 |
TRANG CẦU NGUYỆN ONLINE, TẠ ƠN, LÀM CHỨNG Nơi gặp gỡ tâm linh của mọi người trên thế giới.
|
| Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn |
| Tác giả |
Thông điệp |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: CN 11 01, 2009 3:12 am Tiêu đề: Phúc thay ai hiền lành |
|
|
Lễ Các Thánh (Mat-thêu 5, 1-12)
Khát vọng lớn nhất, sâu xa nhất của con người là được hạnh phúc. Vì thế, người ta thường cầu chúc cho nhau được dồi dào phúc, lộc, thọ. Trong bộ ba đó, phúc đứng hàng đầu. Nhưng điều quan trọng là phải sống thế nào để đạt được hạnh phúc đích thật?
Qua bài Tin Mừng Lễ Các Thánh (Mat-thêu 5, 1-12), Chúa Giê-su nêu lên tám đối tượng được chúc phúc và một trong những đối tượng đó là người hiền lành: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp”.
Chúa Giê-su là Thiên Chúa nên Người có đầy đủ những phẩm tính cao đẹp nhất, thế nhưng Người lại chú trọng đến đức tính hiền lành hơn hết và kêu mời chúng ta: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29), “phúc cho những ai hiền lành”, “hãy khôn ngoan như con rắn và hiền lành như bồ câu” (Mt 10, 16).
Vậy giờ đây, xin cùng nhìn lại những phẩm chất của người hiền lành.
Người hiền lành mềm dẻo như tre.
Trong cơn bão tố cuồng phong, nhiều cây cổ thụ cao lớn bị xô ngã, trốc gốc, gãy cành; nhưng tre và trúc thì an bình vô sự nhờ tính mềm dẻo của mình. Tương tự như thế, người hiền lành luôn mềm dẻo trong cách đối nhân xử thế, nên họ không hề bị ngã gục đau thương.
Người hiền lành mềm mại như nước.
Người ta có thể đập vỡ đá cứng, nhưng không bao giờ đập vỡ được nước. Khi ta giáng búa tạ vào đá, đá sẽ dùng sự cứng rắn của mình kháng cự lại búa và như thế đá sẽ bị vỡ tan; còn khi giáng búa tạ vào nước, nước dùng sự mềm mại của mình mà nuốt trửng búa và nhận chìm búa xuống bùn!
Nước tuy mềm mại nhưng có thể bào mòn đá cứng: “nước chảy đá mòn.” Người hiền lành tuy mềm mỏng nhưng có thể làm xiêu lòng những tâm hồn chai đá nhất.
Người hiền lành lấy nhu thắng cương, lấy nhược thắng cường.
Họ hiểu được chân lý Chúa Giê-su dạy: “Ai dùng gươm thì sẽ phải chết vì gươm” nên họ không dùng bạo lực với bất cứ ai. Họ không ăn miếng trả miếng như bao nhiêu người khác, không theo luật “mắt đổi mắt răng đền răng” nhưng biết chế ngự tính nóng nảy, hãm dẹp tính tự ái, biết lấy thiện báo ác, biết lấy tình thương xoá bỏ hận thù.
Vì thế, rốt cuộc, người hiền lành mới là người chiến thắng. Họ thu phục được nhân tâm và tình yêu của mọi người chung quanh.
Ngày nọ, thánh Vinh-sơn bước vào một tiệm cơm, ngả mũ xin thực khách bố thí cho những trẻ mồ côi mà ngài đang chăm sóc. Cũng trong tiệm ấy, có một anh thợ giày ngạo mạn và đang có hơi men hất hàm hỏi ngài: “Tiền cho trẻ em nghèo hả? Có đây!”
Thế rồi anh ta hớp một ngụm bia, phun thẳng vào mặt thánh Vinh-sơn trước những cặp mắt bàng hoàng kinh ngạc của các thực khách. Mọi người im lặng chờ đợi sự đáp trả cân xứng từ phía Vinh-sơn, một con người vạm vỡ vừa bị xúc phạm quá đáng trước mặt đám đông.
Vinh-sơn từ từ cho tay vào túi, không phải để tìm hung khí trừng trị anh thợ giày nhỏ thó kia, nhưng là để rút ra một chiếc khăn tay và từ tốn lau khuôn mặt dơ bẩn của mình. Sau đó, cho khăn vào túi, ngài ôn tồn nói với anh thợ giày: “Cám ơn anh. Phần anh cho tôi, tôi đã nhận. Thế còn phần của các trẻ mồ côi đâu?”
Mọi người trong quán hết sức ngạc nhiên vì thái độ điềm tĩnh và hiền lành tột bực của ngài. Cả anh thợ giày hỗn láo kia cũng cảm thấy rúng động trước tấm lòng bao dung hào hiệp và bản lãnh rất cao của ngài. Anh ta quỳ xuống tạ lỗi và sau đó, quay về quyên góp bà con bạn bè một số tiền khá lớn đem đặt dưới chân thánh Vinh-sơn để giúp cho những kẻ nghèo.
Lạy Chúa Giê-su hiền lành khiêm nhượng,
Chúa kêu mời “hãy học cùng Tôi vì Tôi dịu hiền”. Xin cho đoàn con biết học sống hiền lành như Chúa để đáng được hồng phúc Chúa hứa ban.
LM Inhaxiô Trần Ngà _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Hai 11 02, 2009 1:36 am Tiêu đề: Phù Vân và Vô Thường |
|
|
Phù Vân và Vô Thường
Phù vân!Phù vân! Đại phù vân!
Vô thường!
Vô thường! Đại vô thường!
Tháng Mười Một, tháng của mùa thu và của chớm đông. Lá vàng và tuyết trắng nhắc nhở những người còn đang đi trên mặt đất về những người đã nằm xuống trở về với cát bụi. Tháng Mười Một, tháng của các linh hồn thổi gió lạnh buốt nhắc nhở nhân sinh về cuộc sống phù du vô thường. Phù du vô thường nhắc nhở người Kitô hữu câu chuyện nổi tiếng của ông Job trong dòng lịch sử Cựu Ước, một câu chuyện có lẽ vẫn còn làm nhiều người lắc đầu ngán ngẩm cho cuộc sống nhân sinh. Từ một người giàu có, nhà cao cửa rộng, thóc lúa đầy kho, ruộng đồng thẳng cánh, con đàn cháu đống, gia nhân rộn ràng, nhưng chỉ qua một đêm, tự nhiên ông Job thức dậy nhận ra tay mình tay trắng, đúng là bừng con mắt dậy, thấy mình trắng tay.
Đúng như thế, theo như tác giả Sách Ông Job, vào một buổi sáng không dự liệu, không tiên đoán, không ai ngờ, tin dữ liên tiếp đập trống khua chiêng gõ cửa nhà người giàu có khét tiếng của phương Đông. Ông phú hộ Job mở hai cánh cửa ra chỉ để ngỡ ngàng nhận được bao nhiêu hung tin. Dư thừa như lá vàng héo khô mùa thu, như tuyết trắng bay bay mùa đông, hung tin thay phiên nhau mở miệng hét to, gào lớn, báo tin bẩy người con trai, ba người con gái, và tất cả gia nhân cũng như gia súc của người giàu có giờ này đã hoàn toàn tan biến thành tro bụi. Hung tin mở máy phóng thanh ồn ào thông báo cho ông Job biết trộm cướp, lửa trời, và cuồng phong nắm tay nhau ném đá giật sập nhà cửa ruộng nương và giết chết hết tất cả đầy tớ cùng mười người con thân yêu của ông Job. Chỉ trong vòng một khoảng thời gian rất ngắn, tất cả vật chất sung mãn tràn đầy trong nhà một người giàu có bỗng dưng trở nên trống vắng thiếu thốn trắng tay, đúng như Sách Giảng Viên đã từng nói,
Phù vân nối tiếp phù vân.
Tất cả chỉ là phù vân (Giảng Viên 1:2).
Phù vân là hơi nước tụ họp gặp mặt nhau trên bầu trời. Từ những dòng sông ngòi cong mình uốn khúc và ngũ đại dương bao la xanh đậm, hơi nước nho nhỏ bốc cao lơ lửng ngập ngừng. Hơi nước của sông gặp gỡ hơi nước của biển. Cả hai cộng lại hóa ra tơ trời. Ngàn vạn sợi tơ của trời đan kết lụa là dệt ra mây trắng lững lờ trôi nổi bồng bềnh. Mây trời nối tiếp mây trời, lang thang nối tiếp lang thang. Mặt trời bình minh phương Đông vươn cao ném tung xuống cõi trần gian hơi nóng. Hơi nóng tỏa nhiệt đốt cháy mây trời, tẩy xóa phù vân. Phù vân biến thành vô thường. Vô thường tiếp nối phù vân. Phù vân nối tiếp vô thường chầm chậm loãng tan biến mất. Có đó rồi mất đó. Mất đó rồi lại hiện ra. Hiện ra rồi lại biến mất, y như hơi nước, y như tơ trời, y như phù vân, y như vô thường, y như cuộc sống nhân sinh thoáng hiện thoáng mất.
Vô thường! Vô thường! Đại vô thường!
Những chú khủng long T-Rex của 65 triệu năm về trước đang cúi đầu gầm gừ nhai xé thịt tươi đỏ máu của đồng loại cũng đâu ngờ thiên tai đang rớt xuống trên đầu. Chỉ trong thoáng chốc, vẩn thạch từ không gian đâm sầm vào mặt quả địa cầu xanh lơ. Lửa đỏ từ trời rớt xuống. Cát bụi trở về cát bụi. Trời và đất khoác lên mầu áo tối đen. Tối đen thổi tắt ánh sáng mặt trời. Tối đen buông màn giăng mắc che phủ địa cầu. Khủng long T-Rex biến mất nhường chỗ cho con người thấp nhỏ đứng lên trên hai bàn chân. Giờ này khủng long và những chú T-Rex chỉ còn lại xương khô hóa thạch sừng sững vươn cao đe dọa trong Viện Bảo Tàng. Những chú khủng long to lớn, sức mạnh đập xuống tan đá vụn sỏi tưởng chừng như là trường tồn vĩnh cửu rồi cũng biến dạng hóa thành cát bụi. Khi vẩn thạch của vũ trụ ghé vào viếng thăm, triệu triệu ngôi mộ lăng tẩm của khủng long ngổn ngang gò đống trải rộng thênh thang khắp mặt địa cầu.
Cuộc sống nguyên thủy đã là phù phiếm. Bản chất của nhân sinh là hoang đường. Tất cả mọi người đều đã được sinh ra trong tro bụi. Và rồi, một ngày nào đó, chúng ta nhắm mắt lại trở về với bụi tro. Khi nằm xuống, không ai trong chúng ta mang theo được bất cứ một thứ gì về bên kia thế giới, ngoại trừ đôi tay trắng. Tài sản bao nhiêu năm ký cóp chắt chiu để dành, vàng bạc hột xoàn kim cương một hộp, con cái sanh ra đầy nhà, nhà cửa chung cư chập chùng xếp lớp của bao nhiêu năm trả góp, tính toán chi li từng đồng, hà tiện dành dụm từng xu, nhịn miệng bóp bụng từng tô phở rồi cũng chẳng mang theo được. Khi quay về với cát bụi, chúng ta biến tan vào trong hư vô tịch mịch y như phù vân trên trời. Khi chúng ta nằm xuống, tay trắng lại hoàn trắng tay. Tất cả đều trở nên vô thường, có đó rồi mất đó, đúng như con trai của Vua Đavít đã từng nói,
Mọi chuyện đều có lúc,
Mọi việc đều có thời.
Một thời để sinh ra và một thời để chết đi
(Giảng Viên 3:1-2).
Ngày xưa có một ông phú hộ rất thành công trên thương trường. Ông làm ăn ngày càng phát đạt, lúa thóc đầy kho, nhiều tiền nhiều của. Một hôm hứng chí với những thành quả mình đã đạt được, người nhà giàu mở miệng nói,
— Bây giờ phải làm chi đây để mà hưởng thụ, ăn chơi sung sướng? Thôi, thì mình sẽ làm như thế này. Việc đầu tiên là sẽ phá những kho thóc cũ đi, xây dựng những kho thóc mới, lớn hơn, đẹp hơn, huy hoàng hơn. Và rồi ta sẽ nói, “Hồn ta ơi, hãy vui lên, hãy hưởng thụ”.
Nhưng Trời Cao nói với ông phú hộ,
— Ngốc ơi là ngốc! Đêm nay ta sẽ lấy mạng của nhà ngươi đi, thì nhà ngươi làm được cái chi với tất cả những tài sản thóc lúa trong vựa?
Câu chuyện vừa rồi không phải là câu chuyện cổ học tinh hoa, nhưng là câu chuyện của Tin Mừng trong Luca 12:13-21, ý muốn diễn giải và trình bày tính chất phù vân và vô thường của cuộc sống.
Cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng đã từng than thở về nét phù vân và vô thường của cuộc đời qua câu truyện của tố nga Đạm Tiên, một người con gái đẹp, khi còn sống, người người tấp nập ghé nhà thăm viếng nâng niu đóa quốc sắc thiên hương. Nhưng rồi, cuối cùng cành hoa vàng ngọc cũng nằm xuống. Ngàn vàng một đóa hoa quỳnh bị vùi dập bên đường, trở thành nấm mộ hoang cỏ dại, để rồi đúng ngày
Thanh Minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh,
Hai nàng Kiều cùng đi qua. Thấy ngôi mộ bỏ hoang trống vắng,
Sè sè nắm đất bên đường,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh,
Thúy Kiều mới hỏi em trai là Vương Quan,
Rằng: “Sao trong tiết Thanh Minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế này?"
Ý Thúy Kiều muốn nói hôm nay là ngày tảo mộ mà tại sao ngôi mộ này lại hương khói lạnh tanh không nhang không khói y như một ngôi mộ hoang? Vương Quan mới nói với nàng Kiều là người này hồi xưa đẹp nổi tiếng, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc, quay đầu liếc nhìn một cái thành quách nghiêng ngả, quay đầu liếc nhìn thêm một lần nữa, quốc gia suy tàn. Nhưng rất tiếc, người hoa chết sớm. Bởi không thân nhân, không thân thích, không họ hàng, cho nên thân xác của hoa lý hoa quỳnh bị chôn vùi nông cạn bên vệ đường. Để rồi tới ngày hôm nay, ngày của tảo mộ, hội của đạp cỏ xanh, không ai nhìn ngó, không ai thương tiếc cắm cho một cây nhang để linh hồn ở dưới cõi tuyền đài bớt tẻ lạnh. Lắng nghe câu chuyện của người con gái năm xưa, Thúy Kiều đầm đìa những hạt lệ châu sa, vung tay viết lên gốc cây hai bài thơ than ngắn thở dài, ơi sao cuộc sống quá là phù vân.
Đó là nói chuyện hồi xưa. Còn chuyện bây giờ, câu chuyện của thiên niên kỷ thứ ba. Hoa Kỳ, một quốc gia giầu có, một cường quốc trên thế giới. Để đạt được tới địa vị siêu cường của ngày hôm nay, người Hoa Kỳ ai ai cũng phải làm việc không ngừng nghỉ. Không ai trên vùng đất hứa có thể thoát khỏi bàn tay sắt bọc nhung êm của vòng quay làm việc tại thiên đàng hạ giới Hiệp Chủng Quốc. Chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hoa Kỳ, gia đình Việt Nam sống trên vùng đất mới cũng bị cuốn hút vào trong guồng máy khổng lồ của siêu cường. Cứ sáng sáng tôi mở mắt ra, đề máy xe, chạy vào trong những siêu xa lộ. Tôi chạy riết, chạy riết, mà vẫn không biết khi nào sẽ phải tách ra khỏi dòng xe cộ ngược xuôi. Gia đình Việt Nam, khi mới đặt chân trên vùng đất mới, ai cũng cần phải có một cái nhà. Để đạt được căn nhà mơ ước, bố mẹ làm ngày 8 tiếng. Hết 8 tiếng tôi làm thêm 2 tiếng. 2 tiếng cộng lại hóa ra 4 tiếng. 4 tiếng cộng lại hóa ra 8 tiếng của ngày thứ Bẩy cuối tuần. Thứ Bẩy đóng lại mở ra Chúa Nhật, lại thêm 8 tiếng. Sau nhà là TV. Sau TV là bộ ghế sa-lông bằng da. Nhà có rồi, mình cũng cần một cái xe hơi đắt tiền nằm trong nhà để xe chứ. Cứ thế, cuộc sống cuốn hút tôi xoáy sâu cuộn tròn vào trong cơn lốc, quên mất đi cuộc sống này ngắn ngủi và tạm bợ, phù vân và vô thường.
Bởi những cám dỗ của vật chất, tôi cứ như những người mất trí nhớ. Sáng sớm tôi mở máy xe lên xa lộ, đạp ga chạy không ngừng nghỉ, chạy tới, chạy miết, chạy quên luôn cái ngã rẽ xa lộ mà mình phải lái ra, cái ngã rẽ đó dẫn tôi về lại căn nhà thân thương của mình, nơi đó có cha có mẹ, có vợ có chồng, có con đang ngồi mong chờ ngóng đợi. Bởi những xa lộ không có ngõ ra, thiên niên kỷ thứ ba lại ngập tràn bóng dáng của những thiếu phụ Nam Xương. Đêm đêm bóng dáng của bà Vũ thị Thiết lại chập chờn thoáng ẩn thoáng hiện trên vách tường. Bởi những xa lộ không có ngõ ra, tiếng than thở của thiếu niên Trương Đản trên vùng đất mới vẫn còn vang vọng đâu đây,
— Bố đâu rồi? Mẹ đâu rồi? Con không cần tiền và quần áo đẹp. Con cần bố. Con cần mẹ.
Bạn thân,
Cuộc sống này nguyên thủy đã là phù phiếm, đã là phù vân, đã là vô thường. Nhưng tạ ơn Chúa và tạ ơn cho niềm tin, chỉ có trong Thiên Chúa, con người mới sống trường sinh, sống vĩnh viễn, sống tràn đầy, và sống sung mãn. Tháng Mười Một trong niên lịch phụng vụ nhắc nhở bạn và tôi về những linh hồn Kitô hữu đã nằm xuống; những linh hồn của ông bà, bố mẹ, anh chị em, con cháu, và họ hàng; những linh hồn không bao giờ tan mất bởi họ nằm xuống trong niềm tin vào Thiên Chúa.
Vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên của nhân loại, Đức Kitô Phục Sinh đã sống lại, Đức Kitô đã chiến thắng tử thần và lẽ vô thường của cõi nhân sinh. Bởi vì Ngài sống lại trong vinh hiển, Đức Giêsu Phục Sinh đã thay đổi lại thân phận phù vân của con người. Bởi niềm tin vào Đức Kitô, linh hồn của những người tín hữu đã nằm xuống sẽ không bao giờ tan biến vào trong cõi hư vô như phù vân. Và cũng bởi niềm tin, bạn và tôi cũng không sống một đời sống vô thường, bởi vì chúng ta có một niềm tin sắt son vào một Đức Kitô Phục Sinh.
Vào một ngày kia, ông Job bừng con mắt dậy thấy mình trắng tay. Ngày hôm sau, ghẻ lở viếng thăm, thân xác héo tàn. Nhưng người giàu có của phương Đông năm xưa vẫn không mất niềm tin, nhưng vẫn tiếp tục tin tưởng vào sự quan phòng của Giavê Thiên Chúa. Và đúng như vậy, cuối cùng Thiên Chúa lại ban cho người trắng tay dư thừa ân sủng trời cao và ân phúc trần thế, bởi niềm tin của chính ông ta vào một Thiên Chúa quan phòng.
Lời Nguyện
Lạy Chúa, cuộc sống này vô thường và phù vân. Nhưng tạ ơn Chúa đã ban cho con niềm tin vào Chúa. Và bởi niềm tin vào Chúa, tháng Mười Một của các linh hồn, của lá thu vàng và tuyết đông trắng, của phù vân và vô thường không làm con thất vọng và muộn phiền, nhưng càng thêm tin tưởng vào bàn tay quyền năng, nhân diện từ bi, và tình yêu khoan dung của một Thiên Chúa chậm bất bình, tràn đầy vị tha.
www.nguyentrungtay.com
Nguyễn Trung Tây, SVD _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Ba 11 03, 2009 1:47 am Tiêu đề: 3 Tháng Mười Một le Thánh Martin Người Nghèo(1579-1639) |
|
|
Con Chỉ Là Một Tên Mọi Ðen
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Martinô Porres.
Nhắc đến thánh nhân, người ta thường liên tưởng đến những ơn lạ lùng như xuất thần ngất trí trong khi cầu nguyện, như hiện diện ở hai nơi cùng một lúc, hoặc như có thể trò chuyện và điều khiển cả thú vật.
Vị thánh có lòng bác ái cao độ này lại xuất thân từ một hoàn cảnh vô cùng bi đát và đắng cay. Là con của một thiếu nữ da đen đã từng bị đem bán làm nô lệ vào một nhà quý tộc người Tây Ban Nha, Martinô đã được vị linh mục Rửa Tội ghi trong sổ bộ của giáo xứ là "con không cha". Quả thật, con không cha như nhà không nóc. Martinô đa lớn lên trong cảnh thiếu vắng tình cha mãi cho đến năm 8 tuổi. Nhưng sau khi được chính thức thừa nhận không bao lâu, thì người cha lại bỏ rơi gia đình. Một lần nữa, cậu bé Martinô lại rơi vào cảnh khốn khổ như đa số các em bé nghèo của thành phố Lima, Pêru vào giữa thế kỷ thứ 16.
Nhưng cảnh nghèo ấy đã không gieo vào lòng cậu bé mang hai dòng máu này chút đắng cay nào. Trái lại, cậu tiếp nhận mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống như một thách đố, như một ân sủng.
Năm 12 tuổi, Martinô đã được học nghề hớt tóc và đôi chút xảo thuật của ngành giải phẫu. Vừa hành nghề như một người thợ hớt tóc, vừa như một y tá, Martinô đã đem hết sự hăng say và tận tụy của mình để phục vụ những người nghèo đồng cảnh ngộ.
Nhưng nhận thấy chỉ có thể sống trọn Ðức Ái trong một tu viện, Martinô đã đến gõ cửa một nhà dòng Ðaminh để xin được làm trợ sĩ trong nhà? Bí quyết nên thánh của thầy Martinô là sám hối cầu nguyện và phục vụ, nhất là phục vụ trong những công việc vô danh nhất. Lần kia, nhà dòng mang nợ đến độ không thể bảo đảm được các nhu cầu của các tu sĩ, thầy Martinô đã đến thưa với Bề trên như sau: "Thưa cha, con chỉ là tên mọi đen. Xin hãy bán con đi".
Sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho người khác, thầy Martinô cũng luôn nhận tất cả phần lỗi về mình.
Ôn lại gương hy sinh, cầu nguyện và bác ái của thánh Martinô, không những chúng ta chỉ chạy đến xin ngài bầu cử trong những lúc gặp gian nan thử thách, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là lòng tin thác vào Chúa quan phòng của thánh nhân mà chúng ta cần học hỏi, nhất là trong giai đoạn gặp khó khăn này.
Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Ðó phải là niềm xác tín của chúng ta. Một Thiên Chúa quan phòng là Ðấng có thể biến tất cả những đắng cay, buồn phiền, thất bại, khổ đau trong cuộc sống con người thành khởi đầu của một nguồn ơn cao quí hơn. Cũng như loài ong chỉ rút mật ngọt từ bao nhiêu vị đắng cay của cánh hoa, cũng thế, người có niềm tin luôn có thể rút tỉa được những sức đẩy mới từ những thất bại rủi ro trong cuộc sống. Thánh Martinô đã không hận đời đen bạc vì bị người cha bỏ rơi, mà trái lại xem đó như một dịp may để cảm thông, để học hỏi và để phục vụ người khác hữu hiệu hơn. "Hạt lúa rơi xuống đất có mục nát đi mới trổ sinh được nhiều bông hạt". Ðó là định luật của cuộc sống. Thập giá trong cuộc sống thường là khởi đầu và cơ may cho một vươn lên cao hơn.
Chúng ta thường chạy đến khẩn cầu với thánh Martinô trong cơn hoạn nạn thử thách, chúng ta cũng hãy noi gương ngài để phó thác cho Tình Yêu quan phòng của Chúa, và nhất là xin Ngài cũng giúp chúng ta luôn biết lấy Tình Thương để thắng vượt những ngược đãi của người đời, cũng luôn biết sẵn sàng phục vụ và phục vụ bằng chính mạng sống của mình.
Trích sách Lẽ Sống _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Tư 11 04, 2009 12:12 am Tiêu đề: Mỗi ngày một câu chuyện |
|
|
DÊ TRẮNG VÀ DÊ ĐEN
Người mục tử chăm chăm nhìn đàn dê của mình, người qua đường nói với anh ta:
- “Bầy dê này nhìn kỷ thì thật tốt, tôi muốn hỏi một vài vấn đề được chứ ?”
- “Được.”
- “Dê của ông mỗi ngày đi được bao nhiêu đoạn đường ?”
- “Anh hỏi loại dê nào ? Loại trắng hay loại đen ?”
- “Dê trắng.”
- “Dê trắng mỗi ngày đi được khoảng bốn dặm đường.”
- “Vậy dê đen thì thế nào ?”
- “Dê đen thì cũng như dê trắng.”
Người qua đường lại hỏi tình trạng ăn cỏ của dê:
- “Chúng nó mỗi ngày ăn bao nhiêu cỏ ?”
- “Loại nào, dê trắng hay dê đen ?”
- “Dê trắng.”
- “Mỗi ngày dê trắng ăn khoảng bốn cân cỏ.”
- “Vậy còn dê đen ?”
- “Dê đen thì cũng như dê trắng.”
- “Mỗi năm có thể cắt được bao nhiêu lông dê ?”
- “Anh hỏi dê trắng hay dê đen ?”
- “Dê trắng.”
- “Dê trắng mỗi đầu năm cắt được khoảng sáu cân.”
- “Vậy còn dê đen ?”
- “Dê đen thì cũng như dê trắng.”
Người qua đường đi vào mê hoặc:
- “Tôi có thể hỏi thêm câu hỏi nữa được không ? Khi anh trả lời câu hỏi của tôi, tại sao đều phải hỏi rõ ràng dê trắng dê đen ?”
- “Đó là chuyện đương nhiên, bởi vì dê trắng là của tôi.”
- “Té ra là như thế, vậy dê đen thì sao ?”
- “Cũng là của tôi.”
(Bài ca của loài ếch)
Suy tư:
Cùng một đàn dê nhưng có dê trắng và dê đen, bởi vì không có đàn dê nào chỉ toàn một màu trắng, hoặc chỉ một màu đen. Cùng một cộng đoàn tu viện nhưng có tu sĩ này thì làm việc ở trong tu viện, tu sĩ kia làm việc ngoài tu viện nơi các trường học, giáo xứ, bệnh viện.v.v...
Cùng một giáo xứ, nhưng có giáo dân thánh thiện, có giáo dân tội lỗi; có giáo dân nhiệt thành với nhà Chúa, có giáo dân khô khan lãnh đạm với những công việc của giáo xứ.
Bổn phận của người chăn dê là làm thế nào để cho dê trắng hoặc dê đen đều béo no mập mạp như nhau, dê trắng khỏe mạnh thế nào thì dê đen cũng khỏe mạnh như thế.
Cũng vậy, bổn phận của một mục tử trong giáo xứ là làm thế nào để cho mọi giáo dân (con chiên) của mình –dù là nhiệt thành hay nguội lạnh- đều giống nhau, người nhiệt thành được chăm nom thế nào, thì người nguội lạnh cũng được chăm nom như thế; người giàu có hay người nghèo khó đều được lãnh nhận các ơn lành của Chúa giống nhau.
Người chăn dê hãnh diện vì dê trắng tốt lành là của mình, và dê đen cũng là của mình, bởi vì đàn chiên đó là của anh ta.
Ước gì các mục tử của Chúa dám vươn mình đứng lên ra khỏi “tháp ngà” nhà xứ để đi tìm “chiên đen” của mình; ước gì các mục tử của Chúa biết hy sinh chút thời gian của mình để mau mắn tiếp đón các “chiên đen” của mình khi họ đến xưng tội ngoài giờ quy định, khi họ đến bàn chuyện linh hồn với các ngài...
Ước gì các mục tử của Chúa “dám” cười ha ha vui vẻ với những con “chiên trắng” và “chiên đen” của mình, mà không chỉ cười vui với một số con “chiên trắng” mà thôi.
Bởi vì sẽ có một ngày Chúa Giê-su sẽ nghiêm khắc hỏi chúng ta đã làm gì cho đàn chiên của Ngài đã được giao phó cho mình.
Lúc đó thì đáng sợ thật.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Năm 11 05, 2009 12:00 am Tiêu đề: Mỗi ngày một câu chuyện |
|
|
XƯƠNG NGƯỜI CHẾT KHÓ TÌM
Một hôm Alexandre đại đế nhìn thấy triết gia Hêl-lên-kê Dâ-mon-kra-tia đang chăm chú nhìn một đống xương người chết.
Đại đế hỏi ông ta:
- “Nhà người đang tìm gì vậy ?”
- “Tìm một chút đồ cũng không thấy.”
- “Đó là thứ gì vậy ?”
- “Xương của phụ thân ngài, và xương của tên nô lệ cho phụ thân ngài giống nhau quá.”
(Bài ca của loài ếch)
Suy tư:
Khi còn sống ở đời này thì ông vua, ông tổng thống ông chủ tịch khác với người thường dân, vì các ông ấy đi đâu cũng có xe trước xe sau hộ tống, tiền hô hậu ủng; người giàu có khác với người nghèo khổ, vì người giàu có ăn sung mặc sướng, không lo nghĩ nhiều đến ngày mai; người có học khác với người không có học, vì người có học thì thường được người khác trọng vọng...
Nhưng khi con người ta chết đi thì tất cả mọi người đều giống nhau, bởi vì tất cả chỉ còn lại nắm tro tàn, cũng chỉ là một bộ xương ghê gớm giống nhau khiến cho người yếu bóng vía khiếp sợ...
Nhưng người có đức tin và người không có đức tin thì khác nhau xa chừng chừng, người có đức tin khi sống ở thế gian này họ tin vào Thiên Chúa, và tin có đời sau, biết thực thi Lời Chúa dạy, cho nên họ biết đem cuộc sống của mình phó thác trong tay Chúa quan phòng.
Con người ta khi chết thì ai cũng giống nhau, cũng chỉ một nấm mồ lạnh lẽo.
Nhưng nếu có Thiên Chúa và có đời sau, thì những người không tin có Thiên Chúa và có đời sau thì sao nhỉ ?
Thật tội nghiệp cho họ.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Sáu 11 06, 2009 1:24 am Tiêu đề: Chuyện Vợ Chuyện Chồng: Hai Xu Bà Góa |
|
|
Chuyện Vợ Chuyện Chồng: Hai Xu Bà Góa
Chuyện thời bây giờ kể rằng ở thung lũng điện tử Silicon, San Jose, California của Hoa Kỳ có một đôi vợ chồng với hai người con, con trai tên Bòn, bốn tuổi, con gái tên Bon, mười tháng. Chồng Kỹ Sư điện. Vợ làm Assembler hãng điện tử. Cả hai vợ chồng là những thành viên trung thành trong Ban Giáo Lý của giáo xứ Việt Nam vùng thung lũng.
Chiều thứ Sáu vợ chân bước vào nhà, tay đóng mạnh lại cánh cửa. Nhìn đôi mắt hằn sâu nét ưu tư của vợ, chồng dò hỏi,
— Sao buồn như bún thiu như thế kia? Ai lại bắt nạt vợ của tôi rồi?
Vợ nóng nảy quẳng chùm chìa khóa xuống mặt bàn một cái cốp,
— Xời! Ai mà dám? Trên đời này, người dám bắt nạt em may ra chỉ có anh là một.
Chồng xòe tua tủa lông nhím,
— Ơ! Hay chửa, đừng có mà dựng chuyện nói điêu nhé. Thế mà không sợ tội à!
Chồng chép miệng,
— Làm thân nam nhi ai lại đi bắt nạt vợ… Chưa kể có cho vàng cũng không dám nhé, bởi các cụ đã dậy, “Nhất vợ nhì trời”. Vợ còn ăn đứt ông “Giời” như vậy thì tôi là cái chi mà dám bắt nạt vợ…
Vợ cản lại cấp kỳ,
— Thôi đi! Đệ nhất thiên hạ là anh, con trai Bắc kỳ miệng ngọt như chuối.
Vợ thở dài, quay lại chuyện hiện tại,
— Mà thôi, mình ơi, em có chuyện muốn nói. Anh biết chi không?
Vợ ngập ngừng,
— Chiều nay xếp gọi nguyên cả một đám vô văn phòng phát cho mỗi tên một cái check.
Vợ chép miệng, lại thở dài sườn sượt,
— Cái check cuối tuần cũng là cái check cuối cùng rồi đó…
Chồng o tròn miệng,
— À, thì ra là vậy. Hèn chi có người mặt hoa da phấn tàn phai nhan sắc.
— Chứ còn gì nữa. Em thất nghiệp rồi đó...
Chồng khua khua hai tay điệu bộ như đánh đàn guitar,
— Nên từ đó em buồn... Tứng tưng! Tưng tưng! Tưng từng!
Vợ cự nự,
— Anh, anh cứ thích giỡn chơi không à. Em đang buồn thúi ruột ra đây nè. Em thất nghiệp rồi đó. Giờ kiếm đâu ra cho đủ tiền để trả tiền nhà? Còn một đống bill đó, nào là tiền điện thoại nè, tiền nước, rồi tiền trả góp cho cái xe Camry em mới mua. Một mình anh đi làm, anh lo mà thanh toán hết đống giấy nợ đó đi. Ngồi đó mà ca với hát…
— Giời ạ! Đến là khó tính. Vậy thôi, để anh ngồi khóc. Hay em muốn anh gọi vào hãng năn nỉ, “Xếp ơi, thôi đừng lay off vợ tôi nữa” nhé.
Chồng tiếp tục gây chiến,
— …Bởi cô ấy là một người phụ nữ Việt Nam đảm đang, cả đời cần cù lo toan, bận rộn tính toán cho gia đình, cho chồng, và cho con”.
Vợ gay gắt,
— Không lo toan, không tính toán thì lấy gì mà ăn? Ai giống như anh đó, mới đặt mình xuống là há to miệng ngáy sập nhà sập cửa.
— Ố ồ, nè, đừng có mà nói điêu nhé. Không phải chỉ có mình tôi đâu nhé…
Vợ dáng điệu mệt nhọc, không buồn đôi co. Đi tới tủ lạnh, vợ mở cửa, rót đầy ly nước cam, rồi ngồi xuống trước mắt chồng,
— Mình ơi! Thôi, nói chuyện đàng hoàng đi. Em buồn quá à. Hôm nay trên đường lái xe về nhà, em suy nghĩ hoài, em thấy làm sao đó. Tụi mình lấy nhau hơn năm năm rồi. Nhưng em thấy chẳng tên nào làm ăn khấm khá cho ra hồn cả. Nhà thì mới mua. Xe thì mới trả góp. Tiền gửi nhà trẻ cho thằng Bòn với con bé Bon tháng tháng không thôi cũng đủ sập tiệm rồi. Chán thì thôi! Em thấy Chúa cho em có tí ti à, được có mỗi một nén bạc mà thôi. Mấy người khác, em thấy Chúa cho họ, người hai nén, người được năm nén. Anh thấy cô Thanh không?
— Thanh? Thanh nào nhỉ?
Vợ liếc xéo chồng, ánh mắt sắc hơn dao bổ cau,
— Thanh, thì cô Thanh dậy trong Ban Giáo Lý đó chứ còn Thanh nào nữa? Thiên Thanh của một thời làm ai si mê đó.
Chồng phá ra cười,
— Vậy à? Thế mà tớ lại chẳng biết chi cả.
Vợ cau mặt,
— Thôi đi! Đừng có làm mặt giả nai!
Vợ uống một ngụm nước cam, nuốt xuống cần cổ,
— Cô Thanh giờ này bán bảo hiểm. Mua được mấy cái nhà rồi. Một cái trên núi, sáu phòng ngủ, ba phòng tắm, hai cái garage, có hồ bơi. Căn nhà trên núi, hai vợ chồng ở. Còn mấy căn khác, hình như là hai căn thì phải, hai cái nhà đó, cô Thanh cho người ta mướn. Tháng tháng từ trên núi, cô ấy ngồi đếm tiền cho mướn nhà thôi cũng đủ mỏi tay rồi. Còn chị Hương, cô bạn học của anh đó, kỳ này em nghe nói chị ấy được thăng chức Kỹ Sư trưởng trong hãng Apples. Em thấy chị Hương bay sang Âu Châu, Nhật, Đài Loan, Singapore công tác ào ào. Mà anh biết chi không? Chị Hương đâu thèm nấu ăn, nhưng mướn người nấu cơm, trông con, coi nhà cửa. Cuối tuần hai vợ chồng bay sang Hawaii đi tắm biển Waikiki. Hứng nữa, họ bay sang New York, khu Manhattan, khu Times Square ăn beefsteak, đi shopping. Em nghĩ cô Thanh được Chúa cho hai nén bạc chẵn chòi. Còn chị Hương, Chúa cho chị ấy đứt năm nén. Còn riêng em, Chúa quẳng thí cho mỗi một nén bạc à!
Vợ cúi mặt xuống không nói chi nữa, nhưng nhìn ly nước cam còn một nửa. Nghe vợ than thở, chồng khựng lại một giây, rồi nhìn vợ, tay gỡ gỡ cái cà-vạt màu nâu,
— Em được tới một nén bạc lận ư! Vậy là giàu rồi. Còn than thở gì nữa! Còn anh, em biết Chúa cho anh được mấy nén bạc hay không?
Vợ đáp ngay,
— Anh? Anh cũng giống em. Chỉ được có mỗi một nén à. Hai đứa góp gạo thổi chung, nhưng cơm nhão hoài. Hèn chi nghèo mạt rệp!
— Được một nén đã tốt. Anh, anh nghèo rớt mùng tơi!
Vợ ngước lên nhìn chồng, ánh mắt nghi ngờ, tia nhìn tìm kiếm. Chồng nhún vai, giơ cao hai ngón tay,
— Chúa cho em tới những một nén bạc lận. Vậy là giàu rồi. Còn anh, anh chỉ có vỏn vẹn hai xu của bà góa mà thôi... Nhưng tối tối anh vẫn đọc kinh, cám ơn Chúa đã cho anh hai xu...
Chồng dừng lại, mở miệng nghêu ngao hát,
— Lạy Chúa, con chỉ là tạo vật. Chúa thật (í a) sang giàu. Có gì mà dâng Chúa đâu. Có gì mà dâng Chúa đâu....
Vợ ngước lên nhìn chồng, những thớ thịt căng thẳng trên khuôn mặt phấn hồng dịu xuống,
— Giỏi dữ đa! Sao hồi đó không đi tu đi? Bây giờ làm cha giảng trong nhà thờ cho con chiên lạc đàn này nghe.
— Thì bây giờ cũng đang làm cha vậy thôi.
— Đúng rồi, cha nội thì có!
— Cũng chẳng sao, tôi mà là cha nội, thì nè, “bà nội” ơi, nhìn kỹ đi. Ngoại trừ hai xu, “cha nội” không có trong tay một nén bạc nào hết. Nada! Nothing! Trống rỗng! Nhưng tạ ơn Chúa, với hai đồng xu này, tôi đi học, ra trường, làm Kỹ sư, cưới được cô vợ xinh như tiên, mua được căn nhà, mua được cái xe Camry cho “bà nội” lái đi làm, cho “cha nội” có thằng Bòn có con bé Bon. Thế là dư thừa hạnh phúc rồi!
Những nếp nhăn trên vầng trán của vợ tự nhiên chùng xuống phẳng lỳ,
— Đến là khéo nói. Mồm miệng dẻo quẹo. Hèn chi cô giảng viên Giáo lý Thiên Thanh mê chồng tôi như điếu đổ. Còn chị Kim Hương thì sao nhỉ? Em chưa có dịp nghe qua đó nghen.
— Thế à! Có vụ đó hay sao? Sao tôi lại không biết chi nhỉ?
Cầm ly nước cam lên tay, vợ uống một hơi cạn sạch ly nước,
— Thôi, đừng có làm bộ ngây thơ.
Liếc nhìn đồng hồ trên tường, vợ đứng dậy,
— Anh đi đón thằng Bòn và con Bon đi. Em chuẩn bị đi nấu cơm đây.
Bước đi được mấy bước, vợ quay lại,
— Anh ơi, thứ Hai, em sẽ lên Văn Phòng Thất Nghiệp xin tiền trợ cấp vậy.
— Vợ tôi sẽ không ăn tiền thất nghiệp lâu đâu. Lanh lợi như vợ tôi, kiếm đâu chẳng ra việc.
Vợ đi thẳng một mạch lên lầu, miệng nói vọng lại,
— Hết tiền lẻ rồi nhé. Đừng có nịnh.
Lời Chúa
Ðức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Ðền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma. Ðức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người điều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống" (Mark 12:41-44).
Lời Nguyện
Lạy Chúa, xin cho con biết thôi, không nhìn vào những nén bạc của người khác, nhưng tiếp tục hân hoan với "hai xu bà góa" Chúa đã ban cho con. Xin dậy con biết sử dụng hai xu con được Thiên Chúa trao tặng vào những phúc lợi cho xã hội, cho gia đình, và cho chính tâm hồn của con.
www.nguyentrungtay.com
LM Nguyễn Trung Tây, SVD _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Bảy 11 07, 2009 1:17 am Tiêu đề: Mỗi ngày một câu chuyện |
|
|
CẢNH SÁT VÀ VỊ KINH SƯ
Có vị kinh sư người Do Thái trú ngụ tại một thôn trang nhỏ trên thảo nguyên lớn ở nước Nga, hai mươi năm nay, ngày nào cũng như ngày nào, từ sáng sớm ông ta vượt ra ngoài thảo nguyên lớn đi đến hội đường để cầu nguyện; mà hành động mỗi sáng mai như thế đều có một viên cảnh sát theo dõi, người này rất ghét người Do Thái.
Cuối cùng một buổi sáng nọ, viên cảnh sát này đi đến trước mặt vị kinh sư và ra lệnh cho ông ta nói ông ta đi đâu.
Vị kinh sư nói: “Tôi không biết.”
- “Không biết, câu nói này có ý nghĩa gì ? Hai mươi năm qua tôi thấy ông vượt qua thảo nguyên này đi qua giáo đường bên ấy để cầu nguyện, vậy mà ông nói với tôi là ông không biết ?! Tôi sẽ cho ông biết thế nào là lễ độ mới phải.”
Đang nói giữa chừng thì viên cảnh sát vươn tay nắm chòm râu của vị kinh sư già, đem ông ta bỏ vào tù, khi viên cảnh sát lấy ổ khóa để khóa lại thì vị kinh sư già chớp mắt nói:
- “Này ông bạn, trước đây tôi nói không biết, là nói đúng đó !”
(Bài ca của loài ếch)
Suy tư:
Liên tiếp hai mươi năm theo dõi vị kinh sư già vượt qua thảo nguyên lớn để đến hội đường cầu nguyện, vậy mà viên cảnh sát vẫn cứ làm bộ như không biết vị kinh sư già đi đâu, để kiếm cớ bắt bỏ tù !
Hai mươi năm mỗi ngày như mọi ngày vị kinh sư già mỗi sáng sớm đều vượt qua thào nguyên lớn để đi đến hội đường Do Thái để cầu nguyện, vậy mà khi bị viên cảnh sát bắt tra hỏi thì vị kinh sư già nói không biết mình đi đâu !
Vị sư già trả lời không biết mình đi đâu, vì viên cảnh sát đã biết vị kinh sư già đi đâu rồi mà vẫn còn hỏi, vậy thì vị kinh sư già trả lời “không biết” là rất đúng.
Người Ki-tô hữu sống trong mọi thời đại đều biết mục đích của mình đi đến nhà thờ là để được đón nhận ân sủng của Thiên Chúa qua thánh lễ và qua các bí tích, dù cho có những cản trở nguy hiểm khó khăn, bởi vì tình yêu của Chúa Giê-su chính là động cơ thúc bách họ đến với Ngài, để được ban ơn, che chở, an ủi và thêm sức mạnh cho đức tin của mình...
Tất cả mọi người người trên thế gian này đều biết người Ki-tô hữu đi đến nhà thờ để làm gì, chỉ có những người sáng mắt mà như mù, có tai mà như điếc, có lương tâm mà như không có, thì mới không biết người Ki-tô hữu đến nhà thờ để làm gì, cho nên họ vẫn luôn là những kẻ đối đầu với Thập Giá của Chúa Giê-su...
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Bảy 11 07, 2009 11:24 pm Tiêu đề: Kinh nghiệm sống với Thiên Chúa của Giêrêmia |
|
|
Sống, gặp gỡ một người nào đó một thời gian thì người đó sẽ có một kinh nghiệm với người mình sống, mình gặp gỡ. Với Thiên Chúa cũng vậy, trong lòng tin thì người gặp, sống với Ngài cũng sẽ có một cảm nghiệm riêng. Cảm nghiệm ấy có thể bộc lộ ra chính đời sống của người đó hay có thể là người đó viết lại cho người sau được biết. Cảm nghiệm của Thánh Gioan tông đồ thật là dễ thương, với Ngài thì Thiên Chúa là tình yêu. Cảm nghiệm của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu về Thiên Chúa thật hay là Ngài kết hiệp với Chúa trong những việc làm nhỏ bé thường nhật, Mẹ Têrêsa Calcutta thì gặp Chúa và sống với Chúa qua những hình ảnh của những người nghèo, bệnh hoạn. .. Hay là cảm nghiệm của Cha Thánh Anphong thì Ngài gặp Chúa ở những con người tất bạt ở Kinh thành Napoli thời Ngài sinh sống.
Với các ngôn sứ là những người tạm gọi là trung gian giữa Thiên Chúa và con người, người thiết thân giữa Thiên Chúa và con người. Các ngôn sứ cũng sẽ mang trong lòng mình cảm nghiệm về Thiên Chúa đấng Siêu việt mà mình may mắn được gặp gỡ cũng như cảm nghiệm về những thần dân lòng dạ cứ đổi thay soành soạch như dân Israel ngày xưa. Một trong những ngôn sứ nổi bật thời Cựu Ước đó là ngôn sứ Giêrêmia. Cảm nghiệm về cuộc đời của ông thật dễ thương: “Trước khi cho ngươi hình thành trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1, 5). Hoá ra từng sợi tóc của ông và cả cuộc đời của ông đã được Thiên Chúa đếm và đặt để cả rồi.
Và rồi với vai trò ngôn sứ của mình, cũng gặp Thiên Chúa để nghe lời Thiên Chúa và nói cho dân cho nên chắc chắn ông cũng có một cái cảm nghiệm gặp Thiên Chúa một cách thiết thân nào đó. Cách riêng trong chương 20, 7 – 9:
Ông đã miêu tả để bộc lộ kinh nghiệm của ông, những cố gắng của ông để ức chế lời Chúa. Mặc dù cố gắng một cách tuyệt vọng để giữ im lặng về Thiên Chúa. Cố gắng kháng cự lại, quá sức ông; lên tiếng nhân danh Thiên Chúa và chấp nhận hậu quả còn ít khó khăn và mệt nhọc hơn là cứ giữ tất cả bên trong mình. Giêrêmia cảm thấy bị Thiên Chúa quật ngã.
“Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh sức hơn con, và Ngài đã thăng. Suốt ngày con đã trở nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.” (Gr 20, 7)
Giêrêmia đã mô tả số phận của mình: Ông trở thành trò cười và diễu cợt; người ta âm mưu chống lại ông, rình để bắt chẹt ông về những điều ông nói. Lời nguyện của ông đi từ những lời giận dữ. Lời cầu nguyện này của ông theo tinh thần đức tin của ông Giob hoặc ở một số thánh vịnh.
Có lần con tự nhủ: “Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa.” Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được ! (Gr 20, 9)
Suy nghĩ nghiêm túc câu than vãn này chúng ta thấy đó là lối diễn tả một tình yêu, một tình yêu say đắm và hạnh phúc đến nỗi Giêrêmia đã không quên được Đấng mà mình yêu. Lời nguyện kết thúc với những tâm tình gần với nỗi tuyệt vọng.
Đời sống bên trong của ông do có quá nhiều đau khổ nhưng những đau khổ này đã khiến ông khám phá ra hình thức mới của tôn giáo, ông đã kinh nghiệm nguyên tắc mới này: bị trục xuất, bị ruồng bỏ nhưng ông quen thuộc với việc tâm sự với Thiên Chúa. Lòng đạo đức của ông đôi khi có những khuyết điểm vì oán trách báo thù, chưa thở luồng khí của Tin mừng.
Nơi Giêrêmia, ta gặp thấy một con người bị giằng co giữa những yếu đuối tự nhiên và ơn gọi siêu phàm. Nhưng ông vẫn luôn trung thành, hết lòng tín thác vào Chúa và tiếp tục sứ mạng mà Thiên Chúa mời gọi ông. Giêrêmia dạy ta sống thực sự những giờ phút khiêm tốn, những giờ phút đau đớn với tất cả sự trung thành tín thác vào chính Thiên Chúa.
Giêrêmia đau khổ còn là hình ảnh người Tôi Tớ đau khổ (Is 52, 13 – 53, 12), tiên trưng Đức Kitô (Mt 16, 17), Đấng thực hiện ơn cứu độ chống đối thất bại và cái chết vì muốn trung thành và vân phục thánh ý Chúa Cha cho đến cùng.
Giêrêmia phải sống độc thân để làm dấu chỉ án phạt giáng xuống thế hệ ông. Và những cuộc đấu tranh trong đời ông là tiền ảnh thật lạ lùng của cuộc đời Đức Giêsu Kitô, đến nỗi khi Người hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai ?” thì đã không thiếu gì người đã trả lời: “Giêrêmia !”.
Giêrêmia đặc biệt là không những không liên kết với Chúa mà ông mong chờ cuộc giáng lâm, bằng sự tương đồng trong đau khổ, ông còn kiên kết với Người bằng sự mong chờ vinh quang sẽ đến.
Mỗi một người Kitô hữu đều mang trong mình sứ mạng ngôn sứ ngay từ ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, cách riêng những tu sĩ là những người sống tròn đầy bí tích Thánh Tẩy hơn nữa thì sứ mạng ngôn sứ sẽ đặt nặng lên vai người tu sĩ gấp bội. Nghĩa là người tu sĩ trong mọi hoàn cảnh, mọi môi trường của mình phải sống triệt để và tuyệt đỉnh ơn gọi ngôn sứ mà Thiên Chúa ban cho mình.
Dẫu là vậy nhưng cũng giống như Giêrêmia, có những lúc cảm thấy Thiên Chúa yêu thương mình và mình hăng say loan báo Tin mừng của Chúa nhưng có những lúc cảm thấy tuyệt vọng vì bị bề trên hiểu lầm, anh em phỉ báng và thậm chí là chẳng còn thấy Thiên Chúa hiện diện trong đời mình nữa. Và với kinh nghiệm nhỏ bé như Giêrêmia đã sống là làm sao ta gắn kết với Thiên Chúa bằng chính đời sống cầu nguyện bằng những thổ lộ tâm tư của ta với Thiên Chúa. Tin rằng với những thổ lộ đó Thiên Chúa sẽ nghe ta nói và Ngài sẽ đáp lại tiếng của Ta và nhất là Ngài sẽ đồng hành với ta, nâng đỡ ta trong vai trò ngôn sứ mà Ngài đã “trước khi cho ngươi hình thành trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân”. Vì lẽ người viết cảm nghiệm và tin rằng đúng là mình chẳng chọn con đường tu này, có chăng là hình như là Thiên Chúa đã quyến rũ mình, đã chụp cổ mình vì nhiều lần nhiều lúc ngẫm nghĩ về những biến cố đã qua trong cuộc đời thì hình như là Thiên Chúa đã biết mình từ trong dạ mẹ vậy. Và với lòng tin như vậy, người viết tin rằng Thiên Chúa đã gọi, đã chọn mình từ trong dạ mẹ thì Ngài cũng sẽ hoàn tất những gì mà Ngài thấy còn thiếu nơi con người mỏng dòn non yếu này vậy.
LM Anmai, CSsR _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Hai 11 09, 2009 12:37 am Tiêu đề: Cuộc Ðời Chứng Nhân |
|
|
Một chàng thanh niên trẻ tuổi đi lính thời đệ nhất thế chiến, vẫn thường xuyên tiếp tục quì gối đọc kinh vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ và làm dấu thánh giá trước mỗi bữa ăn.
Các bạn đồng ngũ chế diễu hành vi đạo đức của chàng. Rồi một buổi tối nọ, họ bắt một con rắn bỏ dưới gối chàng thanh niên. Chàng thanh niên vừa làm dấu Thánh Giá, bỗng con rắn từ trong gối bò ra phóng xuống đất và chuồn đi, trong khi đó chàng thanh niên nhảy bổ lên vì sợ hãi.
Ít lâu sau, một người bạn đồng ngũ tìm được cỗ tràng hạt của chàng. Hắn cầm tràng hạt trong tay giơ lên cao trước mặt các bạn lính rồi ngạo nghễ thách đố là sẽ đấm bể mặt anh nào dám nhận tràng hạt đó.
Chàng thanh niên kia không chút sợ hãi, điềm nhiên đến trước mặt anh bạn và nói:
- Cho tôi xin lại. Tràng hạt đó là của tôi.
Anh lính kia nhào tới định đấm vào mặt chàng thanh niên. Nhưng một người bạn khác nhảy tới cản lại.
Qua tấm gương lành nhẫn nhục, tha thứ của chàng thanh niên này, ít lâu sau, cả hai anh lính kia đều bắt đầu tìm hiểu, học hỏi và tin theo đạo Công Giáo.
*
* *
Với lòng can đảm, nhẫn nhục và quảng đại tha thứ, người lính trẻ trên đây đã nói lên cách cụ thể tình yêu Chúa Kitô là gì và Ngài là ai trong đời sống của chàng. Nhờ tấm gương sáng đó các lính bạn đã được ơn nhận biết và tin vào Chúa Giêsu.
Thánh Giacôbê nhắn nhủ chúng ta rằng, một đức tin đích thực sống động phải diễn tả ra bằng việc làm. Ðức tin không có việc làm là một đức tin đã chết tận gốc rễ.
Người Kitô hữu tin vào tình yêu Chúa Kitô, tin vào bản thân Ngài. Niềm tin ấy không chỉ là một hạt giống gieo trong lòng họ rồi nằm yên đấy. Một niềm tin như thế có lẽ chẳng ích lợi gì cho chính mình hay cho bất cứ ai.
Ðức tin của chúng ta cần phải trổ sinh hoa trái bằng việc làm để mọi người có thể hiểu được thế nào là tình yêu mà chúng ta tin, có thể nhận ra khuôn mặt của Ðấng mà chúng ta suy phục, tôn thờ.
Ðời sống đức tin phải là một đời sống chứng tá. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã dạy: "Chúng con sẽ làm chứng". Và Ngài đã sai các tông đồ, các môn đệ, tất cả những ai tin vào Ngài đi làm chứng cho Ngài khắp nơi. _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Ba 11 10, 2009 12:01 am Tiêu đề: Mỗi ngày một câu chuyện |
|
|
VỀ NHÀ TÌM ĐƯỢC ĐẠO THẬT
Người thanh niên đi tìm đạo thật mà đột nhiên bị nhiều khó khăn, thế là cáo biệt người nhà và bạn hữu để đi cầu đạo. Đi qua lục địa, trôi qua biển lớn, vượt qua non cao núi đồi chập chùng, vượt qua trăm ngàn đau khổ.
Một hôm, sau khi tỉnh lại thì thấy mình đã bảy mươi lăm tuổi rồi mà vẫn chưa tìm được đạo thật, không thể làm gì được bèn bỏ cuộc trở về nhà.
Bởi vì tuổi tác đã lớn rồi nên bỏ ra mấy tháng trời mới về đến nhà. Vừa đẩy cửa nhà ra. A ! Chính đạo thật rõ ràng ở đây có tính kiên nhẫn vẫn cứ đang chờ đợi ông ta ở nhà.
(Bài ca của loài ếch)
Suy tư:
Có những người theo đạo khi mới sinh ra, có những người theo đạo khi tuổi được đôi mươi đầy sức sống, nhưng có bao nhiêu người trong số những người ấy tìm được đạo ?
Có những người tìm đạo trong các tu viện kín cổng cao tường, nhưng rồi vẫn cứ có lòng tham sân si; có những người tìm đạo trong nhà thờ với tinh thần phục vụ không chê vào đâu được, nhưng vẫn cứ mang một cái tâm kiêu ngạo khi tiếp xúc với tha nhân; có những người tìm đạo ở trong rừng sâu một mình với thiên nhiên, nhưng cuộc sống có những tiện nghi tối thiểu mà hiện đại...
Đi tìm đạo khi đầu tóc còn đen mướt, đến bảy mươi lăm tuổi đầu tóc bạc phơ mà vẫn chưa tìm ra được đạo, bởi vì người thanh niên cứ tưởng đạo thật phải là nơi có thánh điện nguy nga, đạo thật phải là nơi ngọn núi cao kia có tiên có thần có thánh.
Đạo thật chính là –như lời thánh Phao-lô tông đồ dạy- tin vào Chúa Giê-su vừa là Thiên Chúa và là người, đã xuống thế sinh trong hang lừa máng cỏ, chịu đau khổ và chịu chết trên thập giá và sống lại để chuộc tội cho nhân loại, sau cùng lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (Rm 3, 21-26). Cho nên khi trong tâm hồn của chúng ta có Chúa Giê-su thì đó là đạo, bởi vì Ngài đã xác nhận: “Thầy là Đường (đạo), là Sự Thật và là Sự Sống.”(Ga 14, 6)
Đạo thật chính là ở trong tâm hồn chúng ta, khi chúng ta chu toàn bổn phận của người cha người mẹ trong gia đình là chúng ta tìm được đạo thật; khi chúng ta đem tâm tình yêu thương của Chúa Giê-su mà sống chan hòa với hết mọi người, thì đó chính là đạo thật...
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Năm 11 12, 2009 1:37 am Tiêu đề: Can đảm nói không với tội lỗi. |
|
|
Can đảm nói không với tội lỗi.
(Suy niệm Lễ Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam)
Trong thời kỳ bách hại đạo công giáo tại Việt Nam, một trong những thử thách mà các kitô hữu bị bắt bớ phải trải qua là bước qua thập giá. Quan quân thời đó thường đặt một cây thập giá dưới đất rồi bắt các kitô hữu bước qua. Ai không bước qua thì phải chịu đủ mọi cực hình. Còn ai chấp nhận bước qua thì được thoát cảnh ngục tù, được trả lại những tài sản bị tịch thu, được ban thưởng bỗng lộc, được sống đời tự do, được đoàn tụ với gia đình.
Nói không trước những lời dụ dỗ và thúc ép
Vậy mà các bậc cha ông tử đạo của chúng ta ngày trước đã can đảm khước từ tất cả những hứa hẹn hấp dẫn đó, và đã kiên quyết nói không: Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa, không từ bỏ niềm tin.
Cũng có những vị được quan quân khuyến dụ hãy giả vờ bước qua thập giá để cho quan có cớ mà tha, còn sau đó về nhà thì muốn sao tuỳ ý; nhưng các thánh tử đạo vẫn không chấp nhận một thoả hiệp như thế. Các ngài vẫn khẳng khái nói không. Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa.
Nói không trước những cực hình dã man và khủng khiếp nhất
Để uy hiếp các kitô-hữu và ép buộc các ngài bỏ đạo, ngoài những lời thuyết phục và dụ dỗ, vua quan ngày xưa còn áp đặt những cực hình man rợ và hết sức khủng khiếp để uy hiếp các ngài: bắt mang gông cùm nặng nề, bị giam nhốt trong ngục tối với rắn rết, muỗi mòng ghê sợ, chịu thiêu đốt, chịu thắt cổ, chịu chém đầu, chịu phanh thây, chịu án lăng trì (tức bị chặt tay, chặt chân trước rồi mới chém đầu sau), và khủng khiếp hơn cả là án bá đao như quan quân đã bắt cha Marchand Du phải chịu: chịu xẻo từng miếng thịt theo tiếng trống, cho đủ trăm miếng rồi mới chém đầu, moi ruột moi gan…
Dù vậy, các thánh tử đạo đã kiên quyết nói không: không chối Chúa, không bỏ đạo cho dù phải đổ máu, phải chịu xẻ thịt phanh thây, phải hy sinh mạng sống mình.
Nói không với tội lỗi
Ngày hôm nay, không ai dùng bạo lực, dùng những cực hình man rợ bắt chúng ta bỏ đạo hay chối Chúa như các thánh tử đạo ngày xưa. Vì thế, chúng ta không cần nói không trước những hăm doạ, đòn vọt hay án chết như các ngài.
Nhưng chúng ta cũng phải đương đầu với những thách thức mới. Đó là những cám dỗ, những lôi cuốn của tội lỗi làm chúng ta đi trệch con đường của Chúa Giê-su, đi lạc ra khỏi đạo lý của Người.
Noi gương các anh hùng tử đạo Việt Nam, chúng ta hãy can đảm nói không với các tệ nạn xã hội, với các thói hư tật xấu, với những lời quyến rũ của bạn bè xấu...
Muốn nâng lên được những tạ nặng, các lực sĩ cử tạ phải tập nâng những tạ nhẹ trước. Muốn giải được những bài toán khó, các học sinh phải tập làm những bài toán dễ trước. Những lực sĩ muốn nhảy thật cao thì trước tiên phải tập băng mình qua những mức thấp trước.
Tương tự như thế, để có thể nói không trước những cám dỗ lớn lao sẽ đến trong cuộc đời, trước những cái ác, cái xấu lôi kéo quyến rũ chúng ta nay mai, chúng ta phải tập nói không với các cám dỗ nho nhỏ xảy ra hằng ngày trước.
Nguyện xin các anh hùng tử đạo Việt Nam cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta, để chúng ta luôn biết noi gương các ngài, anh dũng nói không với tội lỗi và các cơn cám dỗ, cho dù phải chịu mất mát thua thiệt trong cuộc sống đời nầy, để mai sau xứng đáng được lãnh vòng hoa chiến thắng và chung hưởng vinh quang với các ngài trên thiên quốc.
LM Inhaxiô Trần Ngà _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Bảy 11 14, 2009 1:01 am Tiêu đề: Mỗi ngày một câu chuyện |
|
|
XẠ THỦ QUYẾT ĐẤU
Hai người xạ thủ chuẩn bị quyết đấu, thế là những người trong quán rượu ồn ào di động dành ra một không gian. Trong hai xạ thủ, một người thì lùn không đáng để mắt đến, nhưng lại là một xạ thủ chuyên nghiệp; người kia thì là một hán tử khỏe mạnh cao lớn, đột nhiên anh ta lên tiếng phản đối:
- “Đợi chút xíu, rất là không công bằng, bởi vì cái bia anh ta bắn khá lớn.”
Anh xạ thủ lùn đề xuất ý kiến rất nhanh, anh ta nói với chủ quán:
- “Dùng phấn vẻ trên mình đối phương phạm vi hình thể con người của tôi, nếu viên đạn của tôi rơi ngoài phạm vi ấy thì bỏ không tính điểm.”
(Bài ca của loài ếch)
Suy tư:
Đã là xạ thủ thì mục tiêu to nhỏ đều không thành vấn đề, và khi quyết đấu sống chết thì người xạ thủ lùn hay cao, nhỏ con hay to lớn thì lại càng không thành vấn đề, vấn đề là hành động rút súng nhanh và chính xác.
Đời sống tâm linh của người Ki-tô hữu cũng vậy, trên đường tu đức thì người lớn người nhỏ không thành vấn đề, và người theo đạo lâu năm hay mới chịu bí tích Rửa Tội thì không thành vấn đề, vấn đề là yêu mến thực hành Lời Chúa và sống làm chứng nhân cho Tin Mừng hay không mà thôi. Bởi vì có nhiều người theo đạo lâu năm, gọi là đạo gốc đạo “dòng” nhưng cuộc sống của họ như người không có tín ngưỡng, nhưng có những người mới được Rửa Tội mà cuộc sống của họ như là người biết Chúa lâu rồi.
Ma quỷ khi “bắn” (cám dỗ) người Ki-tô hữu thì không coi người ấy là lớn hay nhỏ, là lùn hay cao, nhưng nếu người Ki-tô hữu càng đạo đức thánh thiện, thì ma quỷ càng gia tăng cám dỗ, càng yêu mến Chúa và càng làm gương sáng thì chúng nó càng “bắn” (cám dỗ) ác liệt hơn những người khác...
Vũ khi của người Ki-tô hữu khi quyết đấu với cám dỗ của ma quỷ là: cầu nguyện, đón nhận các bí tích, nhất là bí tích Hòa Giải và bí tích Thánh Thể, lần hạt Mân Côi.v.v...đó là những vũ khí rất hiện đại cho mọi thời đại của người Ki-tô hữu chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: CN 11 15, 2009 1:59 am Tiêu đề: Như Hạt Lúa Miến Gieo Vào Lòng Đất |
|
|
CHÚA NHẬT 33 TN B - LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
2 Mcb 7, 1.20-23.27b-29; Rm 8, 31b-39; Lc 9, 23-26
Nhạc chiến thắng vang dậy rền trời
Dòng máu thắm tô đẹp tuyệt vời còn lưu danh thiên thu.
Đây những anh hùng Việt Nam trung thành theo gương Chúa Giêsu.
Gươm đao thêm dũng chí, nhục hình thêm can trường từng lớp lớp tiến ra pháp trường …
Bài hát thường dùng trong phần nhập lễ các thánh tử đạo với cung điệu dồn dập, oai hùng đã dẫn cộng đoàn dân Chúa vui hơn, phấn khởi hơn. Hôm nay, cùng với Giáo Hội, dân Chúa, cách riêng tại Việt Nam long trọng mừng kính ông bà tổ tiên của mình, những người mong trong mình dòng máu đỏ, làn da vàng đã ngã xuống để tử đạo, để minh chứng lòng tin của mình vào Chúa.
Với Việt Nam, hạt giống Lời chỉ mới nảy nở, chỉ mới mọc lên non kém 4 thế kỷ thôi nhưng mà có không biết bao nhiêu vị anh hùng đã ngã xuống để minh chứng cho Lời mà các vị anh hùng đã tin nhận.
Lời minh chứng cho lòng tin vào Chúa đã được gợi lại trong các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay. Lời ấy đã xác tín rằng có một Thiên Chúa thật để rồi ai tin nhận Chúa thì phải trả một giá thật lá đắt, giá ấy có thể đến mức cuối cùng là tử đạo.
Trang sách Macabê mà chúng ta vừa nghe hết sức quen thuộc. Dường như chỉ mới mở đầu vài dòng của trang sách Macabê thì ta sẽ nghe được, sẽ thấy được, sẽ cảm nhận được lòng tin của cuộc tử đạo của 7 anh em nhà nọ. Câu chuyện tử đạo của bà mẹ và 7 người con thật hấp dẫn, thật lôi cuốn người đọc cũng như người nghe.
Với luật Môsê, luật ấy cấm ăn thịt heo nhưng vua Antiôkhô đã không tin vào Chúa và phản ứng của ông để chống lại Chúa bằng cách tìm bắt những ai tin vào Chúa vi phạm luật của Chúa.
Đầu tiên, để thách thức, để hăm doạ, vua đã ra lệnh cắt lưỡi người anh cả và lột da người anh cả trước mắt bà mẹ và các em. Tưởng chừng với hành vi độc ác ấy vua sẽ bắt bà mẹ cũng như các con của bà ấy khước từ Thiên Chúa, nhưng không, Thay mặt cho anh em mình, một người lên tiếng nói: "Vua muốn tra hỏi chúng tôi cái gì ? Vua muốn biết điều gì ? Chúng tôi sẵn sàng thà chết chẳng thà vi phạm luật pháp của cha ông chúng tôi."
Phải nói hình ảnh đẹp nhất trong đại gia đình ấy chính là hình ảnh của người mẹ, bà dùng tiếng mẹ đẻ mà khuyến khích từng người một, lòng bà đầy tâm tình cao thượng; lời lẽ của bà tuy là của một người phụ nữ, nhưng lại sôi sục một chí khí nam nhi; bà nói với các con: "Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con hơi thở và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con hơi thở và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình."
Thật tuyệt vời, mẹ đã tuyên xưng lòng tin vào Đấng tạo Hoá một cách hết sức tuyệt vời. Không chỉ tuyên xưng mà bà còn chế nhạo tên bạo chúa và dùng tiếng mẹ đẻ nói với anh những lời sau đây: "Con ơi, con hãy thương mẹ: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, mẹ đã nuôi nấng dạy dỗ con đến ngần này tuổi đầu. Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy. Con đừng sợ tên đao phủ này; nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ."
Câu chuyện kết thúc hết sức đẹp với hình ảnh tử vì đạo của bà mẹ cùng 7 đứa con yêu của bà.
Làm sao mà bà mẹ ấy cùng 7 đứa con can đảm đổ máu đào nếu không được bắt đầu từ hạt giống Lời. Hạt giống Lời đã gieo vào lòng của bà cũng như các con của bà để bà cũng như các con đã minh chứng lòng tin đã gieo vào lòng bà cùng các con.
Hạt giống đức tin của bà mẹ cùng 7 người con đã gieo vào lòng đất. Trước mắt của vua Antiôkhô thì những hạt giống ấy sẽ chết qua cái hành động gian ác giết người của ông, nhưng không, những hạt giống ấy đã trổ sinh ra những bông lúa nặng trĩu hạt.
Từ thời Cựu Ước, những hạt giống đức tin đã gieo vào lòng đất và đã nảy sinh hoa trái. Đến thời Tân Ước cũng vậy, giữa biết bao nhiêu nghịch cảnh của con người, của nhân loại, hạt giống đức tin vẫn mọc. Dù khó khăn, dù gian khổ đến mức nào đi chăng nữa thì hạt giống ấy vẫn mọc.
Nhớ lại một chút về thân thế sự nghiệp của tác giả thư gửi tín hữu Rôma mà chúng ta vừa nghe. Một con người bách hại Giêsu cho đến tận cùng, chà đạp Giêsu đủ mọi cách nhưng cuối cùng đã quỵ hàng trước một Thiên Chúa toàn năng và đã trở về với Ngài. Phaolô không những đã quay trở lại mà còn nhiệt tình đến độ dám đổ máu để minh chứng lòng tin vào Chúa Giêsu. Thật là khó trước một con người mới ngày hôm qua đi bắt Chúa mà ngày hôm nay lại rao giảng một Đức Giêsu chịu đóng đinh. Dẫu là khó nhưng với lòng tin, Phaolô đã bất chấp, dù gươm giáo, dù tù đày miễn sao Đức Giêsu được rao giảng. Với tâm thư mà chúng ta vừa nghe Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Rôma, chúng ta sẽ thấy được phần nào lòng tin của Phaolô:
Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ? Như có lời chép: Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta. (Rm 8, 31b-39).
Đi theo Chúa là như vậy, đi theo Chúa sẽ bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh nhưng qua những cam go thử thách ấy, những ai theo Đức Kitô sẽ toàn thắng.
Đi theo Đức Kitô thì phải vác thập giá nặng nề của đời mình và thậm chí mất mạng sống. Với người đời, thì cần lắm cái thân xác 70, 80 ký lô nhưng cái thân xác nặng nề ấy chẳng là gì cả nếu như mất cái mạng sống đời đời mà Chúa Giêsu nói trong Tin mừng theo Thánh Luca hôm nay. Không phải là thân xác nhưng còn cả thế giới này nhưng mà cuối cùng phải thiệt thân và đánh mất mình thì sẽ được gì ?
Những tấm gương của các bà mẹ trong sách Macabê, tấm gương của tông đồ Phaolô và cách thiết thực nhất là hình ảnh Con Chiên bị người ta giết chết phải chăng là hình ảnh của hạt lúa miến gieo vào lòng đất nhưng đã sinh thật nhiều bông hạt.
Các Thánh Tử đạo - tiền nhân của chúng ta - là những người đã đón nhận hạt giống Lời từ Chúa cũng như những gương hy sinh tử đạo từ các thánh đã sống và đã liều mất mạng sống mình. Là con cháu của các Ngài, chúng ta nghĩ sao về lối sống, lối hành xử của các Ngài ? Chúng ta có can đảm trở thành hạt lúa miến gieo vào lòng đất hay không.
Thi thoảng được nghe bài hát “Chúa ơi ! Thân con là thân lúa miến, gieo vào dòng đời và mục nát với thời gian. Bông lúa vàng kết thành tấm bánh và thân con trở thành hiến vật, nguyện dâng Cha của lễ đời con …”. Tâm tình ấy rất hay và thực tế vì như Chúa Giêsu đã nói nếu như hạt lúa mà cứ trơ trọi giữa cuộc đời thì sẽ không sinh bông hạt nhưng nếu nó chết đi và thối đi thì nó sinh nhiều bông hạt.
Cha ông, tiền nhân của chúng ta, nhiều người đã chết, đã đổ máu đào mình ra để cho hạt giống Lời được sinh sổi nảy nở trên mảnh đất Việt này.
Một Anrê Phú Yên, một Annê Lê Thị Thành, một Vinhsơn Liêm, một Phaolô Tống Viết Bường đã không ngần ngại đổ máu mình để minh chứng cho lòng tin vào Chúa.
Máu máu đào của Thầy Anrê đã làm cho Cha Ðắc Lộ hết sức khâm phục, và cùng với cha bao nhiêu người khác được biết đến và khâm phục đức tin kiên cường của người Việt Nam. Hiện tại ở Macao có một nhà thờ giữ hài cốt các vị tử đạo thời kỳ này và có lưu trữ hồ sơ án phong Á Thánh cho Thầy Anrê.
Theo niên hiệu tử đạo và tuổi tác thì có lẽ thầy sinh vào năm 1625. Theo tài liệu hoạt động của Cha Ðắc Lộ chúng ta có thể suy đoán là thầy được rửa tội năm 1641 và được khấn trong bậc thầy giảng năm 1643 tại Hội An. Thầy Anrê đã được thụ huấn với Thầy Inhaxio, truởng đoàn các thầy giảng.
Ngày 25-7 vào khoảng trưa, lính đến nhà Cha Ðắc Lộ để bắt Thầy Inhaxiô theo lệnh của ông Nghè Bộ, nhưng cả hai đã xuống thuyền với ý định lên chào thăm ông, vì nghe tin ông từ kinh mới về. Thầy Anrê hôm ấy tình nguyện ở nhà để săn sóc cho một thầy khác đang ốm. Trước những hành động hung hăng phá phách của lính, Thầy Anrê điềm nhiên nói với họ: "Nếu các ông muốn bắt Thầy Inhaxiô thì vô ích, vì thầy không có ở nhà. Còn nếu muốn bắt tôi thì cứ bắt, vì tôi cũng là người Kitô và còn là thầy giảng nữa. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho Thầy Inhaxiô. Nếu thầy ấy có tội thì tôi làm sao vô tội được".
Từ khi có tin báo giờ tử đạo đã gần, thầy thầm thĩ đọc kinh Tin, Cậy, Mến và kêu tên cực trọng Chúa Giêsu và Mẹ Maria luôn mãi. Tới giờ, lính đến điệu thầy ra pháp trường. Một tên lính đi đầu thỉnh thoảng rao lệnh: Vì theo đạo Bồ Ðào Nha nên phải phạt. Còn một người lính khác thì đánh thanh la. Thầy Anrê đeo gông, đi giữa đám lính cầm giáo mác sẵn sàng. Bọn lính đi rất nhanh và họ đi qua tất cả các phố lớn ở Dinh Chiêm trước khi ra cánh đồng lớn. Khi tới nơi, Cha Ðắc Lộ xin nói vài lời nâng đỡ. Thầy Anrê quì dưới đất, từ chối tấm chiếu mới mà Cha Ðắc Lộ trải ra. Lý hình tháo gông và Thầy Anrê nói lời từ biệt với mọi người: "Hỡi anh chị em, chúng ta hãy trung tín với Chúa Kitô cho đến hết hơi, cho đến trọn đời".
Từ năm 1680 có nhiều cuộc bắt bớ tại các địa phương: Kẻ Voi năm 1680, Kẻ Hẹ năm 1684, Trại Chùa, Kiên Lao, Giao Thủy năm 1685, Vang Va năm 1686, Trại Dâu, Cát Vang... Nguyên nhân của những vụ sách nhiễu này cũng vì lương dân bắt người Công Giáo góp tiền xây Chùa hoặc cúng thần phật. Cũng có khi vì người Công Giáo không tham dự việc thề trung thành lấy tên thần làng. Một lý do khác nữa là người Công Giáo họp nhau đông, nhất là khi có đám tang, làm cho người lương ghen tức. Nạn nhân của những vụ bắt bớ này là các cha Việt Nam hay thầy giảng, có khi cả những chức việc trong họ đạo.
Riêng tại Kiên Lao có đông Công Giáo nhất tại Bắc Việt, khoảng 4.000 người, gần như toàn tòng, giáo dân hội họp đông đảo. Một hôm cha sở bị lính bắt, có hơn 200 bà về nhà lấy dao, gậy túm vào đánh quân lính để giải thoát cho cha sở. Quan sở tại liền cử 30 chục lính cừ khôi với đầy đủ khí giới để bắt lại cha và ba hòm đồ đạo. Một trong 30 người lính là người có đạo đã ngầm báo cho các cha. Các bà Công Giáo biết vậy liền mang các đồ đạo gửi tại các nhà người bạn bên lương. Lính giận dữ đánh túi bụi cả lương lẫn giáo. Thấy vậy ông Emmanuel đứng ra can, họ liền bị đè xuống đất đánh mười hai roi. Nhưng ông vẫn can đảm không cung khai nơi cha xứ ẩn trốn cũng như chỗ dấu các đồ đạo. Quan trấn ra lệnh bắt giải tám người chức việc đến. Vừa thấy họ, ông nói với các quan án: "Ðó là những người Công Giáo. Họ là những người khó sửa trị hơn hết mọi người khác. Họ không sợ hãi mà nói rằng mình là người Kitô. Không muốn sống mà muốn chết là người Kitô".
Thế đấy ! Dòng máu tử đạo của dòng giống Lạc Hồng cứ đổ ra. Không phải ngày xưa mới có chuyện tử đạo nhưng ngày hôm nay, niềm tin của nhiều kitô hữu vẫn được mời gọi để bày tỏ giữa một thế giới vô thần, một thế giới chạy theo vật chất.
Những năm vừa qua, qua các biến cố Thái Hà, Khâm Sứ … chúng ta thấy lòng tin của kitô hữu vẫn hào hùng, vẫn bất khuất.
Tạ ơn Chúa vì hạt giống Lời của cha ông đã truyền lại cho con cháu.
Hôm nay, mừng kính các Ngài, chúng ta cùng xin Chúa qua lời chuyển cầu của các bậc anh hùng tử đạo Việt Nam ban thêm lòng tin cho mỗi người chúng ta để chúng ta cũng can đảm minh chứng lòng tin vào Chúa như các Ngài. Xin cho có nhiều hạt lúa miến gieo vào mảnh đất Việt thân thương này để từ đó có nhiều và nhiều người nữa vững tin vào tình thương và quyền năng của Thiên Chúa.
Anmai CSsR _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Hai 11 16, 2009 12:53 am Tiêu đề: Mỗi ngày một câu chuyện |
|
|
CHUỒNG SƯ TỬ
Anh chàng say quắc cần câu ban đêm đứng bên ngoài công viên của thành phố, tay đập chân đá vào hàng rào công viên miệng la lớn:
- “Mau thả tớ ra.”
Đây là bức tranh đẹp nhất miêu tả trạng thái của nhân loại.
(Bài ca của loài ếch)
Suy tư:
Người ham tri thức thì bị tri thức bịt mắt trước những thực tại của cuộc sống; người ham tiền bạc thì bị tiền bạc như những xiềng xích trói chặt không thể vùng vẫy trong hạnh phúc được; người ham danh vọng thì bị danh vọng trùm lấy đầu mình nên không thể nhìn thấy những bất công xảy ra chung quanh mình; người ham quyền lực thì bị quyền lực nhốt kín trong những lệnh lạc, hiếp đáp, mà không biết quyền lực là để phục vụ mọi người...
Người say rượu đứng bên ngoài công viên đấm đá hàng rào đòi thả mình ra, thì giống như con sư tử bị nhốt trong chuồng gầm thét đòi ra bên ngoài vậy.
Nhân loại chiến tranh vì bị lòng khao khát làm bá chủ thế giới, con người ta thường sinh ra chuyện tranh chấp là vì người có quyền lực không biết công bằng chính nghĩa là gì, và xã hội thường bất an là vì con người ta ai cũng như sư tử gầm thét trong chuồng danh lợi, tham lam, kiêu ngạo và hận thù...
Người Ki-tô hữu sống ở thế gian, kiến tạo cho thế gian, làm đẹp cho thế gian, nhưng không thuộc về thế gian, bởi vì quê hương đích thực của họ là ở trên trời, nơi có Chúa Giê-su ngự trị...
Ai hiểu thì hiểu !
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
song_bong

Ngày tham gia: 12 7 2008 Số bài: 934
|
Gửi: Ba 11 17, 2009 1:31 am Tiêu đề: Chuyện Bố Chuyện Con: Mặt lì! |
|
|
Chuyện Bố Chuyện Con: Mặt lì!
...— Lần trèo cây mít te tua hơn, mẹ mày chạy ra chậm, con chó bẹc-giê to như con bê con nhào tới cắn toác chân bố ra…
— Hồi đó cũng vất vả lắm bố mới lấy được mẹ mày…
— Sao vậy hả bố?
— Thì còn sao nữa, nhà ông ngoại mầy giàu khét tiếng cả mấy tổng, xe ô tô nổ tiếng máy bình bịch bon bon chạy trên đường cái từ ngoài ngõ vô tới tận cửa đình. Giàu nứt vách đổ tường như vậy thì làm sao ông ngoại chịu để ý tới bố mày.
— Con tưởng hồi đó bố cũng con ông Trùm.
— Thì đã hẳn là như vậy. Nhưng cũng chỉ là ở trong họ giáo nhà ta mà thôi. Còn ông ngoại là điền chủ của mấy tổng, đời nào ông ngoại chấp nhận thằng con ông Trùm xóm giáo làm rể… Chưa kể mẹ mày lại đẹp nhất làng, mà lại là con gái của cái làng có tiếng “Gái đẹp làng Sài, trai tài làng Cao”.[1] Hồi đó hàng xóm có người mắng xéo bố, con ạ, “Đũa mốc mà lại chòi mâm son”.
— Vậy rồi sao bố lấy được mẹ?
— Thì cũng cứ lì cái mặt ra. Một lần trèo cây dừa, một lần leo cây mít làm chim se sẻ nhìn vào cửa son. Dừa cao, sẩy tay, té rớt xuống nền đất một cái bịch! Mẹ mày chạy ra đuổi chó dữ, gọi người ăn kẻ ở khiêng vào nhà bôi dầu gió… Lần trèo cây mít te tua hơn, mẹ mày chạy ra chậm, con chó bẹc-giê to như con bê con nhào tới cắn toác chân bố ra… Sợ án mạng xảy ra trong nhà, gái làng Sài hốt hoảng sai người khiêng sang nhà thầy lang ngay bên cạnh dịt thuốc. Cứ thế, có là phận thằng mõ trong làng thì con gái điền chủ cũng chạnh lòng thương xót, rồi là thương hại, cuối cùng thương luôn… Mà mẹ mày đã thương rồi thì có ai mà cản được lòng quyết tâm của cô con gái rượu cốm của ông phú hộ.
— Bố cũng lì ghê…
— Lì cũng một phần, nhưng cũng một phần là bởi quyết tâm con ạ… Ở đời mà,
Mặt lì cộng với quyết tâm,
Cả hai hợp lại ra duyên vợ chồng.
Suy niệm
Giakêu nổi tiếng với địa vị và tiền bạc, nhưng ông cũng nổi bật với lòng quyết tâm.
Là thủ lãnh của những người thu thuế trong vùng, “Do Thái gian-Giakêu” không được lòng của nhiều người Do Thái đương thời. Nhưng bù lại, Giakêu có địa vị trong xã hội. Là thủ lãnh của nhân viên sở thuế, tiền bạc trong nhà của Giakêu chắc chắn phải là bạc vạn bạn nghìn.
Có địa vị, có bạc tiền, nhưng lỗ hổng tâm hồn của người phú hộ thành Giêricô vẫn không được lấp đầy. Cho nên ông nghe ngóng, ông tìm tòi, ông chờ đợi. Ngày rồi cũng tới. Nghe tin Chúa vừa đặt những bước chân vào cổng thành, không ngại lời ong tiếng ve, Giakêu quyết tâm nhập vào dòng người đông đảo lên đường tìm kiếm. Nhưng Giakêu hình dạng thấp bé, mà dòng đời đông đặc ngược xuôi trước mặt tiếp tục chuyển xoay che kín hình bóng của Chúa Giêsu. Nhưng bởi lòng quyết tâm, ông trèo lên cây sung…
Cuối cùng lòng quyết tâm của người thu thuế đã được Thiên Chúa đáp trả.
Lời Nguyện
Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim quyết tâm;
Quyết tâm như trai gái quyết liệt yêu nhau;
Quyết tâm như ông Giakêu quyết liệt tìm kiếm nhìn mặt Con Trời;
Quyết tâm như Chúa chung thủy một lòng quyết liệt yêu thương con.
Chú thích
[1] Sài Thị và Cao Xá, Hưng Yên
www.nguyentrungtay.com
LM Nguyễn Trung Tây, SVD _________________ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi. (Tv 119,105) |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
|
|
Bạn được quyền gửi bài viết Bạn được quyền trả lời bài viết Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
|