HỌC HÀNH
Bài Tin Mừng ngày Lễ kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo VN (15/11 – CN XXXIII/TN-B) nói về ngày cánh chung thế giới – ngày Chúa quang lâm – có câu "Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần." (Mc 13, 28). Từ cái chu kỳ sinh trưởng của cây cối, có thể đoán định được chu kỳ của thời tiết, và ngược lại, từ chu kỳ thay đổi bốn mùa của thời tiết, có thể đoán định được sự sinh trưởng của cây cối và rộng ra hơn nữa có thể nhận biết được chu kỳ cuộc sống của con người (sinh-trưởng-lão-bệnh-tử). Mùa xuân thì đâm chồi nảy lộc (thiếu niên), mùa hè thì hoa quả xanh tươi (thanh, trung niên), mùa thu thì lá vàng, lá úa (lão niên), mùa đông thì lá rơi, quả rụng (bệnh – tử).
Qua dụ ngôn cây vả, Đức Giê-su Ki-tô khuyên các môn đệ cần phải học hỏi, học hỏi nơi các hiện tượng hữu hình, để suy niệm về những hiện tượng siêu hình. Nhìn cây vả hoa lá xanh tươi sẽ biết được mùa hè sắp tới. Từ những hiện tượng mùa đông u ám, có thể đoán định sắp tới mùa xuân hoa cỏ tốt tươi. Cũng vậy, khi thấy những hiện tượng "... mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển" (Mc 13, 25), và nhất là "... thấy Đồ-Ghê-Tởm-Khốc-Hại đứng ở nơi nó không được phép đứng ... Khốn thay những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó ! ... Vì những ngày đó sẽ là những ngày gian nan đến mức từ lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa tạo thành vạn vật cho đến bây giờ, chưa khi nào xảy ra và sẽ không còn xảy ra như vậy nữa ... " (Mc 13, 14-16), thì biết được ngày cánh chung đã tới và điều tất nhiên đó cũng chính là lúc "Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời". (Mc 13, 26-27). Để có được những nhận thức như vậy, cần phải học, như Lời Đức Ki-tô dạy trong bài Tin Mừng nêu trên, hoặc như chính Lời Người truyền dạy các môn đệ : "Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng".(Mt 11, 29). Vậy, học là gì ? Con người thực sự có nhu cầu về học hỏi không ? Ích lợi của học vấn mang lại cho con người những gì ?
I. KHÁI NIỆM : Cổ nhân thường răn dạy “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý” (Ngọc không mài giũa thì không trở thành khí cụ, người không học thì không hiểu biết lý lẽ ở đời), ca dao Việt Nam cũng nói “Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài,/ Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi”, “Con ơi, mẹ dặn câu này, / Học ăn học nói cho tày người ta”. Con người sống trên đời, ngay từ lúc mới sinh đã phải học (trẻ sơ sinh tập bú mớm, tập nói năng, tập đi đứng... đều phải học ở người lớn), bởi lẽ “Ấu bất học, lão hà vi ?” (nhỏ không học, già làm gì ?). Học từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành vẫn tiếp tục hoc (“học ăn, học nói, học gói, học mở”), thậm chí cho đến khi trăm năm đầu bạc cũng vẫn phải học. Biển học mênh mông vô hạn, chỉ xin giới hạn bài viết trong phạm vi tôn giáo, cụ thể là Ki-tô giáo, và gọn hơn nữa : sự học hỏi trong Dòng Đa Minh.
Ngay trong Cựu Ước cũng đã dạy : “Vì bước đầu để đạt tới Đức Khôn Ngoan / là thật lòng ham muốn học hỏi./ Chăm lo học hỏi là yêu mến Đức Khôn Ngoan”. (Kn 6, 17), “Suốt đêm trường, hồn con khao khát Chúa,/ trong thâm tâm, những kiếm tìm khắc khoải./ Khi Chúa thực thi quyết định của mình khắp năm châu,/ người bốn bể học biết đường công chính” (Is 26, 9). Bước sang Tân Ước, thì chính Đức Giê-su Thiên Chúa không những chỉ khuyên bảo môn đệ cần phải học biết về Thiên Chúa, về con người, mà chính Người Thầy Chí Thánh còn thu nhận môn đệ để truyền dạy lẽ sống còn trong cuộc đời trần thế cũng như nơi cuộc sống siêu nhiên ("Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." – Mt 28, 18-20), Và cũng nhờ thế, các môn đệ mới tiếp bước của Người, đem Tin Mừng Cứu Độ đến cho muôn dân bằng cách "nói tiên tri" (ngôn sứ) như lời Thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô : "Mọi người có thể lần lượt nói tiên tri, để ai nấy đều được học hỏi và khích lệ" (1Cr 14, 31).
Vậy, học là sự tiếp thu có ý thức những kiến thức từ thiên nhiên, từ sách vở, từ sự truyền đạt của người khác cho chủ thể người học. Đối với một Ki-tô hữu, vì được tham dự vào 3 chức vụ của Đức Giê-su là Ngôn sứ + Tư tế + Vương giả, nên sự học hỏi thật cần thiết. Tiên vàn thì phải hiểu rõ thế nào là ngôn sứ, là tư tế, là vương giả, và tại sao người Ki-tô hữu được Thiên Chúa mời gọi tham dự vào 3 chức vụ ấy ? Muốn hiểu rõ, thì phải học, và có thật sự thấu triệt thì khi hành xử mới làm đúng + làm đủ + làm tốt sứ vụ đã được trao phó. Ngoài cương vị một Ki-tô hữu trong Giáo Hội ra, người Giáo dân Đa Minh còn có thêm một ơn gọi đặc biệt để giúp hoàn thiện ơn gọi Ki-tô hữu theo đoàn sủng riêng của Dòng. Mà đoàn sủng – ân huệ của Chúa Thánh Thần – ban cho Dòng là thuyết giáo, nên càng cần phải học, học đến nơi đến chốn, nhiên hậu mới có thể giảng dạy (thuyết giáo) được. Chính vì thế, sự học hỏi được đặt lên ngang tầm với cầu nguyện, là tinh thần cốt lõi của Dòng Đa Minh (cầu nguyện + hiệp thông huynh đệ + học hỏi + tông đồ bác ái).
II. MỤC ĐÍCH : Về việc học, có nhiều cách nói : học hỏi (“học vấn“), học tập (“học nhi thời tập chi“), học hành (“ấu nhi học, tráng nhi hành“), và để chỉ người có học thì nói đó là người có “học thức”, để chỉ người có học cao hiểu rộng thì gọi là một “học giả“, một bậc “thức giả“, một nhà “bác học” (”bác học” chỉ có nghĩa là học rộng, nhưng thói quen người ta dùng nó để chỉ những người giỏi về khoa học tự nhiên). Mục đích của việc học là để trả lời câu hỏi “Học để làm gì ?” Câu trả lời thật ngắn gọn : Học để biết (học thức).
II.1. Học để mở mang kiến thức : Gọi việc học là “học thức” (học để hiểu biết), tức là hướng dẫn con người từ chỗ u tối ra nơi sáng sủa để nhìn cho rõ, nghe cho thông, hiểu cho suốt những gì mình tiếp thu được. Từ chỗ tối ra chỗ sáng thì cũng có nghĩa đó là một hành trình từ chỗ chưa biết gì tiến dần tới chỗ biết –> biết nhiều –> biết thấu đáo, cặn kẽ. Những người không được cắp sách đến trường thì gọi là “thất học”, người thất học chỉ là người không biết chữ, không biết tới những kiến thức được lưu truyền bằng văn tự, nhưng vẫn có thể học hỏi những kinh nghiệm lưu truyền qua ngôn ngữ dân gian bất thành văn (truyền khẩu). Tuy nhiên, đến như những nền nếp đạo đức, sinh hoạt trong gia đình, xã hội được lưu truyền qua lề thói, tập quán cũng không tiếp thu và thể hiện ra được trong cuộc sống quần cư, thì bị lên án là “vô học” (tiếng chửi “đồ vô học”, “đồ mất dạy”). Về tôn giáo, còn phải kể thêm việc học hỏi qua Thiên ân (hồng ân của Thiên Chúa) như sự linh hứng, mạc khải... (vd : Thánh Ca-ta-ri-na Si-ê-na mù chữ, nhưng nhờ ơn Chúa Thánh Thần linh hứng, đã trước tác rất nhiều thư từ, sách vở, được Giáo Hội tôn phong là Tiến sĩ Hội Thánh).
II.2. Học giúp cho sứ vụ ngôn sứ : Khi đón nhận Ơn gọi Ki-tô hữu, được tham dự vào ba chức vụ của Đức Giê-su Ki-tô : Ngôn sứ - Tư tế - Vương giả ; nếu không học biết đạo lý Kinh Thánh thấu đáo, thì làm thế nào mà rao giảng Lời Chúa (ngôn sứ) cho được ? Đức Ki-tô đã dạy “lòng có đầy miệng mới nói ra” (Mt 12, 34), mà muốn có đầy, tất nhiên phải học. Đừng nghĩ rằng khi mình đã có những học vị cao (cao học, tiến sĩ...), đã được trao nhiệm vụ giảng viên, giáo sư, thì đã vội tự mãn, tự kiêu ; bởi đến ngay như các bậc thánh nhân vị vọng, cũng chưa ai dám coi mình là đã học đủ. Ngay trong lãnh vực tôn giáo, Giáo Hội trải qua biết bao triều đại, vẫn tiếp tục tìm hiểu, học hỏi, vẫn luôn luôn và mãi mãi là một cuộc lữ hành tìm kiếm kho tàng Chân Lý vĩnh cửu. Biển học Tin Mừng, kho tàng Lời Chúa không bao giờ vơi cạn, mà chỉ có lòng người cạn vơi tinh thần học hỏi mà thôi.
II.3. Học giúp cho sự chiêm niệm : Học là để mở mang kiến thức thì cũng có nghĩa – về mặt tôn giáo – là một đàng nó giúp mở ra cho trí khôn hiểu biết những chân lý, đàng khác nó đánh tan những quan niệm sai lầm cho rằng việc học sẽ ảnh hưởng không tốt đến đạo hạnh của đời tu (tu đức). Đó là những quan niệm lạc hậu cũng đã một thời hiện diện trong những dòng tu – khoảng thế kỷ XI, XII trở về trước – cho rằng đi tu chỉ cần trau giồi tu đức (đọc kinh, cầu nguyện, sống hãm mình, tập tành các nhân đức...) là đủ, không cần nâng cao trình độ học vấn vì "học càng cao, càng sinh lắm ý kiến, cãi cọ, chia rẽ", thậm chí còn trở nên kiêu căng, hợm hĩnh, hoặc "tìm cách khéo léo mà phạm tội" (Lm Phan Tấn Thành – "Tìm hiểu Dòng Đa Minh", tr. 120-122). Chính là nhờ học hỏi khi quan chiêm những hiện tượng hữu hình, rồi thông qua suy niệm sẽ đạt được những cảnh giới siêu linh. Nhìn, quan sát những hiện tượng thiên nhiên, những dấu chỉ thời đại, để biết được sự quan phòng của Thiên Chúa, đó chính là việc học đã giúp – một cách đắc lực – cho sự suy niệm, sự chiêm niệm về đường thần học.
II.4. Học và tu đức : Thông qua việc rèn luyện ý chí để chuyên cần học hỏi ("có công mài sắt, có ngày nên kim"), cũng như thông qua việc học sống theo ba lời khuyên Phúc Âm (khó nghèo – khiết tịnh – vâng phục), thì học chính là một hình thức khổ chế (“Học như thiết như tha, như trác như ma” – Học như cắt như đục, như mài như giũa). Nói cách khác, học chính là một phương cách tu thân và đối với những người trong một đoàn thể, một dòng tu thì “Học để nâng cao tu đức”. Về mặt xã hội, con người không chỉ sống riêng lẻ một mình mà là sống cùng, sống với cộng đồng. Khi sống trong một tập thể, con người không thể tự ý muốn làm gì thì làm, muốn sống sao thì sống, mà cần phải biết hy sinh những tự tư tự lợi để sống hoà nhập với cộng đoàn. Muốn được vậy cần phải học, học để biết cách tu sửa bản thân (tu thân). Người tu hành thì cũng cần tu thân vậy, nhưng theo một đường lối khắt khe hơn, khổ hạnh hơn, nói cách khác là khép mình vào một khuôn khổ (tu luật) của một dòng tu nhất định. Như vậy, thì lại càng cần phải học, và điều đó chứng tỏ việc học chính là một phương cách nâng cao tu đức vậy.
II.5. Để có được nhân đức HIẾU HỌC : Sự ham thích học hỏi được coi như một nhân đức cần được tích lũy. Cần phải có sự ham học, nhưng trước khi đi vào đường học vấn, phải tập luyện cho được đức tính khiêm nhu, từ tốn. Nếu thiếu các điều kiện cơ bản ấy, thì sự hiếu học có thể trở thành nết xấu, là vì nó được thúc đẩy bởi một động lực ngang trái. Cổ nhân đã dạy "Có học phải có hạnh", nếu có học mà "vô hạnh" thì sự hiểu biết ấy cũng chẳng dùng được, bởi vì "Sự hiểu biết đó sinh lòng kiêu ngạo, còn lòng bác ái thì xây dựng. Ai tưởng mình hiểu biết điều gì, thì chưa hẳn là đã hiểu biết như phải hiểu biết. Ai yêu mến Thiên Chúa, thì được Người biết đến" (1Cr 8, 1-3). Bản năng con người vốn dĩ là muốn hiểu sâu biết rộng, nên vấn để ham thích, đam mê học hỏi là một điều tốt. Tuy nhiên, cần phải xác định được động cơ thúc đẩy sự học nhắm đến một mục đích tốt (như đã trình bày ở trên : II.1., II.2., II.3., II.4.), thì việc hiếu học mới thực sự là một nhân đức cần được tích luỹ, còn ngược lại, nó sẽ trở thành một tính xấu.
III. NGUỒN HỌC VẤN :
III.1. Trước hết là học nơi trường học (cả đạo lẫn đời) : Có thầy hướng dẫn, giảng dạy. Trường hợp này chỉ dành cho tuổi trẻ hoặc những người có ơn gọi sống bậc tu trì. Ngày xưa gọi trường học là học hiệu, và coi việc học gần như một thứ tôn giáo, vì thế mới gọi "đạo học" (mặc dù chữ "đạo" chỉ có nghĩa là con đường, nhưng khi nói "đạo học" thì cũng giống như khi nói "đạo Phật" hay "đạo Thiên Chúa" vậy). Từ nghĩa đó, có cụm từ "đạo làm thầy" ("sư đạo") để chỉ việc dạy học không phải như một thứ nghể nghiệp, nhưng là một hành trình truyền thụ không chỉ kiến thức, mà còn cả đạo đức nữa. Người thầy là người khai tâm (đạo đức) mở trí (kiến thức) cho học trò, nên thường được gọi là những bậc "ân sư" để tỏ lòng biết ơn ("không thầy đố mầy làm nên"). Trước khi học các lý lẽ về vũ trụ (khoa học), về con người (nhân văn), cần phải học về đạo đức ("tiên học lễ, hậu học văn"). Vì thế, người đi học cần phải biết "tôn sư trọng đạo" (tôn kính thầy, coi trọng đạo học, vì "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" – một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy). Đó chính là đạo lý làm người mà cả xã hội phải coi là một tôn chỉ cần duy trì và phát huy. Một xã hội coi trọng việc "tôn sư trọng đạo" chính là một xã hội biết coi trọng vịêc khai hoá và nâng cao dân trí vậy.
III.2. Học trong sách vở : Sách vở là những kho tàng vô giá lưu truyền những kiến thức của nhân loại (“Phần ngươi, Đa-ni-en, hãy giấu những lời này, hãy niêm cuốn sách lại cho đến thời cùng tận. Bấy giờ nhiều người sẽ đọc, và được hiểu biết thêm." – Đn 12, 4). Tuy nhiên, rất cần thiết phải có sự hướng dẫn của những bậc thầy, những bậc đàn anh, để có được sự chọn lựa những sách vở thực sự hữu ích cho việc học và biết loại trừ những sách báo độc hại, bởi khi con người càng tiến bộ thì những luồng tư tưởng độc hại, những "nguỵ thư"... càng tồn tại một cách tinh vi, xảo quyệt, rất khó nhận biết ("Thần khí phán rõ ràng : vào những thời cuối cùng, một số người sẽ bỏ đức tin mà theo những thần khí lừa dối và những giáo huấn của ma quỷ; đó là vì trò giả hình của những tên nói dối mà lương tâm như bị thích dấu sắt nung" – 1Tm 4, 1-2). Với Ki-tô hữu thì kho tàng tuyệt hảo cho sự học hỏi là Kinh Thánh. Kinh Thánh phải được xem là kim chỉ nam, là sách gối đầu giường, không lúc nào rời khỏi tay. Thứ đến là các văn kiện (Tông thư, Tông huấn, Sắc lệnh, Thông điệp, Thư từ …) của Hội Thánh (toàn cầu và cả địa phương), rồi đến Luật Sống, sách kinh, các văn kiện của Dòng... Ngoài ra, các tài liệu, sách báo tham khảo (đạo, đời) cũng giúp ích rất nhiều cho sự học hỏi. Trường hợp này, có thể có thầy, có thể tự học được, nhưng vẫn rất cần phải có một sự hướng dẫn kỹ càng của những bậc thầy để chọn lựa cẩn thận. Trong lãnh vực tôn giáo thì những sách báo tham khảo phải được Giáo Hội (toàn cầu hoặc địa phương) duyệt (imprimatur) và cho phép lưu hành.
III.3. Học nơi Thiên Chúa, nơi anh em – học ở trường đời : Tiên vàn thì phải biết rằng Thiên Chúa dựng nên loài người và coi loài người như con cái. Người thầy dạy đầu tiên và xuyên suốt cuộc đời đứa con chính là cha mẹ. Như vậy, thì tất yếu con người cần phải học và học nơi Thiên Chúa – Đấng là Cha và là Thầy muôn đời ("Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy ? Nếu anh em không được sửa dạy như tất cả mọi người, thì khi đó anh em là con ngoại hôn, chứ không phải là con chính thức" (Dt 12, 5-8).
Học nơi Thiên Chúa, học với Thiên Chúa thì chúng ta chắc chẳng sợ mình “lòi cái đuôi dốt” ra, nhưng học với anh em thì sao ? Xin đừng tự kiêu, tự mãn, đừng tự cho là mình hơn người. “Bảy mươi phải học bảy mốt” đã đành, nhưng đối với lớp người ít học hơn mình, trẻ tuổi hơn mình, bình dân hơn mình, mình vẫn có thể học nơi họ những điều họ có mà mình còn khiếm khuyết bởi vì "Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người" (1Cr 12, 7-11). Hãy nên mạnh dạn nghĩ rằng “bất sỉ hạ vấn” (học người dưới không có gì là nhục cả), “Học thầy không tầy học bạn”. Không tự kiêu, tự mãn, nhưng cũng không tự ti coi mình là "dốt đặc cán thuổng", rồi thì "mũ ni che tai" không thèm nghe, nhìn, tìm hiểu nữa. Có thể có những người chậm hiểu, nhưng chẳng có ai là "dốt đặc" cả, mà chỉ có người lười biếng, nhát sợ, thu mình vào cái vỏ "tự ti", để khỏi phải học hành "khổ chế". Chậm hiểu ư ? Tại sao không biết cậy nhờ vào Thần Khí Chúa như lời dạy của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-sô : "Tôi nguyện xin Chúa Cha, thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Ki-tô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa. Xin tôn vinh Đấng có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới" (Ep 3, 16-20) ; hoặc đon giản hơn như hàng ngày chúng ta vẫn đọc kinh cầu nguyện : "Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết..."
IV. PHƯƠNG PHÁP : Người Thầy Chí Thánh Giê-su Ki-tô đã dạy "Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn? " (Mc 4, 13). Muốn hiểu biết, cần phải học, muốn học mà nếu chỉ mò mẫm trong bóng đêm thì khó lòng tiến bộ được. Vì thế, để học có kết quả, cần phải có những phương pháp. Thực ra thì những biện pháp nghệ thuật, những phương pháp sư phạm có được là do sự rút tỉa kinh nghiệm của những bậc thánh sư, những bậc sư phạm lỗi lạc, rồi đúc kết và truyền thụ lại để như một cẩm nang giúp những người có trách nhiệm giáo dục (cả đạo và đời). Đức Giê-su – Người Thầy Muôn Đời – đã dùng những phương pháp sư phạm tối ưu để dạy dỗ môn đệ, muôn dân (kể chuyện ẩn dụ bằng dụ ngôn, đàm thoại, chất vấn...). Người không truyền thụ sư phạm nhưng qua giảng dạy Tin Mừng, Người đã dùng những cách thức có tác dụng sư phạm tối ưu, khiến cho môn đệ, muôn dân hiểu được những điều Người giảng dạy. Cũng chính từ nhu cầu học vấn này mà ngành sư phạm tìm ra đuợc những phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả tốt. Muốn dạy tốt, cần có phương pháp giảng dạy, muốn học tốt cũng cần có phương pháp học tập.
IV.1. Học là cầu nguyện : Học và cầu nguyện là hai phương tiện dẫn tới sự chiêm niệm chân lý, cả hai bổ túc cho nhau (việc học cung cấp chất liệu cho sự chiêm niệm ; sự cầu nguyện mang lại ánh sáng và sự trợ lực của ơn thánh cần thiết cho việc học). Chính sự cầu nguyện cũng là một cách học : học nơi Thiên Chúa, Đấng là Thầy, bởi vì "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống ". (Ga 14, 6). Cần dốc tâm cầu nguyện, xin Chúa soi đường chỉ lối và ban ơn giúp sức, thì sự học mới có kết quả ("Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá ? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn ? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao ?" – Mt 7, 7-11). Khi đã biết coi sự cầu nguyện là một phương pháp học, thì cần phải áp dụng triệt để vào thực tế hành trình "cầu học" trong tinh thần "cầu thị, cầu tiến". Tuyệt đối không coi sự cầu nguyện như là một cách khoe khoang đạo đức để đánh bóng bản thân ("Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh" (Mt 6, 5-6)
IV.2. Học là nghe nhìn : Có một công thức cho phương pháp này : Thính (nghe) + Thị (nhìn) => Cảm nghiệm trực quan (nhờ nghe nhìn trực tiếp mà phát sinh cảm xúc, rồi nghiệm ra kiến thức). Phương pháp thính thị (nghe nhìn) là một phương pháp giáo dục rất hiệu quả. Người giảng viên cần hiểu rõ và nắm vững phương pháp này đã đành, nhưng người học cũng rất cần phải hiểu cho thấu đáo để áp dụng cho bản thân mình khi học tập. Nhiều người cứ cho phương pháp nghe nhìn là một phương pháp tân tiến được khai sinh ở thế kỷ XX, thực ra phương pháp này đã có từ lâu mà nó chỉ được cải tiến và áp dụng bằng những phương tiện và những dụng cụ trợ huấn mới mẻ khác xưa mà thôi. Từ thời Cựu Ước đã có : "Sấm ngôn của người nghe các lời Thiên Chúa, / người ngắm nhìn thị kiến Đấng Toàn Năng, của người ngủ mà mắt vẫn mở trong lúc xuất thần" (Ds 24, 4) "vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu" (1Sm 15, 2), "Sấm ngôn của người nghe các lời Thiên Chúa,/ và biết những tư tưởng của Đấng Tối Cao,được Đấng Toàn Năng cho nhìn linh thị,/ của người ngủ mà mắt vẫn mở trong lúc xuất thần" (Ds 24, 16). Đến thời Tân Ước thì chính Người Thầy Chí Thánh truyền dạy bằng những dụ ngôn ("Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá" – Mt 7, 24 ; "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa." – Lc 11, 28 ; "Ai có tai, thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh" – Kh 2, 11).
Đã có một số bạn bè không cùng tôn giáo của kẻ viết bài này cho rằng việc đạo Công Giáo tôn thờ biểu tượng "Đức Giê-su Thiên Chúa chết treo trần truồng trên thập tự" là không nên, họ nói : "Đã đành công cuộc cứu độ của Chúa Giê-su là như thế, nhưng chỉ cần tôn kính, tin cậy trong lòng là đủ. Tại sao lại trưng hình ảnh đó lên, làm như thế chẳng hoá ra là việc bêu riếu vị tôn Chúa mà mình kính mến đó sao ?". Tôi phải giải thích : "Việc trưng biểu tượng Đức Giê-su Ki-tô chết trên tthập giá, nếu chỉ nhìn và suy nghĩ theo người phàm, thì đúng là như vậy. Tuy nhiên, ở đây Giáo Hội Công Giáo muốn cho các tín hữu khi nghe Lời Chúa thông qua các mục tử và anh em đồng đạo, thì cũng được nhìn tận mắt hình ảnh Chúa của mình đã phải chịu nhục hình như vậy để cứu chuộc loài người. Đó chính là phương pháp giáo huấn thính thị, để từ đó có được những cảm nghiệm siêu hình. Nói khác hơn là dùng phương pháp thông qua sự nghe nhìn thể lý để đi đến nghe nhìn bằng tâm linh vậy. Và chỉ có như thế mới tạo lập, duy trì và phát huy được niềm tin (đức tin) về Thiên Chúa và Tình Yêu của Người".
Phương pháp sư phạm thính thị ngày nay tiến bộ vượt bậc nhờ vào những phương tiện truyền thông tối ưu của thời đại. Giáo Hội đã chấp nhận và khuyến khích sử dụng những phương tiện tối tân ấy, nhưng vẫn luôn nhắc nhở cảnh giác, bởi nó luôn luôn là con dao hai lưỡi. Hãy biết nhìn và biết lắng nghe – "nhìn", "nghe" nhiều hơn "nói" – đó là lời khuyên chí tình, bởi vì Thiên Chúa ban cho con người tới hai cái tai, hai con mắt, nhưng chỉ một cái miệng.
IV.3. Học là đàm thoại : Bàn bạc, trao đổi với chính người giảng viên, hoặc với anh em là một phương pháp rất hiệu nghiệm giúp cho người học tiếp thu được bài học một cách chắc chắn, thậm chí còn giúp củng cố thêm kiến thức, khai mở thêm hướng đi, và nhất là giúp vận dụng hữu hiệu những kiến thức học hỏi được vào cuộc sống thường nhật. Cứ xem như các Tông đồ thủa xưa mỗi khi nghe Thầy Giê-su Ki-tô giảng dạy, nếu chưa hiểu thì hỏi lại Thầy ngay, hoặc nếu còn băn khoăn thì đem ra bàn thảo với nhau, đủ biết phương pháp đàm thoại có tác dụng tốt như thế nào. Những điều chưa hiểu, chưa thấu đáo, cứ mạnh dạn đem ra hỏi lại giảng viên, hoặc bàn thảo, đàm đạo với anh em để tìm ra chân lý. Người giảng viên biết áp dụng phương pháp đàm thoại trong khi giảng dạy là một điều rất tốt, nhưng nếu không được học viên đáp ứng, cộng tác, thì cũng kể như không. Phương pháp này chỉ thực sự đem lại kết quả tốt đẹp khi được cả thầy lẫn trò cùng thấu triệt và hợp tác thực hành.
IV.4. Học là chất vấn : Học là tìm hiểu những điều mình chưa biết hoặc chưa hiểu rõ. Khi nghe + nhìn + đọc về một vấn đề nào đó, nếu người học thuộc loại "ba phải – quan tám cũng ư, quan tư cũng gật", thì chẳng còn gì để nói ; nhưng nếu óc tò mò bị kích thích, rồi tự đặt câu hỏi và tìm câu trả lời, ấy mới là biết cầu thị, cầu học. Vâng, cần – rất cần chất vấn (có thể chất vấn tha nhân, nhưng trước hết là chất vấn bản thân, rồi tìm lời giải đáp từ những nguồn học vấn phong phú như đã nêu trên – mục III "Nguồn học vấn"). Khi viết Thánh Kinh, Thánh sử Lu-ca chắc cũng bị ông Thê-ô-phi-lô chất vấn, chúng ta hãy nghe ngài trả lời : "Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta.3 Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài,4 mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc. 4mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc"(Lc 1, 1-4).
IV.5. Học là hành động : Học không thể là thụ động, để mặc cho tha nhân nhồi nhét, mà phải chủ động không những chỉ ở cách thức tìm tòi cẩu học, mà còn phải đem ra thực hành những điều mình đã tiếp thu được. Gọi là học tập (“Học nhi thì tập chi”) hay học hành (“Ấu nhi học, tráng nhi hành”) chính là vì thế (“Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em” – Pl 4, 9 ; "Anh em thấy đó, nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi. Ra-kháp, cô gái điếm cũng vậy: há chẳng phải nhờ hành động mà đã được nên công chính, vì đã đón tiếp các sứ giả và đưa họ đi lối khác sao? Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết" – Gc 2, 24-26)
IV.6. Học theo chiều kích tiệm tiến : Con đường học vấn ngày xưa đi theo trình tự : Tầm đạo (tìm đường) -> tầm sư (tìm thầy) -> bái sư (lạy thầy ra mắt : xin học) - > nhập môn (vào cửa : bắt đầu học) -> thăng đường (lên nhà : tiến bộ, thành đạt). Trên con đường "Tầm sư học đạo" đó, phải đi từng bước một, không thể đốt giai đoạn. Đến như khi học thì cũng phải học từ từ, chưa "nhập môn" đã đòi "thăng đường" là không thể. Chiều kích quan trọng của việc học là chiều kích tiệm tiến. Gọi sự học là biển học, ấy cũng là muốn khuyên con người đừng hấp tấp đòi nhẩy ào ra biển, chắc chắn sẽ bị chết chìm ; nhưng hãy từ từ lần theo các con lạch, các dòng suối nhỏ, tiến dần ra sông ngòi, nhiên hậu mới đủ năng lực tiến vào biển cả. Ăn tham, ăn vội sẽ mắc nghẹn, nhưng mưa lâu, mưa dầm thì thấm đất. Cũng vậy, hãy đi từ điều dễ cho đến điều khó, từ nông đến sâu. Dù học bằng phương pháp nào chăng nữa thì cũng đừng quên đi theo chiều kích tiệm tiến. (“Anh đừng muốn đi thẳng xuống biển, nhưng hãy từ từ lần theo các dòng suối nhỏ ; hãy đi từ điều dễ cho đến điều khó. Đó là điều mà tôi nghĩ là một quy luật” – Lm Phan Tấn Thành - "Tìm hiểu Dòng Đa Minh", tr 120-122).
KẾT LUẬN :
Loài người sở dĩ có được những tiến bộ vượt bậc về mọi mặt trong cuộc sống phải chăng là nhờ học vấn, nhờ biết chắt lọc và tiếp thu những kiến thức (phổ thông, uyên bác) truyền thụ liên tiếp từ đời nọ đến đơi kia ? Xã hội loài người nói chung, và cách riêng với từng quốc gia, sự học vấn luôn được cổ vũ, động viên, khuyến khích. Trình độ văn hoá của công dân trong một nước có thể đánh giá đúng mức sự tiến bộ và hưng thịnh của quốc gia đó. Ngoài xã hội còn như vậy, huống chi là trong Giáo Hội. Đặc biệt đối với Dòng Anh Em Thuyết Giáo, ngay từ sơ khai, Thánh Tổ Phụ đã làm một cuộc canh tân vĩ đại không chỉ riêng cho Dòng mình, mà còn cho các Dòng tu khác nữa, là coi sự học như một phương thế cần thiết và hữu ích để đạt đến cứu cánh hoàn thiện sứ vụ giảng thuyết của Dòng. Hiến pháp Dòng (1968) đã trình bày súc tích về vai trò của việc học đối với đặc sủng của Dòng (giảng thuyết Lời Chúa và cứu rỗi các linh hồn), tiến đến đối tượng chính của việc học (mầu nhiệm Cứu Độ) được mạc khải qua Thánh Kinh và Thánh truyền, đồng thời cũng cần phải nghiên cứu học hỏi các nền văn hoá và tư tưởng của nhân loại (xưa + nay), ngõ hầu có thể rao giảng Chân Lý cho người đời. Ngoài ra, Hiến pháp vẫn không quên nhắc đến giá trị tu đức của việc học.
Tóm lại, trong môi trường rất thuận lợi của HĐGD Đa Minh, chúng ta có thật nhiều điều kiện để học hỏi và cũng không ít phương cách (đọc – nghe – nhìn – suy niệm – cầu nguyện ...) để thực hiện lòng khao khát thăng tiến. Để kết thúc, xin mượn lời Thánh Tô-ma A-qui-nô viết cho tập sinh Gio-an : "Hãy chậm nói và từ tốn lên tiếng phát biểu. Hãy giữ lương tâm tinh tuyền. Đừng bỏ qua việc cầu nguyện. Hãy yêu mến sự thinh lặng trong phòng riêng nếu anh muốn được dẫn vào kho tàng kiến thức. Hãy hoà nhã với mọi người. Đừng tọc mạch muốn biết công chuyện riêng tư của người khác. Đừng quá thân mật với ai hết, bởi vì sự thân mật dễ đưa đến suồng sã và làm xao lãng việc học hành. Đừng nhúng mình vào chuyện thế sự. Tránh bàn tán những chuyện nhảm nhí. Hãy gắng bắt chước gương tốt của những vị thánh hiền. Không cần biết ai là tác giả của một câu nói, nhưng hãy biết tiếp nhận điều tốt mà họ nói. Hãy cố gắng hiểu điều mà anh đang đọc hay nghe. Hãy khai thông mọi điều ngờ vực, và lưu giữ trong ký ức những gì có thể được. Đừng tìm hiểu những gì vượt quá khả năng của mình …” (Lm Phan Tấn Thành - "Tìm hiểu Dòng Đa Minh", tr 120-122).
JM. Lam Thy ĐVD.
