BIỂU
HIỆU
TRÁI
TIM
MẸ
Cao
Tấn
Tĩnh
Theo
sự
tích
Đức
Mẹ
hiện
ra
ở
những
nơi
danh
tiếng
được
Giáo
Hội
chính
thức
công
nhận,
như
ở
Guadalupe
năm
1531,
ở
Paris
năm
1830,
ở
La
Salette
năm
1846,
ở
Lộ
Đức
năm
1858
v.v.,
chỉ
có
ở
Fatima
năm
1917,
Đức
Mẹ
mới
r
ràng
mạc
khải
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
của
Mẹ
ra
cho
loài
người
một
cách
hết
sức
từ
ái
và
đau
thương.
Ngày
13/6/1917,
với
Lucia,
một
trong
ba
Thiếu
Nhi
Fatima
được
“Chúa
Giêsu
dùng
để
làm
cho
Mẹ
được
nhận
biết
và
yêu
mến”,
Đức
Mẹ
đã
hứa:
“Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
là
nơi
con
nương
náu
và
là
đường
đưa
con
đến
với
Chúa”
(FILOW:161,195).
Thế
rồi,
trước
khi
biến
đi,
Đức
Mẹ
đã
xòe
hai
bàn
tay
của
Người
ra,
làm
cho
3
Thiếu
Nhi
chìm
ngập
trong
Thiên
Chúa
và
thấy,
trong
lòng
bàn
tay
phải
xoè
ra
của
Mẹ,
có
một
Trái
Tim
bị
gai
nhọn
từ
chung
quanh
đâm
vào.
Sau
khi
đã
trưởng
thành
để
có
thể
bắt
đầu
công
khai
làm
Tông
Đồ
Fatima
cho
Mẹ,
chị
Lucia
còn
thấy
Đức
Mẹ
với
Trái
Tim
bị
gai
nhọn
quấn
chung
quanh
hai
lần
nữa.
Lần
thứ
nhất,
khi
Đức
Mẹ
bế
Chúa
Hài
Nhi
hiện
ra
với
chị
vào
ngày
10/12/1925.
Lần
thứ
hai,
vào
ngày
13/6/1929,
khi
hiện
ra
với
chị,
Đức
Mẹ
cầm
trong
tay
Trái
Tim
có
lửa
và
vòng
gai
đứng
dưới
chân
thập
giá,
(thập
giá
bằng
ánh
sáng
xuất
hiện
lơ
lửng
trên
trần
nhà
nguyện,
trên
thập
giá
có
Chúa
Kitô
tử
nạn
và
bên
dưới
cạnh
sườn
của
Chúa
có
cả
chén
thánh
cùng
với
bánh
thánh
đang
hứng
máu
nhỏ
xuống
từ
thánh
nhan
Ngài).
Qua
sắc
lệnh
Acta
Apostolicae
Sedis
của
Thánh
Bộ
Lễ
Nghi
ngày
4/5/1944
về
việc
lập
Lễ
Trái
Tim
Mẹ,
thì
Trái
Tim
Mẹ
biểu
hiệu
cho
hai
điều:
“Sự
Thánh
Thiện
tuyệt
vời
và
độc
đáo
của
linh
hồn
Mẹ
Thiên
Chúa,
đặc
biệt
là
Tình
Yêu
tha
thiết
nhất
của
Mẹ
đối
với
Chúa
Giêsu
Kitô,
Đấng
vừa
là
Chúa
vừa
là
Con
của
Mẹ,
cũng
như
sự
dịu
dàng
từ
mẫu
của
Mẹ
đối
với
con
người
được
Máu
Thần
Linh
của
Chúa
Giêsu
cứu
chuộc”
(TWTAF3:82).
Trái
Tim
Mẹ
là
biểu
hiệu
cho
“sự
thánh
thiện
tuyệt
vời
và
độc
đáo
của
linh
hồn
Mẹ
Thiên
Chúa”.
Thật
vậy,
“được
dựng
nên
theo
hình
ảnh
của
Thiên
Chúa”
(STK
9:6;
Gia
3:9)
con
người
nên
thánh
là
con
người
nên
giống
Thiên
Chúa.
Càng
nên
giống
Thiên
Chúa,
con
người
càng
nên
thánh;
hay,
nói
ngược
lại,
càng
nên
thánh
là
càng
nên
giống
Thiên
Chúa.
“Là
nguyên
ủy
và
là
cùng
Đích”
(KH
21:6),
Thiên
Chúa
chính
là
lý
tưởng
tối
cao
cho
loài
người
và
là
mô
phạm
tuyệt
đối
của
loài
người.
Chúa
Kitô
đã
chẳng
dạy
con
người
“hãy
nên
trọn
lành
như
Cha
của
các
con
trên
trời
là
Đấng
trọn
lành”
(Mt
5:48)
hay
sao?
Thế
nhưng,
con
người
làm
sao
biết
được
Thiên
Chúa
như
thế
nào
để
mà
nên
giống
Ngài,
nhờ
đó,
có
thể
nên
trọn
lành
và
thánh
thiện
như
Ngài?
Theo
lịch
sử
cứu
độ
được
Thiên
Chúa
thực
hiện
nơi
Dân
Do
Thái,
“là
Thần
Linh”
(Gn
4:24),
Thiên
Chúa
chỉ
tỏ
mình
ra
cho
con
người
qua
trung
gian
Ngài
tuyển
chọn
và
sai
đến,
chẳng
hạn
qua
Moisen
hay
các
vị
tiên
tri,
và
nơi
những
gì
Ngài
muốn,
chẳng
hạn
nơi
lề
luật
hay
các
lời
tiên
tri.
Con
người
chỉ
cần
nhận
biết
Thiên
Chúa
qua
các
sứ
giả
của
Ngài
bằng
cách
giữ
lề
luật
hay
lời
của
Ngài
do
sứ
giả
Ngài
nhân
danh
Ngài
truyền
cho
là
con
người
đáp
ứng
đúng
với
ý
muốn
của
Ngài:
“Vậy,
các
ngươi
hãy
thánh
hoá
mình
và
hãy
nên
thánh,
vì
Ta,
Thiên
Chúa,
Chúa
các
ngươi
là
Thánh.
Bởi
đó,
hãy
cẩn
thận
giữ
những
gì
mà
Ta
là
Chúa,
Đấng
thánh
hóa
các
ngươi,
đã
ban
truyền”
(Lv
20:7-8).
Trong
Phúc
Âm
thánh
Luca,
chúng
ta
thấy
sự
Thánh
Thiện
của
Mẹ
Maria
cũng
được
tỏ
ra
khi
Mẹ
nhận
biết
Thiên
Chúa
qua
sứ
giả
của
Ngài
là
tổng
thần
Gabriel
được
Ngài
sai
đến
truyền
tin
Ngôi
Lời
nhập
thể
cho
Mẹ
và
khi
Mẹ
hoàn
toàn
tuân
phục
Thánh
Ý
của
Thiên
Chúa.
Mẹ
đã
chứng
tỏ
là
Mẹ
“nhận
biết"
và
“tuân
phục”
Thiên
Chúa
qua
câu
nói
bất
hủ
của
Mẹ:
“Này
tôi
là
tôi
tớ
Thiên
Chúa,
tôi
Xin
Vâng
như
lời
sứ
thần
truyền”
(Lc
1:38).
Xin
lưu
ý,
ở
đây,
Đức
Mẹ
không
thưa,
“Xin
Vâng
như
ý
Thiên
Chúa
muốn”,
mà
là
”Xin
Vâng
như
lời
sứ
thần
truyền”.
Tức
là,
Đức
Mẹ
đã
“tuân
phục”Thiên
Chúa
bằng
Đức
Tin,
qua
việc
“nhận
biết”
sứ
giả
của
Ngài.
Để
rồi,
nhờ
hiệp
nhất
với
Thánh
Ý
Thiên
Chúa
toàn
chân,
toàn
thiện
và
toàn
ái
bằng
đức
tin
như
thế,
Mẹ
Maria
thực
sự
đã
nên
giống
Thiên
Chúa,
đến
nỗi,
có
thể
nói,
nếu
Chúa
Kitô
“là
hiện
thân
đích
thực
của
hữu
thể
Cha”
(DT
1:3)
thì
Mẹ
Maria
là
phản
ảnh
của
vinh
quang
Thiên
Chúa,
đúng
như
Mẹ
đã
được
thần
hứng
xướng
lên:
“Thiên
Chúa
toàn
năng
đã
làm
nơi
tôi
những
sự
trọng
đại,
danh
Ngài
là
thánh”
(Lc
1:49).
Nhờ
tác
động
“nhận
biết”
qua
việc
tuyệt
đối
“tuân
phục”
này
của
Mẹ
mà,
trên
thực
tế,
cả
thân
xác
của
Mẹ
cũng
đã
được
kết
hiệp
với
Thần
Tính
vô
cùng
thiện
hảo
của
Thiên
Chúa
khi
“Ngôi
Lời
hóa
thành
nhục
thể”
(Gn
1:14)trong
lòng
của
Mẹ.
Như
thế,
với
lời"Xin
Vâng”
bất
hủ,
tỏ
ra
Đức
Tin
“nhận
biết”
Thiên
Chúa
của
Mẹ
và
Đức
Mến
“tuân
phục”
Ý
Muốn
của
Ngài,
Trái
Tim
Mẹ
quả
thực
sự
là
biểu
hiệu
cho
“sự
thánh
thiện
tuyệt
vời
và
độc
đáo
của
linh
hồn
Mẹ
Thiên
Chúa”
vậy.
Trái
Tim
Mẹ
là
biểu
hiệu
cho
“tình
yêu
tha
thiết
nhất
của
Mẹ
đối
với
Chúa
Giêsu,
Đấng
vừa
là
Chúa
vừa
là
Con
của
Mẹ”.
Khi
Mẹ
Maria
chấp
nhận
Thiên
Chúa,
qua
việc
“nhận
biết”
và
“tuân
phục”
Ngài,
là
Mẹ
chấp
nhận
Chúa
Giêsu
Kitô,
Ngôi
Lời
nhập
thể,
Đấng
Thiên
Sai
cũng
là
Chúa
Cứu
Thế.
Mở
đầu
ca
vịnh
Ngợi
Khen,
được
thần
hứng,
Mẹ
đã
tuyên
xưng
điều
này:
“Linh
hồn
tôi
ngợi
khen
Thiên
Chúa,
và
lòng
tôi
hoan
hỉ
mừng
vui
trong
Thiên
Chúa,
Cứu
Chúa
của
tôi”
(Lc
1:46-47).
Phải,
Thiên
Chúa
của
Mẹ
cũng
chính
là
Cứu
Chúa
của
Mẹ,
Đấng
mà
Mẹ
đã
được
“diễm
phúc
hơn
mọi
người
nữ”
(Lc
1:28,42)
thụ
thai
“bởi
Thánh
Linh”
(Mt
1:20).
Thế
nhưng,
để
có
thể
chấp
nhận
Thiên
Chúa,
có
thể
thụ
thai
Ngôi
Lời
Nhập
Thể,
qua
việc
“nhận
biết”
và
“tuân
phục”
Ngài
một
cách
hoàn
toàn
tuyệt
đối
và
trọn
hảo
như
Mẹ,
con
người
cần
phải
có
một
Tình
Yêu
Thiên
Chúa
tha
thiết
đến
mức
nào,
bằng
không,
họ
sẽ
không
thể
nào
thực
hiện
được
điều
này
như
Mẹ.
Thật
thế,
để
có
thể
“Xin
Vâng”
Ý
Muốn
của
Thiên
Chúa,
Mẹ
Maria
đã
phải
hoàn
toàn
“bỏ
sự
sống
của
mình
đi”
(Mt
16:25),
mặc
dù
nơi
Mẹ
không
có
gì
là
tì
vết
của
nguyên
tội
xấu
xa
đáng
phải
bỏ
đi
như
nơi
chúng
ta
là
những
người
bị
nhiễm
mắc
nguyên
tội.
Abraham
đem
đứa
con
của
lời
hứa
duy
nhất
dấu
yêu
trên
hết
mọi
sự
của
mình
đi
giết
để
tế
lễ
Chúa,
Đấng
ban
người
con
đó
cho
ông
để
làm
cho
ông,
lúc
ông
không
còn
khả
năng
sinh
sản
theo
tự
nhiên,
trở
nên
tổ
phụ
của
một
dân
tộc
hằng
hà
vô
số
như
sao
trời,
như
cát
biển,
(x.STK
15:5;18:11-12;21:1;22:2,17-18)
theo
như
ý
Chúa
muốn
thế
nào,
Mẹ
Maria
cũng
đã
hy
hiến
cho
Thiên
Chúa
ý
muốn
rất
trọn
lành
và
tha
thiết
nhất
trên
đời
của
Mẹ
là
trọn
đời
giữ
mình
đồng
trinh
hiến
thân
cho
một
mình
Thiên
Chúa
vô
cùng
chí
tôn,
chí
ái,
như
vậy.
Qua
lời
Mẹ
Maria
thưa
với
sứ
thần
của
Thiên
Chúa:
“Việc
ấy
xẩy
ra
thế
nào
được,
vì
tôi
không
hề
biết
đến
nam
nhân”
(Lc
1:34),
đã
đủ
nói
lên
lòng
Mẹ
kính
mến
Chúa
trên
hết
mọi
sự
là
dường
nào.
Bởi
vì,
trong
Trái
Tim
của
Mẹ,
không
hề
có
một
hình
bóng
của
bất
cứ
tạo
vật
nào,
mà
“nam
nhân”
là
hiện
thân.
Mẹ
Maria
không
thưa
với
sứ
thần:
“...vì
tôi
giữ
mình
đồng
trinh”,
một
câu
phát
biểu
chỉ
diễn
tả
cuộc
sống
đồng
trinh
bề
ngoài
mà
thôi,
song
chưa
chắc
bề
trong
đã
hoàn
toàn
trinh
khiết,
bởi
những
vương
vấn,
những
xao
xuyến
hoặc
những
khát
khao
thầm
kín
đôi
khi
không
làm
được,
như
trường
hợp
bất
lực
về
thể
lý,
“hoạn
nhân
do
người
ta
làm
ra”
(Mt
19:12),
hoặc
nhiều
khi
không
được
làm,
như
trường
hợp
phải
giữ
luân
lý
hay
đạo
lý
kẻo
bị
lương
tâm
cắn
rứt
hay
người
đới
cười
chê
v.v.
Nếu
không
một
ai
trên
đời
này
có
thể
hiểu
biết
Thiên
Chúa
vô
cùng
chí
tôn,
chí
ái
hơn
Mẹ
Maria
hay
như
Mẹ
Maria,
thì
cũng
không
một
ai
có
thể
kính
mến
Ngài
như
Mẹ
và
hơn
Mẹ
được.
Được
đặc
ân
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
ngay
từ
khi
đầu
thai
trong
lòng
mẹ
của
mình,
trí
khôn
của
Mẹ
không
hề
bị
bóng
tối
sự
chết
và
tội
lỗi
làm
cho
mù
quáng
và
trở
nên
vô
tri
như
nơi
chúng
ta,
trái
lại,
linh
hồn
của
Mẹ
đã
được
“đầy
ơn
phúc”
(Lc
1:28),
được
“Thiên
Chúa
là
Ánh
Sáng”
(1Gn
1:5)
ở
cùng
ngay
từ
đầu,
do
đó,
trí
khôn
Mẹ
đã
được
“ánh
sáng
ban
sự
sống”
(Gn
8:12)
làm
chủ
và
soi
dẫn.
Với
ơn
khôn
ngoan
của
Chúa
Thánh
Linh,
“Đấng
dò
thấu
mọi
sự
sâu
nhiệm
nơi
Thiên
Chúa”
(1Cor
2:10),
Mẹ
đã
nhận
biết
Thiên
Chúa
như
Thiên
Chúa
biết
Mình
Ngài.
Dĩ
nhiên,
vì
không
phải
là
chính
Thiên
Chúa,
Mẹ
Maria
không
thể
nào
biết
Thiên
Chúa
“như”
Ngài
biết
Mình
Ngài.
Bởi
thế,
ý
nghĩa
của
chữ
“như”
ở
đây
phải
hiểu
theo
nghĩa
“hãy
nên
trọn
lành
'như'’
Cha
các
con
trên
trời”,
tức
Mẹ
Maria
đã
biết
Thiên
Chúa
hết
khả
năng
mà
loài
người
có
thể
được
Thiên
Chúa
ban
cho
để
biết
Ngài.
Và,
vì
được
biết
Thiên
Chúa
“như”
Ngài
biết
Mình
Ngài
như
thế,
Mẹ
Maria
cũng
đã
không
thể
nào
không
yêu
Ngài
“như”
Ngài
yêu
chính
Mình
Ngài.
Tuy
nhiên,
nếu
Mẹ
Maria
chỉ
nhất
quyết
giữ
ý
muốn
tốt
lành
của
Mẹ
trong
việc
giữ
mình
đồng
trinh
vì
yêu
mến
Thiên
Chúa
trên
hết
mọi
sự,
mà
không
sẵn
sàng
thưa
“Xin
Vâng”ý
của
Thiên
Chúa
muốn
Mẹ
làm
Mẹ
Ngôi
Lời
nhập
thể,
một
thiên
chức
hoàn
toàn
trái
nghịch
lại
với
bản
chất
và
khả
năng
“không
hề
biết
đến
nam
nhân”
của
Mẹ,
thì
Mẹ
đã
không
yêu
Thiên
Chúa
“như”
Ngài
yêu
chính
Mình
Ngài.
Thực
tế
đã
xẩy
ra
khác
hẳn,
Mẹ
Maria
thực
sự
đã
yêu
Thiên
Chúa
“như”
Ngài
yêu
chính
Mình
Ngài
khi
Mẹ
thưa
“Xin
Vâng”,
để
chấp
nhận
Ngôi
Lời
nhập
thể
là
“hiện
thân
đích
thực
của
bản
thể
Cha”
(DT
1:
3)
được
ban
trực
tiếp
cho
Mẹ
trước
rồi
nhờ
Mẹ
và
qua
Mẹ
cho
loài
người
sau.
“Thiên
Chúa
đã
yêu
thế
gian
đến
nỗi
đã
ban
Con
Một
của
Mình”
(Gn
3:16)
thế
nào,
thì
Mẹ
Maria
cũng
yêu
Thiên
Chúa
là
Cứu
Chúa
của
Mẹ
nơi
Chúa
Giêsu
Kitô,
Con
Mẹ,
như
vậy,
khi
“Xin
Vâng”
cộng
tác
với
Ngài
trong
việc
ban
Ngài
cho
thế
gian.
Thế
nhưng,
Mẹ
Maria
vẫn
chưa
yêu
Thiên
Chúa
“như”
Ngài
yêu
chính
Mình
Ngài,
nếu,
sau
khi
chấp
nhận
Thiên
Chúa
nhập
thể
trong
lòng
trinh
nguyên
của
mình,
Mẹ
lại
giữ
Ngài
cho
một
mình
Mẹ
thôi,
không
chịu
hay
không
hợp
tác
với
Ngài
trong
việc
cứu
chuộc
thế
gian,
đúng
như
chương
trình
cứu
độ
của
Thiên
Chúa.
Thánh
Phêrô
đã
chẳng
muốn
giữ
Thày
của
mình
cho
riêng
ngài
cũng
như
cho
chung
nhóm
tông
đồ
của
ngài
hay
sao,
khi
ngài
thành
thực
can
ngăn
Thày
trong
việc
Thày
phải
chịu
số
phận
tử
giá
mà
Thiên
Chúa
đã
định
cho
Thày
(x.Mt
16:21-23).
Kết
quả
là
ngài
đã
bị
Thày
trách
mắng
hết
sức
thậm
tệ.
Trái
lại,
bởi
biết
Thiên
Chúa
“như”
Ngài
biết
Mình
Ngài,
Mẹ
Maria
đã
“phán
đoán
đúng
như
Thiên
Chúa”
(Mt
16:23)
khi
“Xin
Vâng”
hiến
dâng
chính
Con
Duy
Nhất
dấu
yêu
hơn
sự
sống
của
Mẹ
mà
Thiên
Chúa
đã
ban
cho
Mẹ
để
Mẹ
dâng
lại
cho
Chúa
vì
phần
rỗi
nhân
loại,
khi
“đứng
dưới
chân
thập
giá
Chúa
Giêsu”
(Gn
19:25).
Chính
tác
động
hy
hiến
Con
cho
Thiên
Chúa
này
đã
chứng
tỏ
Mẹ
yêu
Chúa
Giêsu
là
Thiên
Chúa,
Cứu
Chúa
của
Mẹ
như
thế
nào.
Như
thế,
Khi
“không
hề
biết
đến
nam
nhân”,
Mẹ
đã
yêu
Thiên
Chúa
trên
hết
mọi
sự.
Khi
bỏ
ý
muốn
giữ
mình
đồng
trinh
của
mình
để
“Xin
Vâng”
làm
Mẹ
Ngôi
Lời
nhập
thể,
Mẹ
đã
yêu
Thiên
Chúa
hơn
chính
mình
Mẹ.
Khi
“đứng
dưới
chân
thập
giá
Chúa
Giêsu”
để
hiến
dâng
Ngài
là
Người-Con-Thiên-Chúa
của
Mẹ
cho
Thiên
Chúa,
Mẹ
đã
yêu
Thiên
Chúa
“như”
Ngài
yêu
chính
Mình
Ngài.
Quả
thực
Trái
Tim
Mẹ
là
biểu
hiệu
cho
“Tình
Yêu
tha
thiết
nhất
của
Mẹ
đối
với
Chúa
Giêsu,
Đấng
vừa
là
Chúa
vừa
là
Con
của
Mẹ”.
Trái
Tim
Mẹ
là
biểu
hiệu
cho
“sự
dịu
dàng
từ
mẫu
của
Mẹ
đối
với
con
người
được
Máu
Thần
Linh
của
Chúa
Giêsu
cứu
chuộc”.
Về
ý
nghĩa
và
biểu
hiệu
sau
cùng
này
của
Trái
Tim
Mẹ,
trong
bài
giảng
tại
Fatima
ngày
13/5/1982,
Đức
Thánh
Cha
Gioan-Phaolô
II
đã
diễn
tả
một
cách
hết
sức
sâu
sắc
và
đầy
đủ
như
sau:
“Khi
tử
nạn
trên
thập
giá,
Chúa
Giêsu
đã
nói
với
thánh
Gioan:
'Này
là
Mẹ
con'
(Gn
19:26),
và
khi
'môn
đệ
đem
Người
về
nhà
mình',
mầu
nhiệm
làm
mẹ
thiêng
liêng
của
Mẹ
Maria
được
hiện
thực
hoá
cách
vô
hạn
trong
lịch
sử
nhân
loại.
Làm
mẹ
tức
là
săn
sóc
đến
đời
sống
của
con
cái.
Vì
Mẹ
Maria
là
Mẹ
của
tất
cả
chúng
ta,
việc
chăm
sóc
của
Mẹ
đối
với
đời
sống
con
người
có
tính
cách
đại
đồng.
Sự
chăm
sóc
của
mẹ
ôm
ấp
toàn
thể
đứa
con
của
mình.
Việc
làm
mẹ
của
Mẹ
Maria
bắt
nguồn
từ
sự
chăm
sóc
của
Mẹ
đối
với
Chúa
Giêsu.
Trong
Chúa
Giêsu,
dưới
chân
thập
giá,
Mẹ
đã
chấp
nhận
thánh
Gioan,
và
nơi
thánh
Gioan,
Người
đã
chấp
nhận
tất
cả
chúng
ta
một
cách
trọn
vẹn.
Mẹ
Maria
đặc
biệt
quan
tâm
ấp
ủ
tất
cả
chúng
ta
trong
Chúa
Thánh
Linh...
“Khi
ở
trên
thập
giá,
Chúa
Giêsu
nói:
'Thưa
Bà,
này
là
con
Bà'
(Gn
19:26),
là
Ngài,
bằng
một
kiểu
cách
mới,
đã
mở
Trái
Tim
của
Mẹ
Ngài
ra,
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội,
và
tỏ
cho
Trái
Tim
Mẹ
những
kích
thước
và
chiều
hướng
mới
của
tình
yêu
mà,
bởi
quyền
năng
của
hy
sinh
thập
tự,
Mẹ
đã
được
kêu
gọi
trong
Thánh
Linh.
Chúng
ta
dường
như
thấy
được
chiều
kích
của
tình
mẫu
tử
này
nơi
sứ
điệp
Fatima,
một
tình
mẫu
tử
mà
giới
hạn
của
nó
đã
bao
trọn
con
đường
của
nhân
loại
tiến
đến
với
Thiên
Chúa,
con
đường
dẫn
vượt
qua
thế
giới
này
và
vượt
cả
ra
ngoài
thế
giới
này,
xuyên
luyện
ngục.
Sự
quan
tâm
của
Mẹ
Chúa
Cứu
Thế
là
sự
quan
tâm
cho
công
cuộc
cứu
rỗi,
công
cuộc
của
Con
Mẹ.
Đó
là
một
quan
tâm
đối
với
sự
cứu
độ,
sự
cứu
độ
đời
đời,
của
tất
cả
mọi
người.
Đến
nay
đã
65
năm
trôi
qua
từ
ngày
13
tháng
5
năm
1917,
nhưng
vẫn
khó
lòng
mà
bất
khả
ngộ
trước
giới
hạn
tình
yêu
cứu
độ
của
Mẹ
hằng
ôm
ấp
thế
kỷ
của
chúng
ta
một
cách
chuyên
biệt
là
dường
nào.
Trong
ánh
sáng
của
tình
mẫu
tử
này,
chúng
ta
hiểu
được
trọn
vẹn
sứ
điệp
của
Mẹ
Fatima...
Có
thể
nào
Mẹ
là
Đấng,
với
tất
cả
quyền
năng
của
tình
yêu
được
nung
nấu
trong
Thánh
Linh,
hằng
muốn
ơn
cứu
rỗi
cho
mọi
người
lại
có
thể
khoanh
tay
ngồi
nhìn
ơn
cứu
độ
của
họ
đang
bị
mai
một
từ
căn
bản?
Không,
Mẹ
làm
sao
để
xẩy
ra
như
vậy
được.
“Bởi
thế,
sứ
điệp
của
Mẹ
Fatima
trong
khi
là
một
sứ
điệp
từ
mẫu,
nó
còn
có
tính
cách
mạnh
mẽ
và
quyết
liệt
nữa.
Nó
có
vẻ
khẩn
trương.
Nó
có
vẻ
giống
như
của
thánh
Gioan
Tẩy
Giả
trên
bờ
sông
Gióc-Đan.
Nó
kêu
gọi
hối
cải.
Nó
báo
trước
cho
biết.
Nó
kêu
gọi
cầu
nguyện.
Nó
đề
cập
đến
kinh
Mân
Côi.
Sứ
điệp
được
gửi
đến
mọi
người.
Tình
yêu
của
Mẹ
Chúa
Cứu
Thế
lan
đến
mọi
nơi
có
sự
tác
động
của
ơn
cứu
độ.
Sự
chăm
sóc
của
Mẹ
vươn
đến
từng
cá
nhân
ở
thời
đại
của
chúng
ta,
cũng
như
cho
tất
cả
mọi
xã
hội,
mọi
quốc
gia,
mọi
dân
tộc.
“Trên
thập
giá,
Chúa
Kitô
nói:
‘Thưa
bà,
này
là
con
Bà!’.
Bằng
những
lời
này,
Ngài
đã
mở
Trái
Tim
Mẹ
của
Ngài
ra
theo
một
đường
lối
mới.
Sau
đó
chút
xíu,
lưỡi
đòng
của
người
lính
Rôma
đã
đâm
vào
cạnh
sườn
của
Đấng
bị
đóng
đanh.
Trái
Tim
bị
đâm
thâu
đó
đã
trở
nên
biểu
chứng
của
ơn
cứu
độ
đạt
được
nhờ
cuộc
tử
nạn
của
Con
Chiên
Thiên
Chúa.
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
Maria,
được
mở
ra
với
những
lời
'Thưa
Bà,
này
là
con
Bà',
đã
được
hiệp
nhất,
một
cách
linh
thiêng,
với
Trái
Tim
Con
của
Người,
Trái
Tim
được
mở
ra
bởi
lưỡi
đòng
của
một
người
lính.
Trái
Tim
của
Mẹ
Maria
được
mở
ra
bởi
cùng
một
tình
yêu
mà
Chúa
Kitô
đã
yêu
con
người
và
thế
giới,
khi
Ngài
hiến
mình
trên
thập
giá
vì
họ,
cho
đến
khi
lưỡi
đòng
của
người
lính
đâm
vào
làm
cho
tuôn
trào
ra”
(FAOS:77,79-80).