 |
TRANG CẦU NGUYỆN ONLINE, TẠ ƠN, LÀM CHỨNG Nơi gặp gỡ tâm linh của mọi người trên thế giới.
|
| Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn |
| Tác giả |
Thông điệp |
HOAHONGNHOBE

Ngày tham gia: 13 7 2008 Số bài: 1011 Đến từ: USA
|
Gửi: Bảy 9 26, 2009 1:32 am Tiêu đề: |
|
|
| con chiên nhỏ bé đã viết : | Chị HH ơi, tiả cành vào muà Thu mới tốt cho cây vì vào thu lá cây tự động rụng hết... . Chiên vưà về nhà thì nhìn thấy cây mận của mình chụi lủi như cây cherry...CCC cắt không nương tay...huhu . Bụi Hồng mà không tiả thì trông càng thê lương vào muà đông và muà xuân nó sẽ không ra hoa nhiều và cành mới vươn ra èo uột...chiên cũng vưà cắt nhánh hồng héo nhỏ hết rồi...chờ lạnh thêm thì cắt gần tới gốc. .Bây giờ chiên đi tha thêm vài khóm hoa về trồng trong chậu cho muà thu có mầu vàng hoa cúc, mầu đỏ, mầu trắng và tím chung quanh...chiên đi nghe. Các bài của chị Post vào rất dễ thương. Một cuối tuần vui vẻ chị nhé.  |
Cám ơn CCNB đã vào thăm mà còn có bài Post lên nữa, bài thật hay có tình có nghĩa và cảm động quá Chiên nhỉ.
HH muốn làm con Hưu còn Chiên?
Chiên ơi chăm sóc cây hồng rất là khó, và tùy theo khí hậu ở từng nơi, từng vùng.
Chỗ HH thì phải tỉa khi đến mùa đông vì nếu tỉa vào mùa Thu mà trời trở ấm một thời gian, thì các cành sẽ đâm chồi nảy nụ chưa kịp ra hoa thì khi mùa đông, từ từ cây hồng sẽ chết cả thân cây và gốc luôn.
Vườn HH trồng rát nhiều hồng đủ loại, chăm sóc hồng cũng là một điều thú vị, nhất là cắt những nụ hồng sắp nở, và chọn những hoa hồng thật đep thật to cắm vào bình ngắm nghía rồi hôn rồi hít vào mùi hương thơm thoang thoảng thật tuyệt diệu, cảm tạ Chúa ban.
Sau đó HH hay mang tới Nhà Thờ để tặng Chúa Mẹ, thật là sung sướng hạnh phúc và vui thích. _________________ THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
HOAHONGNHOBE

Ngày tham gia: 13 7 2008 Số bài: 1011 Đến từ: USA
|
Gửi: Bảy 9 26, 2009 1:39 am Tiêu đề: HELLO DOMINIC! |
|
|
| daminh đã viết : | HÃY VUI LUÔN TRONG THÁNH THẦN
AMEN  |
Thân Mến chào bạn ĐAMINH,
Cám ơn ĐM đã ghé vào thăm "QUÁN SƯU TẦM".
Vâng, chúng mình cứ vẫn tiếp tục vui luôn và vui mãi trong Thiên Chúa nhé!
Xin Chúa, Mẹ chúc phúc lành. _________________ THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
ThangLong

Ngày tham gia: 08 10 2008 Số bài: 99
|
Gửi: Bảy 9 26, 2009 3:21 pm Tiêu đề: Chứng nhân giửa đời |
|
|
Muốn đi tu thì ráng chạy (mà trả) nợ
http://www.vietcatholic.org/pics/AliciaTorres.jpg
Hình Cô Tores
Chicago, Illinois, 19 tháng 9 năm 2009 / 07:19 (CNA) .- Một phụ nữ trẻ đã hoàn thành một cuộc chạy bộ việt dã “Chicago half-marathon” trong một chiến dịch gây quỹ để giúp trả nợ cá nhân trước khi cô có thể đi tu.
Alicia Torres, tốt nghiệp Trường Đại học Loyola, Chicago năm 2007, đã bắt đầu chiến dịch "The Nun Run" với sự hỗ trợ của bạn bè. Cô và năm người bạn chạy 13.1 dặm Chicago Half Marathon vào ngày 13 tháng 9 để gây quỹ trả nợ.
Trong một e-mail phỏng vấn với CNA hôm thứ Năm, cô Torres nói rằng cô muốn gia nhập dòng Franciscan tại Mission of Our Lady of the Angles trong khu phố West Humboldt Park, Chicago. Nhà dòng này thuộc năng quyền cuả Tổng Giám mục Chicago là DHY Francis George và sẽ được giám sát bởi cha Bob Lombardo, CFR.
"Đó là một niềm vui lớn lao và là vinh dự cho tôi được tham gia một phần vào công việc tốt đẹp của Thiên Chúa", cô nói.
Cô Torres cho biết đã hoàn tất “Chicago half-marathon” "rất tốt" mặc dù có một chấn thương nơi mắt cá chân hai tuần trước khi đua.
"Đây là cuộc chạy đường dài đầu tiên của tôi kể từ năm mới lên trung học là lúc tôi chạy đường trường. Tôi đã có thể hoàn thành 13.1 dặm ngày chủ nhật trong 2g:40phút:03giây (Tạ ơn Chúa).! "
Mặc dù "rất kiệt sức," cô Torres nói rằng động cơ thúc đẩy cho cô là đưa ra một ý nguyện cụ thể cho mỗi dặm.
Cô cho biết rằng cô đã gây quĩ được ít nhất là $ 28,000, không bao gồm các khoản đóng góp đã gửi đến hội Laboure trong hai tuần qua. Hội Laboure, một tổ chức trừ nợ cho mhững ứng viên đi tu, đang lo giúp đỡ cho người phụ nữ trẻ này.
Theo cô Torres, nợ ban đầu của cô là 94.000 $ vì có số "lãi suất rất xấu," cô thêm rằng đã làm việc toàn thời gian và trả hơn 12.000 $ bằng tiền riêng. Cô Torres hiện làm việc cho Tổng Giáo Phận Chicago trong văn phòng Tôn trọng sự sống (Chicago’s Respect Life Office).
Cô Torres nói với CNA là nhờ những liên hệ "rất tích cực" với các phương tiện truyền thông cô đã gặt hái được nhiều sự hỗ trợ cho mục tiêu cuả cô. Bà Manya Brashear cuả tờ The Chicago Tribune's được mô tả là "một kinh nghiệm thích thú" (such a delight) đã dành gần sáu giờ phỏng vấn cô và nhà dòng. Tờ The Catholic New World (Công giáo Thế giới mới), nơi bạn của cô là Joyce Duriga làm biên tập viên, cũng giúp nhiều và cả ông Drew Mariani phát ngôn viên đài phát thanh nữa.
Cô Torres cho biết ngày đầu tiên cô được phỏng vấn với Mariani, cô đã nhận được khoảng 4.500 $ đóng góp.
Cô đã "hoàn toàn bị sốc" khi được mời phỏng vấn cho show "All Things Considered" cuả National Public Radio.
"Tôi đã muốn theo đuổi sự nghiệp trong ngành báo chí trước khi tôi nghiêm chỉnh nghĩ về ơn gọi của Chúa, và vì vậy tất cả những may mắn này chứng tỏ Thiên Chúa không để ai rộng rãi hơn ngài “.
Cô nói với CNA rằng một "thiểu số lớn tiếng" đã nghi ngờ tính xác thực của sứ mệnh của cô, một thái độ mà cô cho là vì thiếu hiểu biết về bản chất của đời sống tu trì là khác với cuộc sống của một giáo dân làm việc với người nghèo.
"Tôi cảm thấy khiêm nhường trước những hỗ trợ của nhiều người lạ tuyệt đối", cô nói thêm. "Tôi đã có một số check cho hàng trăm và thậm chí là $ 1.000 từ những người tôi không hề biết. Một nhà tài trợ ẩn danh gửi $ 10.000 để giúp đỡ tôi. Như tôi đã nói, Thiên Chúa không để ai rộng rãi hơn ngài. "
Cô Torres cho biết cô đã được mời thuyết trình tại một trường tiểu học Công Giáo địa phương cho buổi hội toàn trường, cô sẽ tham gia với các học sinh chương trình Fun-Run.
"Ơn gọi tu trì của tôi không chỉ cho riêng tôi", cô nói với CNA. Mặc dù ơn gọi là đường dẫn đến sự thánh thiện, cô nói nó cũng là cho "dân cuả Chúa."
"Thật là tuyệt vời khi thấy rất nhiều - vợ chồng, gia đình và những người độc thân, linh mục và tu sĩ - đến hỗ trợ, khuyến khích, và hơn hết, cầu nguyện cho tôi! Tôi rất vinh dự. Và tất cả là nhờ ơn cuả Chúa Giêsu Kitô, chuá chúng ta, qua sự cầu bầu của Đức Mẹ, mẹ chí thánh cuả Người. "
Viết trên trang web, cô Torres giải thích rằng ơn gọi của cô đã được nuôi dưỡng qua đời sống đức tin của mình và gia đình. Cô và anh chị em đã được dậy taị gia một số môn học và các hoạt động gia đình đã tập trung quanh nguyện đường Thánh Benedict. Cô Torres nói rằng mẹ cô đã hướng dẫn các con cầu nguyện hàng ngày cho các ơn gọi.
Cô mô tả linh mục giáo xứ, cha Damien, là một ảnh hưởng lớn và cũng ca tụng tinh thần "Mẫu tử" của Sơ Marie-Jean của trường Immaculate Heart of Mary.
Sau khi tốt nghiệp đại học, những thư tín của cô với linh mục Mercer và lời mời của Cha Lombardo đã giúp đưa cô chọn đời sống tu trì.
"Cuối cùng tôi đã im lặng đủ để lắng nghe những gì Thiên Chúa thì thầm trong trái tim tôi từ nhiều năm qua, và bây giờ tôi kinh nghiệm rằng sự Vui Thoả chỉ đến từ Thiên Chúa, tôi biết rằng không còn gì khác hơn là dâng hiến bản thân mình đầy đủ cho đấng yêu tôi. "
( Sưu Tầm ) _________________ CON TIN TƯỞNG VÀ PHÓ THÁC ĐƯỜNG ĐỜI CHO CHÚA. |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
HOAHONGNHOBE

Ngày tham gia: 13 7 2008 Số bài: 1011 Đến từ: USA
|
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
HOAHONGNHOBE

Ngày tham gia: 13 7 2008 Số bài: 1011 Đến từ: USA
|
Gửi: Năm 10 22, 2009 7:31 am Tiêu đề: NÓI CHUYỆN VỚI THIÊN CHÚA |
|
|
NÓI CHUYỆN VỚI THIÊN CHÚA
Năm 1991, Cộng Hòa Mông Cổ, vừa ra khỏi 65 năm (1924-1989) kềm kẹp của chủ nghĩa cộng sản vô thần do Liên-Xô cầm đầu, đã gởi phó Thủ Tướng đếm Roma. Ông có nhiệm vụ xin Tòa Thánh thiết lập quan hệ ngoại giao với Mông Cổ đồng thời xin Tòa Thánh gởi các nhà thừa sai đến dạy ngoại ngữ và phụ trách các công tác xã hội.
Dĩ nhiên Tòa Thánh chấp nhận ngay và giao phó trách nhiệm truyền giáo cho các Linh Mục Thừa Sai dòng Khiết Tâm Đức Mẹ tức các Cha Scheut. Scheut là tên của khu ngoại ô Bruxelles, thủ đô vương quốc Bỉ, nơi Hội Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ thành hình và có trụ sở đầu tiên vào năm 1862.
Trong buổi khai sinh, Dòng đặt trọng tâm nơi việc truyền giảng Tin Mừng cho đại quốc Trung Hoa. Quả thế, năm 1865, Dòng bắt đầu hoạt động tại Nội Mông Cổ. Nhưng đến năm 1924, các Cha Scheut bị bắt buộc phải rời bỏ Mông Cổ, khi quốc gia này trở thành Cộng Hòa dân quốc Mông Cổ.
Với niềm hân hoan khôn tả, các Linh Mục Khiết Tâm Đức Mẹ lên đường đi Mông Cổ, nối lại nhịp cầu dĩ vãng. Ngày 10-7-1992, 3 Linh Mục Thừa Sai, hai vị Phi-luật-tân và một vị người Bỉ: Wens Padilla, Gilbert Sales và Robert Goessens, đặt chân đến Oulan-Bator. Các Linh Mục khởi đầu công tác truyền giáo với các dịch vụ thuần túy văn hóa và xã hội, theo lời yêu cầu của chính quyền Mông Cổ.
Các Cha Thừa Sai Khiết Tâm Đức Mẹ mở trường dạy miễn phí tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nhật. Dần dần trung tâm văn hóa của các ngài thu hút rất đông bạn trẻ Mông Cổ, kể cả những người trưởng thành. Họ đến theo các khóa học, nhưng nhất là để xem các Linh Mục Thừa Sai sống như thế nào, bởi lẽ họ ngỡ ngàng trước một tôn giáo hoàn toàn trao ban cách nhưng không, vô-vụ-lợi!
Ba năm sau, Thứ Bảy Tuần Thánh Vọng Lễ Phục Sinh 15-4-1995, 6 nam và 7 nữ Mông Cổ, tuổi từ 18 đến 40, lãnh bí tích Rửa Tội và bí tích Thêm Sức một tháng sau đó. Những năm kế tiếp, số người tương tự cũng xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Vào Lễ Phục Sinh năm 1999 tại cứ điểm truyền giáo Oulan-Bator đã có tổng cộng 24 người lớn và 2 trẻ em được rửa tội.
Được hỏi vì lý do nào khiến họ theo Đạo Công Giáo, một thiếu nữ Mông Cổ trả lời:
- Tôi khám phá nơi Kitô Giáo một liên hệ cá nhân với THIÊN CHÚA. Tôi có thể thân thưa trực tiếp với Ngài. Đây là điều không thể làm trong Phật Giáo.
Một thiếu nữ khác trình bày:
- Phần tôi, tôi hiểu rằng, trở thành tín hữu Công Giáo có nghĩa là trở thành người lãnh nhận Tình Yêu THIÊN CHÚA.
Một thanh niên Mông Cổ giải thích lý do theo Đạo Công Giáo:
- Lòng tôi bị thu hút bởi điều gì đó tôi không rõ. Tôi chỉ cảm nghiệm mỗi khi bước chân vào thánh đường, khoảng trống trong tim tôi như tức khắc lấp đầy. Giờ đây tôi tin rằng tôi sẽ không bao giờ đơn độc nữa!
Một người đứng tuổi nói:
- Đối với tôi thì hình như lý do thôi thúc tôi đến trung tâm văn hóa của các Linh Mục Thừa Sai Scheut - hôm nay và tiếp tục sau này - giống như một tiếng gọi. Tôi nghĩ rằng chính THIÊN CHÚA và Đức Tin mời gọi tôi đến đây. Qua các buổi học hỏi Kinh Thánh, tôi tiến dần đến chỗ hiểu biết về Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Và vì tôi ao ước biết thêm hơn nữa về Ngài trong tương lai nên tôi quyết định xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội.
Đó là giải thích của các tân tòng Mông Cổ về lý do thúc đẩy họ xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Con đường tìm kiếm và gặp gỡ Đức Chúa GIÊSU trong Kitô Giáo nơi người Mông Cổ khác xa nhau. Mỗi tiếng gọi là một mầu nhiệm. Mỗi con đường là một khám phá, có lúc thật dài thật chậm như trường hợp của một thanh niên Mông Cổ. Anh nói:
- Vào năm 1993, nhờ xem cuốn phim diễn tả hành động và trọn cuộc đời Đức Chúa GIÊSU KITÔ mà tôi hiểu Ngài là Ai. Nhưng mãi đến năm 1998 tôi mới bắt đầu lui tới thánh đường của cứ điểm truyền giáo Oulan-Bator của các Cha Thừa Sai Scheut. Mặc dầu có nhiều nghi thức tôi không hiểu ý nghĩa nhưng tôi vẫn học hỏi bằng cách đem ra thực hành. Theo tôi thì chúng ta phải nghĩ đến và tìm hiểu về các nghi thức tôn giáo.
... ”Anh chị em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối. Vì thế, anh chị em đừng hóa ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa. Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới trụy lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí. Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng THIÊN CHÚA. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức GIÊSU KITÔ, Chúa chúng ta, mà cảm tạ THIÊN CHÚA là CHA” (Thư gởi tín hữu Êphêxô 5,15-20).
(”Missions Étrangères de Paris”, n.349, Mai/2000, trang 138-143)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt _________________ THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
HOAHONGNHOBE

Ngày tham gia: 13 7 2008 Số bài: 1011 Đến từ: USA
|
Gửi: Năm 11 05, 2009 2:29 am Tiêu đề: ƠN GỌI NÊN THÁNH |
|
|
ƠN GỌI NÊN THÁNH
Một bà thánh không làm gì cả?
Sáng ngày 21-04-1962, cô bé Jeanne Emmanuelle Molla ra đời, và bảy ngày sau, ngày 28-04-1962, mẹ của cô đã qua đời. Bảy tháng trước đó, người mẹ của cô đã bị u xơ tử cung, nhưng với tư cách là một bác sĩ, bà yêu cầu giữ con mình lại. Trước ngày sinh nở, bà biết rằng sinh mạng mình có thể bị đe dọa nếu tập trung vào mạng sống đứa con. Bà nói với các bác sĩ: «Nếu quí vị phải lựa chọn giữa con tôi và tôi, thì hãy chọn con tôi, tôi đòi hỏi như thế. Hãy cứu lấy nó». Người phụ nữ ấy chết năm 39 tuổi. Bà không làm gì cả ngoại trừ chết đi để bảo vệ mạng sống của con ruột mình. Ngày 15-05-2004, bà đã được phong thánh:
Thánh Gioanna Baretta Molla. Trong giờ kinh Truyền Tin ngày 23-12-1973, Đức Phaolô VI đã nói như sau: «Một người mẹ còn trẻ thuộc giáo phận Milan, vì muốn cứu mạng sống con gái mình, đã hy sinh mạng sống mình trong một cuộc hiến tế có tính toán trước». Thế đấy, chỉ cần là một người mẹ trọn vẹn ý nghĩa cũng đủ được phong thánh. Thậm chí, một tay sát nhân cũng có thể làm thánh.
Một ông thánh sát nhân?
Ngày 25-02-1954, Jacques Fesch cầm súng bước vào một chi nhánh ngân hàng để cướp hơn hai triệu franc Pháp. Vụ cuớp bất thành. Một cảnh sát rượt đuổi anh, anh bắn chết viên cảnh sát ấy. Anh bị bắt giam vào nhà tù Santé ở Paris, và ở đấy trong ba năm trước khi bị kết án tử hình. Ngày 01- 10- 1957 anh bước lên ghế điện để đền tội khi mới được 27 tuổi.
Thế nhưng thời gian ngồi tù đã giúp anh hoán cải. Ngày 01-05-1955, anh viết vào nhật ký trong tù của mình : « Tôi đã nghe một tiếng nói không xuất phát từ mặt đất nói với tôi rằng : Jacques, con nhận được ân sủng để chết. » Đấy là biến cố đã giúp anh hoán cải, và kể từ đấy anh sống một đời sống thiêng liêng kết hiệp với Thiên Chúa. Sau này, anh công bố : « Tôi được ban đầy dẫy ơn lành. Người ta đã cứu thoát tôi ngoài ý muốn của mình, người ta đưa tôi thoát khỏi cái thế gian chực làm cho tôi hư mất ». Sau khi qua đời, anh đã để lại 4 tác phẩm phản ảnh đức tin sống động của mình : Journal spirituel (Nhật ký thiêng liêng), Lumière sur l’échafaud (Ánh sáng trên đoạn đầu đài), Cellule 18 (Xà lim 18), Dans cinq heures je verrai Jésus (Năm giờ nữa tôi sẽ gặp Chúa Giêsu). Các tác phẩm này đã khiến cho Giáo hội tiến hành một cuộc điều tra sơ khởi nhằm phong thánh cho anh, một người mà Đức Hồng Y Lustiger hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ được Kitô hữu tôn kính như một «điển hình cho sự thánh thiện». Ta có nên giam cầm mãi một tên tội phạm trong tội ác của mình, dù cho sau đó người ấy có làm gì đi nữa, hay ngược lại, ta phải khẳng định rằng một người đã phạm tội ác có thể trở được biến đổi sau khi ý thức việc mình làm và hoán cải thâm sâu ?
Con đường nên thánh
Hẳn là điều nghịch lý khi suy nghĩ về con đường nên thánh mà lại minh họa bằng một kẻ sát nhân. Dù cho người ta đang tiến hành hồ sơ phong thánh cho anh, thì hàng loạt vấn đề đã được đặt ra. Các công đoàn của giới cảnh sát chống lại đề nghị của đức Hồng Y Lustiger, vì họ muốn bảo vệ danh dự và vinh quang cho người đồng nghiệp đã bị Jacques Fesch giết… Phải tin tưởng vào ơn tha thứ, nhất là khi hiểu rằng sự tha thứ chỉ thực sự trọn vẹn khi phải tha thứ những gì không thể nào tha thứ được. Và khi chúng ta nêu lên một ví dụ đi ngược lại với mọi lôgíc con người như thế, thì mới thấy được lòng thương xót của Thiên Chúa và hiểu được sự thánh thiện mà Chúa đã dành cho mỗi một con người, dù cho người ấy được xem như là anh «trộm lành» trong thời đại hôm nay. Và điều này có thể cũng giải thích được phần nào một khía cạnh cũng không kém phần nghịch lý của Giáo Hội, ấy là Giáo Hội được mời gọi nên thánh, dù cho Giáo Hội bao gồm những chi thể tội lỗi.
Đấy là điều mà Đức Gioan Phaolô II đã muốn nói lên trong tông thư «Đầu thiên niên kỷ mới»: «Đừng hiểu lầm về lý tưởng trọn lành này như thể đời sống thánh thiên đòi hỏi phải có một cuộc sống phi thường mà chỉ vài người xuất chúng mới đạt được. Đường nên thánh thì có nhiều và thích hợp với ơn gọi của từng người. Tiến trình nên thánh là một tiến trình cá nhân, đã đòi hỏi phải có một sư phạm đúng đắn về sự thánh thiện, để có thể thích nghi với nhịp sống của từng người».
Đức Giáo Hoàng cũng nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều được mời gọi nên thánh dù ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời: vào mùa xuân của tuổi thanh niên, mùa hè của tuổi trưởng thành, mùa thu và mùa đông của tuổi già yếu, vào giờ chết và cuối cùng, sau cái chết nữa. Ngài tuyên bố: «Ơn gọi của Kitô hữu là nên thánh. Ơn gọi ấy bắt nguồn từ Phép Rửa và được canh tân nhờ các bí tích khác, đặc biệt là bí tích Thánh Thể».
 _________________ THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
HOAHONGNHOBE

Ngày tham gia: 13 7 2008 Số bài: 1011 Đến từ: USA
|
Gửi: Hai 11 16, 2009 4:50 pm Tiêu đề: Làm Linh Mục Sướng Hay Khổ |
|
|
Làm Linh Mục Sướng Hay Khổ
Nếu có ai hỏi: đâu là buồn vui đời linh mục? Thì trả lời thế nào cho phải? Nhóm cho rằng làm linh mục "sướng" lắm, chỉ thấy màu hồng trong suốt cuộc đời. Đây nhá, kể một vài cái sướng cho mọi người đọc chơi đỡ buồn.
Cái sướng thứ nhất là được gọi bằng "cha". Ôi chao! Mới hôm trước là "thầy" hôm sau lên cha. Hôm trước còn có người xưng tôi với thầy, hôm sau "biến" thành con. Đã vậy, sau lễ truyền chức, bao nhiêu người đứng xếp hàng xin ơn phép lành. Trong số các người xin ơn phép lành này, thế nào chẳng có vài bà cụ xin hôn tay cha để lấy "in-du" đời sau. Các bà cụ vẫn nổi tiếng khó tính vì có mấy cậu con trai học giỏi, mấy cô con gái xinh, nhà lại khá giả. Làm quen với các bà còn khó hơn làm quen với con cái của bà, vậy mà giờ đây, ông cha mới, chẳng cần làm quen, làm lạ gì, được bà ấy năn nỉ xin hôn tay. Mà hôn tay cũng không dễ đâu nhá. Phải xếp hàng theo thứ tự! Rõ khổ. Hôn tay cũng phải xếp hàng.
Cái sướng thứ hai là được bài hát nào đó ca tụng rằng "Chúa chọn con lên hàng khanh tướng". Khanh tướng tức là quan lớn. Một người làm quan cả họ được nhờ. Chẳng thế mà các cha ngày xưa được gọi là "các cụ quan triều đó ư?" Không những cha làm quan mà bố mẹ của cha cũng lên chức "ông bà cố". Vài tháng trước, có kẻ còn gọi xách mé là "bà Tư bán hàng xén" vậy mà khi có con "đỗ cụ" thì đố "đứa nào" dám gọi như vậy.
Cái sướng thứ ba là "nghe tội người khác". Con người ai chẳng tò mò muốn biết người khác có giống mình không? Bây giờ bỗng dưng họ "thành khẩn khai báo" thì có khác gì nắm được cái tẩy của họ? Mà thành khẩn khai báo thì còn gian lận, chứ đi xưng tội phải thành thật 100% Chúa mới tha. Ông cha có thể không biết gì, nhưng còn Chúa thì sao? Bởi vậy cho nên mới có màn xưng tội mùa đại phúc, nghĩa là mỗi năm ít nhất hai lần, Phục sinh và Giáng sinh, cha quản nhiệm thế nào cũng cố gắng mời cho bằng được cha khách đến xứ mình giúp giải tội. Lạ một điều là xưng tội với cha nhà không thiêng, cho nên các vị trong hội đồng mục vụ, tài chánh, ban chấp hành đoàn thể cứ thích xưng tội với cha khách! Có cha kia kể chuyện một bà trùm đến xưng tội với ngài. Bà trùm không chịu ngẩng đầu cao cho dễ nói, còn bịt mũi cho khác giọng. Cha già bị điếc, nghe không rõ, cứ nhắc đi nhắc lại hai ba lần rằng "bà ơi, bà nói to và rõ một chút, tôi chẳng nghe thấy gì". Bà lại càng lí nhí hơn. Nghe không rõ, cha hỏi:
- Bà đánh ông nhà mấy lần?
- u, a...
Ngài nói to hơn:
- Bà đánh ông ấy mấy lần?
- u, a, u,..
Ngài quát lên:
- Ba lần hay năm lần? Đánh ông ấy tới 7 lần cơ à? Sao nhiều thế?
Bể hết. Mấy người đứng sau cứ bụm miệng mà cười. Có người cố gắng bịt hai tai mà vẫn nghe thật rõ.
Cái sướng thứ tư là ngồi chỗ kính trọng và mọi người phải chờ cha đến rồi mới ăn uống hay khai mạc phiên họp. Đây nhé, trông thì thấy ngay. Vào những dịp lễ đông người, như vọng Giáng sinh hay Phục sinh chẳng hạn, trong khi nhiều người đến sớm kiếm chỗ ngồi, thì cha cứ từ từ tiến lên ghế đã dành riêng của mình, chẳng phải tranh dành với ai mà cũng chẳng ai dám tranh dành với cha. Đố ông nào bà nào lên ngồi "ghế của cha" hay là ngồi gần cha trên bàn thờ? Có mời cũng chẳng dám. Rồi mình đi lễ trễ mấy phút thì sợ mất lễ, còn cha "chẳng may" có trễ, mọi người đều phải chờ. Vị nào dám lên "làm lễ thay cha". Sướng quá rồi còn gì? Đấy là chưa kể đến các bữa tiệc phải chờ cha ban phép lành mới ăn. "Ăn uống mà chưa được ban phép thì khác gì ăn kiểu ngoại đạo!". Cha luôn được mời ngồi ở chỗ vinh dự nhất, bàn tiệc thứ nhất Trông thật oai. Có món gì ngon trước tiên phải dọn lên bàn của cha và các vị quan khách đặc biệt.
Cái sướng thứ năm là không bị lo lay-off, nghĩa là thất nghiệp. Trong khi ngoài đời xuân thu tam tứ kỳ, mỗi lần hãng thay đổi supervisor hoặc làm ăn lên xuống thất thường là nhân viên lo són vó; còn các cha cứ yên trí làm việc, chẳng cần để ý đến óp với mẩy. Hơn thế nữa, thiên hạ càng lo càng trở nên đạo đức, cần đến cha nhiều hơn!
Cái sướng thứ sáu là cha "nói một tiếng bằng chúng con nói mười tiếng". Đúng vậy, trong nhà thờ, nếu cha kêu gọi điều gì, xem ra toàn dân hưởng ứng dễ dàng. Còn mình có dài cổ ra mời, may ra được bà vợ và đoàn con của mình đáp ứng thôi. Bởi thế cho nên người Mỹ mới có câu truyện hài hước:
Ba thằng nhãi con ngồi nói chuyện với nhau, khen bố mình giỏi. Thằng thứ nhất khoe: - Mọi người gọi bố tao là giáo sư. Lương tháng của bố tao hơn ba ngàn. Tính ra mỗi giờ dạy học của bố tao hơn 50$. Mai mốt tao giống bố tao. Học trò đến với bố tao phải trả tiền đó mày, vì bố tao dạy học dễ hiểu, nổi tiếng cả thành phố.
Thằng thứ nhì nổ: - Bố tao tuyệt vời lắm. Bố tao là ca sĩ. Mỗi lần hát được trả 2000$ cho vài bài nhạc. Chưa đến nửa tiếng, hai ngàn. Thiên hạ khoái bố tao lắm, vỗ tay quá trời. Bố tao nổi tiếng cả tiểu bang.
Thằng thứ ba có vẻ khiêm tốn: - Tao chẳng biết bố tao tài năng ra sao, nhưng mà ở trong nhà thờ, ông ấy rút ra một tờ giấy, đọc cái gì ấy, chẳng biết có ai hiểu không, sau đó 5, 6 người đứng lên cầm giỏ đi thu tiền mọi người. Bố tao chỉ lề rề đọc chừng mười phút, chẳng ai cười, chẳng ai vỗ tay, vậy mà mỗi tuần thu được hơn 10 ngàn đó mày.
Hai thằng kia tranh nhau hỏi:
- Thế bố mày làm nghề gì?
- Pastor (Mục sư chánh xứ).
Có khi thằng bé nói đúng. Bố nó trong nhà thờ, "rút ra tờ giấy, đọc cái gì ấy, chẳng biết có ai hiểu không?". (Vậy mà sau đó vẫn có màn quyên tiền). Bởi thế cho nên, có bà cố hồi xưa đến xin cha xứ cho con mình đi tu:
- Thưa cha! Xin cha thương nhận cho cháu nó vào nhà chung. Cháu nó khờ lắm cha ạ! Ở ngoài đời, chỉ tổ bị vợ nó bắt nạt.
Cha nghe xong không biết là bà cố tương lai này có chửi xéo mình không?
Hóa ra tiêu chuẩn đầu tiên theo Chúa là... khờ. Ở ngoài đời sẽ bị vợ bắt nạt, hay bon chen thì cũng chẳng nên trò trống gì! Mà cũng hay thật. Các cha xứ hình như có "hơi khờ" một chút thì cũng đỡ bị người khác ghét và ganh tị như các cha lanh lợi!
Đúng vậy. Thầy nào hơi lanh một chút thế nào cũng có ông hay bà phán: - Trông tươi tỉnh khôn ngoan như vậy, chẳng biết tu suốt đời không?
Một cha trong ngày chịu chức, nhận thiệp mừng trăm bạc kèm theo lời cầu nguyện viết nắn nót: "Con hằng đêm cầu nguyện cho cha ơn bền đỗ". Trời đất! Sợ sắp sa ngã thì mới xin cho bền đỗ khỏi lạc đường, chứ không có gì trục trặc thì bền với đỗ cái gì? Cha nghĩ thầm "may mình biết rõ gia đình này thật lòng, chứ nếu không thì tưởng họ chửi xỏ mình".
Nếu tiếp tục kể về các cái "sướng"như nói về thuốc thập toàn đại bổ thì còn dài lắm, nhưng cuộc đời làm gì luôn luôn được suông sẻ như vậy. Nếu đi tu sướng thế thì sao thiên hạ không đi tu hết cho rồi? Lại cứ để mấy vị "khờ khờ" tiến chức là sao? Thôi bây giờ bàn về cái khổ cho công bằng.
Cái khổ đầu tiên mà các cha gặp là "muốn làm người bình thường mà không được." Dĩ nhiên, được yêu mến, kính trọng, được dành chỗ đặc biệt trong nhà thờ, nhà hàng thì vui đấy; nhưng nếu thử tưởng tượng một cô ca sĩ phải cười tươi đủ 8 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần, thì thế nào cũng có lúc mong khép nụ cười lại cho đỡ mỏi. Khổ nỗi thiên hạ không cho, cứ bắt phải... cười!!! Ngồi chỗ dành riêng mãi chẳng vui thú gì đâu. Ăn cũng giữ ý tứ, nói cũng cẩn thận, ngồi cũng nghiêm trang. Hàng trăm con mắt nhìn vào mình thì còn thích thú gì? Đấy là chưa kể đến các đám cưới, gia đình cô dâu chú rể quý mến cha quá, cho ngồi bàn đầu tiên ngay bên cạnh hệ thống âm thanh. Nói chuyện cứ như quát. Lúc đi ra khỏi tiệm mới biết rằng mình bị điếc một bên tai vì ban nhạc chơi quá tay. Giá mà ở nhà làm một bát cơm canh thì thật thú vị! Có cha than thở rằng bao giờ đi ăn tiệc cũng đói, về nhà phải làm thêm tô mì. Lý do là vì có lần nghe bà cụ kia than trong tòa giải tội "cha phó của con ăn uống cứ như người đời" thành ra "nhột" không dám ăn nhiều trước công chúng nữa.
Cái khổ thứ hai là cái khổ của "đời tôi cô đơn". Chẳng phải là cô đơn thiếu đời sống gia đình mà là cô đơn không có bạn, không có người hiểu và thông cảm với mình. Một vị hồng y Việt nam đã nói rất chân tình: "Vào tiểu chủng viện, tôi mất một số bạn cũ tiểu học. Rồi mỗi năm mất thêm một số bạn. Họ rời chủng viện, mình còn đi tu, đâu dám liên lạc. Lúc lên đại chủng viện, làm thầy, mất thêm mớ nữa. Sau ngày chịu chức linh mục, số bạn mà mình dám kể chuyện tâm tình cho nhau nghe, chỉ còn trên đầu ngón tay. Đến lúc làm giám mục thì coi như chẳng còn ai, vì chẳng ai muốn làm bạn với giám mục. Rồi khi lên hồng y thì coi như... hết đời. Hết bạn, hết bè, hết người nói chuyện!
Có người thương cha quá bèn nói "cha có Chúa Thánh thần ở cùng, nên chẳng cần quen biết với bạn bè ngoài đời làm gì. Có buồn thì cầu nguyện với Chúa là xong". Nói như vậy cũng chẳng khác gì nói "cha gần Chúa, cha sắp làm thánh rồi, đừng ăn uống nữa!". Giá được như thiên thần, không cần ăn uống, không biết hỉ, nộ, ái, ố gì nữa thì cũng tốt. Nhưng soi gương thấy mình giống xác ướp trong phim Ai cập quá, chẳng còn cảm xúc.
Có cha mỗi lần đi qua các bức tượng đá nơi công viên lại mỉm cười, ngẫm nghĩ, mình được kính trọng giống như tượng đá. Nhìn xa thì oai vệ, có ai biết rằng tượng phải làm tượng cả ngày lẫn đêm, lúc nắng gắt cũng như mưa gió bão bùng. Có ai muốn làm tượng đá cô đơn nơi công viên không nhỉ?
Cái khổ thứ ba là bị "quân Giu-Dêu" nó chửi mà mình lại không có quyền "chửi" lại chúng. Bá nhân, bá tánh. Làm dâu trăm họ, có cách nào chiều được mọi người không? Dễ dãi quá thì sợ sai luật giáo hội, luật địa phận, các bề trên quở trách. Đúng luật thì bị lên án là "làm phách". Giải thích cũng chẳng ai thèm nghe. Đương nhiên sau khi phật ý, là có màn chê bai ngay. Nếu chỉ chê trách hoặc kể sự việc cho chính xác thì cũng được coi là công bằng, nhưng mà chê bai thì phải đi đôi với... nói xấu. Thế là các thói xấu của cha, những việc xảy ra cách đây chừng vài chục năm, được kể hết. Người nghe, ai mất công kiểm soát lại xem sự việc đó đúng hay sai? Có xảy ra thực như vậy hay không? Thiên hạ dễ tin cái xấu hơn cái tốt, dễ nhớ điều sai của người khác hơn cái phải của họ. Có đúng không?
Tương tự như cái khổ thứ ba là cái khổ thứ tư. Bị thiên hạ vu vạ, cáo gian mà mình không có quyền tìm cách giải thích cho công khai. Một mặt thì trên tòa giảng, cha nói về yêu thương, tha thứ, cầu nguyện cho kẻ thù, đến lúc có người vu khống lại dãy nảy lên như đỉa phải vôi, thanh minh, thanh nga thì còn rao giảng Tin Mừng gì nữa? Rồi thiên hạ khoái nghe đồn. Một đồn mười, mười đồn trăm. Không khác gì bị lựu đạn khói, chẳng thấy đường nào mà thoát.
Với các cha thì mấy môn học về tâm lý trong chủng viện, lúc đem ra ngoài áp dụng, trật đường rầy hết. Một vài cha cũng không biết mình nên sống kiểu Âu Mỹ hay kiểu Việt Nam. Có cha kể lại, khi thực tập lớp giải tội, người đóng vai hối nhân, sau khi xưng tội, cảm xúc quá, chạy đến bên cha -khi đó làm thầy-, khóc lóc thảm thiết, gục cả đầu vào đầu gối cha. Cha gạt sang bên tránh không cho hối nhân chạm vào mình. Cuối giờ có phần chấm điểm từ cha giáo và các bạn. Mọi người cho thầy điểm giải tội thì thuộc bài, nhưng về mục vụ thì suýt rớt. Lý do tạo cho hối nhân cảm tưởng họ là người tội lỗi, nhơ bẩn, không ai cho chạm vào, nhất là khi họ vừa bày tỏ tội lỗi, ngay cả những tội thầm kín nhất. Ghi nhớ bài học mục vụ này, lúc đến nhà xứ, gặp người xin xưng tội, diện đối diện, thay vì qua tòa kín. Cảm phục lòng can đảm, sau khi giải tội xong, cha bèn đứng lên, giang tay "hug" bình an hối nhân, sau đó quên bẵng. Ai dè, vài tháng sau có tiếng đồn rằng "cha ấy giải tội cho tao xong, còn đứng lên ‘ôm' tao nữa mày ạ!". Trời đất! Vậy có chết người không? Bây giờ làm sao đây? Không lẽ ông cha phải đi nói cho người ta biết rằng "tôi chẳng thèm ‘ôm' cô ta đâu?"
Đấy là chưa kể đến các việc bàn hỏi, linh hướng liên quan đến bí tích giải tội hoặc thanh danh gia đình người khác, không được phép tiết lộ ra ngoài, đành phải im lặng, ngậm đắng, nuốt cay. Có chị kia bị chồng bạc đãi quá, chịu không nổi, chạy lên cha xin xưng tội và đồng thời vấn kế. Sau khi gặp vài lần, cha đề nghị hai vợ chồng gặp counselor phần đời. Chỉ có chị vợ đi còn anh chồng lần nào cũng bận. Bà vợ, với tâm tình phụ nữ Việt Nam, thỉnh thoảng mang biếu cha ít thức ăn, xin lễ cầu nguyện cho gia đình, như để tạ ơn cha đã giúp cho gia đình. Chẳng may, cuối cùng đôi đó tan vỡ. Ông cha bị anh chồng vu cáo "có tình ý với vợ tôi vì nhận quà của vợ tôi thường xuyên". Để chạy lỗi, anh chồng kiếm sang chuyện khác. Ông cha lãnh đủ. Nên làm sao đây? Không lẽ đi kể chuyện nhà người ta ra, vợ chồng cãi nhau, đánh nhau, tranh giành tiền bạc, chơi bời thế nào để thanh minh cho mình? Một lần bực quá định "nói tọac móng heo" thì có người khuyên: "Thôi cha ạ! Đi tu phải hy sinh chứ! Khi xưa Chúa bị đau khổ trong vườn Giệt-si-ma-ni mà Ngài có than thở hay kể tội ai đâu?" Nghe cũng hợp lý. Đi tu mà! Nhưng "to be or not to be?"
Cái khổ thứ năm là dễ bị phân tích theo tiêu chuẩn rất chủ quan. Không khác gì tại Hoa Kỳ, đảng Dân chủ phân tích đảng Cộng hòa. Dân ta thì kính trọng cha, cụ đặc biệt nhưng thích nghe chuyện xấu về cha, cụ cũng nhiều, nhất là những chuyện liên quan đến tiền bạc và người khác phái. Đương nhiên đây là những vấn đề Giáo hội dạy phải cẩn thận, thế nhưng hình như mọi hình ảnh đều được phân tích do sự chủ quan "suy bụng ta ra bụng người", cho nên thấy chỗ nào cũng tội và cơn cám dỗ. Một ông cha ngoại quốc ôm chúc bình an thì không sao. Một cha Việt Nam thì... có sao. Sợ cha "lòng động lòng lo" dễ sa chước cám dỗ nhưng "không nói với cha, mà đi rỉ tai các người chung quanh!". Có người đeo kiếng râm màu đen, có người đeo kiếng màu hồng và cũng theo màu đó mà phân tích cuộc đời ông cha. Người đeo kính màu hồng nhìn cha như thánh sống. Kính trọng cha quá mức đến phát ngượng. Người đeo kính màu đen lúc nào cũng chỉ thấy lỗi lầm chung quanh cha. Cho nên nếu thấy cha vui vẻ, cười cợt với người khác phái thì sợ cha dễ bị sa ngã. Thấy có người đưa tiền xin lễ hoặc biếu xén rộng rãi thì nghĩ rằng họ đang lợi dụng cha. Thấy cha thăm viếng thường xuyên một vài gia đình thì lo cha sẽ bị ảnh hưởng của họ. Thế là các điều tiếng như: chỉ chơi với nhà giầu, thân nhà cô A, cô B lắm, thích ăn ngon, mặc đẹp, đi xe sang trọng, uống rượu một cây... Cha nào muốn sống thực với chính mình thấy khó quá. Có lẽ vì vậy mà nhiều cha lựa chọn đi làm với người bản xứ cho yên thân chăng?
Một vài người hiểu lầm hai chữ phê bình và góp ý hoặc hiểu đúng nhưng muốn gộp hai điều làm một. Thấy cha làm điều gì đó có vẻ "chướng mắt" cũng không dám nói, sợ mang tiếng chống đối, hay phê bình. Ngược lại, có người thì không góp ý bao giờ nhưng chỉ chờ dịp phê bình? Một vài vị còn sưu tầm các biến cố -đa số đều là biến cố qua cặp kính màu đen trong cuộc đời các cha để mai này sẽ có dịp mang ra dùng!!! Làm việc tông đồ mà có FBI theo dõi thì cũng hơi buồn.
Có người nói, quan tâm đến cha thì mới đặt vấn đề với cha. Vậy thì cha có bị cám dỗ không? Đến Chúa còn bị thì huống chi là ông cha. Ai mà chẳng bị. Nhưng có lẽ điều khác biệt là tập quán chống lại cám dỗ của mỗi người khác nhau. Ngay từ hồi nhỏ, khi mới đi tu, còn trong tiểu chủng viện, rồi lên đại chủng viện, chịu chức, những người đi tu đã cố gắng luyện tập cho mình thói quen này. Cầu nguyện, hãm mình, xét mình hằng ngày, chịu các bí tích, xưng tội thường xuyên, bàn hỏi với các linh hướng... là những phương cách hữu hiệu nhất để mau giúp đạt được tập quán đó.
Giống như người văn ôn, võ luyện thường xuyên, thì khi bị tấn công, dù bất ngờ, cũng trở tay mau chóng hơn người ít luyện tập. Cho nên, cùng cái bắt tay, cùng một hình ảnh nhưng người có tập quán chống lại cám dỗ, thì sức cám dỗ sẽ nhẹ hơn hoặc có khi chẳng là gì. Ngược lại, người quá bận rộn với các lo lắng khác, không có thời giờ phát triển tập quán chống lại cám dỗ hoặc nói cách khác đi, không phát triển tập quán mở cửa cho ân sủng, thì cơn cám dỗ đến thường xuyên và mạnh bạo hơn. Đấy là chưa kể đến người còn "enjoy" chước cám dỗ thì cơn cám dỗ càng dễ đến...
Vui buồn sướng khổ trong cuộc đời đi tu thì chẳng khác gì chuyện dài nhân dân tự vệ. Có lẽ cần nhìn đến con số thống kê để biết đi tu "sướng nhiều hay khổ nhiều".
Theo Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ cho biết thì năm 2004, số thỉnh sinh Việt Nam chịu chức linh mục lên đến 20% tổng số toàn quốc. Mọi năm chỉ có 9%. Nếu so với tỷ lệ người Công giáo Việt Nam vào khoảng 400 ngàn trên 66 triệu người Công giáo Hoa Kỳ, tức là chưa tới 0.65%, vậy mà số tân linh mục là 20%. Như thế chứng tỏ rằng đi tu vẫn sướng, ít nhất là đi tu Việt Nam sướng hơn đi tu... Mỹ!
LM. Anthony Đào Quang Chinh _________________ THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
|
|
Bạn được quyền gửi bài viết Bạn được quyền trả lời bài viết Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
|