạo”
lên trán, lên má người
Công giáo). Đối
thoại
liên tôn để
hảm
bớt
đà say máu của
người
Hồi,
người
Ấn
giáo, xem ra là phương
sách tốt
nhất
cho các Kitô hữu.
Nho không với
tới
được
phải
chăng đều
là nho chua?
Đau khổ,
khóc lóc, u sầu,
lo lắng
là những
gì ai cũng rán tránh càng xa càng tốt,
càng nhiều
càng hay, nhưng
khi không tránh nỗi,
thì Kitô giáo coi nó là “đệ
tam phúc”. Có khóc lóc, thì mới
được
dỗ
dành an ủi.
Trong truyền
thống
“con nhà võ”, ví dụ
Samurai Nhật,
đàn ông không được
khóc, vì khóc là hèn. Người
ta còn dạy
các bé trai không được
để rơi
nước
mắt
khi bị
kẻ
khác đánh đập,
nhưng
phải
nuôi chí phục
thù. Nho vói không tới,
nên mới
coi là nho chua sao?
Luận
về
cái Dũng của
thánh nhân, Khổng
Tử
nói : Lặn
xuống
đáy biển,
mà không biết
sợ
giao long, đó là Dũng của
người
chài lưới.
Vào rừng
mà không biết
sợ hổ
báo, đó là cái Dũng của
người
thợ
săn. Thấy
gươm
bén mà không biết
sợ,
xem tử
sanh, ấy
là cái Dũng của
người
liệt
sĩ. Biết
được
chỗ
cùng thông là Thời,
Mạng
và bất
cứ
là ở
vào cảnh
nguy hiểm
nào cũng không biết
sợ,
đó là cái Dũng của
Thánh nhân...". Cái Dũng của
Thánh nhân, tức
là chỗ
cùng cực
của
Điềm
đạm,
nghĩa là không để
cho ngoại
vật
động
đến
tâm của
mình. Người
điềm
đạm
tức
là người
đã làm chủ
được
Tình dục
và ý chí của
mình. Cái dũng của
thánh nhân chính là biết
dùng sự
thinh lặng,
nhẫn
nhục
để
biến
cải
tâm hồn
con người.
Cổ
nhân thường
nói: "Một
câu nhịn
bằng
chín câu lành". Không có sức
mạnh
nào có thể
thắng
nổi
sự bất
bạo
động.
Bởi
vì, khí giới
dù có tối
tân và có sức
đe dọa
đến
đâu cũng không thể
thuyết
phục
được
tâm hồn
con người.
Chỉ
có lòng tha thứ
mới
có thể
bẻ
gãy được
thứ
vũ khí ác hại
nhất
là hận
thù.
Trong bộ
phim dài tập
đang chiếu
trên truyền
hình trung ương,
”Phía đông vườn
địa
đàng”, người
bố
thợ
mỏ bị
người
ta trù dập
và âm mưu
sát hại,
đã nói với
đứa
con nhỏ
: “người
dũng cảm
là người
biết
tha thứ
cho kẻ
thù”. Lee Dong Chul - đứa
con trai,nhân vật
chính, lớn
lên trong hận
thù và cũng thành đạt
nhờ
nuôi chí báo thù nhà - là một
ví dụ
điển
hình cho lòng vị
tha, sẵn
sàng hy sinh tất
cả
vì những
người
anh yêu thương,
cũng như
tha thứ
cho bất
cứ
ai muốn
làm lại
cuộc
đời.
Có lẽ
đỉnh
cao đau đớn
mà Dong Chul chịu,
không phải
là khi cha chết,
mẹ bị
đánh đập
tàn nhẫn,
mà chính là đứng
giữa
sự lựa
chọn
Dong Wook hay Myung Hoon. Với
kẻ
thù không đội
trời
chung là Shin The Hoan, tưởng
chừng
như
nếu
có dịp
anh sẽ
trả
thù ngay, vậy
mà rất
nhiều
lần
Dong Chul đã lưỡng
lự bởi
anh không muốn
dồn
bất
cứ
ai vào con đường
chết.
Một
hình ảnh
gợi
nhớ
đến
các Kitô hữu
: tha thứ
cho kẻ
hành hạ
và giết
chết
mình hoặc
những
người
thân nhất
của
mình. Tình yêu cải
hoá.hận
thù, trong khi “oan oan tương
báo, di hận
miên miên : vòng luẩn
quẫn
hận
thù,báo oán không bao giờ
vơi,
trừ
phi giải
quyết
bằng
bao dung, trắc
ẩn
và tha thứ.
Tha thứ
không phải
là hèn hạ
bạc
nhược,
mà phải
hết
sức
mạnh
mẽ,
thoát tục,
dũng cảm,
điềm
đạm,
thánh thiện,
mới
có được
tâm tình tha thứ
và phải
hết
sức
ý chí mới
có thể
tha thứ
thật
sự.
Không thể
sống
Bát Phúc,nếu
không biết
bao dung rộng
mở,
sống
vì Chúa và vì tha nhân. Phải
nghèo thật
sự mới
có thể
chấp
nhận
và thực
thi các mối
phúc thật.
Bây giờ
phải
nói lại
: chính những
người
vô thần,những
kẻ
tâm địa
xấu
xa muốn
che dấu
những
dã tâm,những
suy nghĩ và hành vi ám muội,
đê hèn, ích kỷ,
tham lam, dâm ô, trước
tâm hồn
và cuộc
sống
trong sáng, vị
tha, hiền
hoà, bao dung, hy sinh của
con cái Chúa, nên mới
chỉ
trích, dèm pha, liên kết
nhau để
chống
đối
và làm hại
con cái Chúa. Chính họ
mới
nhìn Bát Phúc với
ánh mắt
vừa
thèm thuồng,
vừa
ghen ghét. Và vì không thể
nào từ
bỏ
dù chỉ
một
chút hận
thù, kiêu căng, ích kỷ,
họ
coi Hiến
Chương
Nước
Trời
như
cái gai cần
nhổ
bỏ,
như
nho chua! Khi Chúa là Cây Nho và chúng ta là ngành kết
hợp
cùng Cây, thì trái nho sản
sinh ra phải
là ngọt!
Đâu phải
sự
hèn hạ
trơ
tráo của
họ
nói “chua” là “chua” được!
CVK Nguyễn
Thế
Bài
HÃY HÁT LỜI
TÌNH YÊU - THÁNH VỊNH
21
Bệnh tật và đau khổ thường khiến ta đặt lại vấn đề tương quan với Chúa
và với tha nhân. Một người chịu đau khổ có thể có ý nghĩ bị mọi người
bỏ rơi, Chúa cũng như người thân. Nhưng nếu vượt qua được đau khổ,
người đó sẽ tự động liên kết những người thân vào hạnh phúc của mình.
Thánh Vịnh 21,một trong những Thánh vịnh quen thuộc nhất của truyền
thống Kitô giáo, gợi lên tình huống tương tự. Người soạn Thánh vịnh tự
giới thiệu mình như thể đương đầu với một sự dữ kéo theo cái chết. Ông
cảm thấy trái tim tan chảy, xuơng cốt rời ra và có cảm tưởng chỉ còn
là một tia nước trôi đi. Cùng lúc, người đó thấy nói khó, vì miệng
lưỡi khô khan. Ông đã nhìn thấy mình bị biến thành bụi đất, xuôi chân
xuôi tay như một người chết. Dù vậy, ông không lôi kéo được lòng
thương hại hoặc lòng trắc ẩn. Ngược lại, những ai nhìn ông, sẽ thấy
ông cũng ghê tởm chẳng khác nào sâu bọ và chế nhạo ông thay vì nâng đỡ
ông. Với người soạn Thánh Vịnh,Thiên Chúa ở phía sau thử thách của ông
:” Chúa dẫn con đến bụi đất sự chết’ (c 16). Nhưng ông thực sự không
biết giải thích làm sao sự đau khổ của mình. Ông không liên kết chút
nào với những lỗi mà ông có thể đã phạm và Thiên Chúa muốn xử phạt.
Ông cũng không nói gì về sự mỏng dòn của thân phận con người hoặc về
một thử thách mà có thể Chúa sẽ gửi cho ông. Một giải thích duy nhất
có thể hợp lý : Thiên Chúa đã bỏ rơi ông. Người chối từ ông các ân huệ
của Người. Chúa không còn đoái hoài gì đến Ông nữa,không có bất cứ lý
do gì. Trong nỗi bất hạnh, Ông kêu lên, ngày đêm ‘gầm thét’ hướng về
Chúa. Ông hướng về Chúa là Đấng đã ban cho ông sự sống và ông luôn
trung thành với Người từ hồi còn niên thiếu ( c 11). Ông tự nhắc nhủ
và ông cũng đồng thời nhắc với Chúa các tổ tiên của ông đã có lý thế
nào khi tin cậy nơi Chúa. Ông biết rằng Chúa là sức mạnh duy nhất của
ông; sự may mắn được cứu độ duy nhất là Đức Chúa nghe lời ông và không
lìa xa ông nữa.
