CUỘC
HIỆN
RA
Ở
FATIMA
1
Thiên
Thần
Dọn
Đường
Năm
1915,
Lúcia
dos
Santos
một
cô
bé
mập
mạp
tám
tuổi,
thuộc
xóm
Aljustrel,
giáo
xứ
Fátima,
đang
chăn
cừu
ở
sườn
Núi
Cabeco.
Cùng
với
Lúcia
có
ba
người
bạn
trẻ
từ
Casa
Velha:
Maria
Rosa
Matias
và
em
là
Teresa,
và
Maria
Justino.
Ăn
trưa
xong
và
trung
thành
với
truyền
thống
mến
Đức
Mẹ
của
vùng
Fátima,
bốn
cô
bé
bắt
đầu
đọc
terco
(cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi).
Chính
lúc
đó,
các
bé
thấy
một
đám
mây
lạ,
trắng
hơn
tuyết,
bay
là
là
trên
ngọn
cây
trong
thung
lũng
phía
dưới
chân
các
bé.
Đám
mây
kỳ
lạ
này
trong
suốt
và
có
hình
dáng
một
người.
Cả
Lúcia
và
ba
cô
bạn
đều
không
thể
nhận
rõ
được
đó
là
gì.
Khi
mẹ
của
Lúcia,
bà
Maria
Rosa,
nghe
biết
sự
việc,
bà
lập
tức
bác
bỏ:
“lời
nói
xàm
của
con
nhỏ
khùng!”
các
cô
con
gái
khác
của
bà
cũng
chia
sẻ
sự
khước
tín
này
và
chế
diễu
bé
em
của
họ.
Ít
lâu
sau,
Lúcia
chứng
kiến
cũng
hiện
tượng
này
lần
thứ
nhì,
tại
cũng
một
nơi
và
cùng
một
cách.
Đến
gần
cuối
năm
1915,
cũng
chính
bóng
mây
lạ
đó
lại
xuất
hiện
lần
thứ
ba.
Lúcia
được
chìa
khóa
mở
bí
mật
đám
mây
lạ
này
năm
1916,
khi
thiên
thần,
chính
thiên
thần
hiện
ra
rõ
ràng
với
cô
ba
lần.
Lần
thứ
nhất,
thiên
thần
hiện
ra
vào
mùa
xuân,
khi
Lúcia
và
hai
bé
em
bà
con,
Jacinta
và
Francisco
Marto,
đang
chăn
cừu
của
gia
đình
tại
Chousa
Velha,
cánh
đồng
thuộc
tài
sản
gia
đình
Lúcia,
ở
phía
đông
Núi
Cabeco.
Khoảng
nửa
buổi
sáng,
lớp
mưa
sương
rất
nhẹ
bắt
đầu
rơi.
Các
bé
chạy
ngược
lên
sườn
Núi
Cabeco
để
tìm
chỗ
trú
giữa
các
tảng
đá,
tới
một
hốc
đá
không
có
mái
che,
sâu
vào
khoảng
một
thước,
khuất
sau
vườn
cây
ô
liu
thuộc
sở
hữu
của
ông
Anastacio,
cha
đỡ
đầu
của
Lúcia.
Mặc
dầu
chưa
bao
giờ
vào
hốc
đá
này,
bây
giờ
các
bé
bước
hẳn
vào
trong.
Những
vách
đá
lởm
chởm,
có
chỗ
cao
tới
hai
mètres,
che
đỡ
đám
sương
mưa
đang
thổi
tới.
Các
bé
rất
thích
chỗ
này,
nên
khi
mưa
tạnh
trời
lại
sáng
vào
khoảng
trưa,
các
bé
vẫn
chơi
đùa
ở
chỗ
này.
Và
chính
tại
đây
thiên
thần
hiện
ra
với
các
bé.
Ăn
trưa
và
cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi
xong,
các
bé
chơi
bỏ
hột
ở
cửa
hốc
đá.
Và
lúc
này
thiên
thần
hiện
ra.
Vừa
chơi
được
vài
phút,
các
bé
nghe
tiếng
ào
ào
của
cơn
gió
mạnh.
Những
cây
ô
liu
ở
phía
dưới
vật
vờ
kêu
rắc
rắc.
Vì
trời
lúc
đó
êm,
các
bé
ngở
ngàng
nhìn
lên
trời.
Ngạc
nhiên
ban
đầu
nhường
chỗ
cho
kinh
ngạc
và
sợ
hãi.
Trên
không
trung,
cách
chỗ
các
bé
một
khoảng,
làn
ánh
sáng
hết
sức
kỳ
lạ
xuất
hiện.
Làn
ánh
sáng,
trắng
hơn
tuyết,
hướng
về
phía
các
bé.
Lặng
lẽ,
bầu
ánh
sáng
lướt
qua
thung
lũng,
trên
các
ngọn
cây
phía
dưới
chỗ
các
bé
đang
đứng
và
chạy
dài
về
hướng
đông.
Ở
giữa
làn
ánh
sáng
kỳ
lạ,
các
bé
nhận
ra
hình
dáng
một
thanh
niên.
Thanh
niên
này
cũng
vậy,
trắng
hơn
tuyết
và
trong
suốt,
phát
ra
hào
quang
sáng
chói,
giống
như
pho
tượng
bằng
pha
lê
lóng
lánh
do
ánh
sáng
mặt
trời
xuyên
qua.
Lucia
nhận
ra
thanh
niên
này
chính
người
khách
kỳ
bí
cô
bé
đã
thấy
ba
lần
trước.
Khi
hình
dáng
trong
suốt
đó
càng
lúc
càng
tới
gần,
các
bé
nhận
rõ
vóc
dáng
và
tuổi
tác
của
thanh
niên.
Thanh
niên
này
tuổi
trạc
mười
bốn
hoặc
mười
lăm,
và
chưa
bao
giờ
các
bé
thấy
người
nào
có
vẻ
khôi
ngô
tuấn
tú
như
cậu
ta.
Mặc
dầu
mừng
rỡ
vì
vẻ
rực
rỡ
sáng
chói
của
người
khách
có
hào
quang,
các
bé
vẫn
sợ
hãi
và
không
dám
nói.
Chính
thanh
niên
đã
phá
tan
sự
im
lặng
khi
cậu
dừng
lại
rất
gần
các
bé
ở
chỗ
ra
vào
hốc
đá.
Những
lời
đầu
tiên
cậu
ta
nói
với
các
bé:
“Các
bé
đừng
sợ.
Tôi
là
Thiên
Thần
Hòa
Bình.
Các
bé
hãy
cầu
nguyện
chung
với
tôi.”
Nói
xong,
thiên
thần
quỳ
phục
xuống,
sấp
mình
tới
khi
trán
chạm
đất.
Được
thúc
đẩy
bởi
sức
mạnh
siêu
nhiên,
Lúcia
và
Jacinta
bắc
chước
thiên
thần
và
lặp
lại
những
lời
các
bé
nghe
thiên
thần
dâng
lên:
“Lạy
Thiên
Chúa,
con
tin,
con
thờ
lạy,
con
trông
cậy,
và
con
yêu
mến
Chúa.
Con
tha
thiết
xin
Chúa
tha
thứ
cho
những
kẻ
không
tin,
không
thờ
lạy,
không
cậy
trông,
và
không
yêu
mến
Chúa.”
Thiên
thần
đọc
lời
cầu
nguyện
ba
lần,
rồi
đứng
dậy
nói:
“Các
bé
hãy
cầu
nguyện
như
vậy.
Thánh
Tâm
Chúa
Giêsu
và
Đức
Mẹ
Maria
lắng
nghe
lời
các
bé
cầu
nguyện.”
Rồi
thiên
thần
biến
đi.
Việc
Thiên
Thần
Hòa
Bình
hiện
ra
có
mãnh
lực
hết
sức
siêu
nhiên
và
xúc
động
đến
độ
Lúcia
và
hai
bé
em
họ
thực
sự
ngây
ngất
khá
lâu.
Ở
tư
thế
phủ
phục,
các
bé
vẫn
quỳ
từ
lúc
thiên
thần
biến
đi,
Lúcia
và
Jacinta
tiếp
tục
đọc
đi
đọc
lại
lời
cầu
nguyện
thiên
thần
dạy,
cho
tới
khi
mệt
nhoài.
Dẫu
thanh
niên
tuấn
tú
đó
không
nói
mình
là
thiên
thần,
các
bé
cũng
không
chút
khó
khăn
nhận
ra
cậu
ta
từ
trời
đến.
Các
bé
cảm
thấy
được
Chúa
chiếm
hữu
trong
suốt
thời
gian
thiên
thần
viếng
thăm.
Việc
Chúa
hiện
diện
không
thể
diễn
tả
và
xác
thực
không
thể
lầm
lẫn,
thấm
sâu
vào
tâm
hồn
và
toàn
thân
các
bé.
Sự
việc
quá
hiển
nhiên
đến
nỗi
các
bé
không
dám
nói,
dù
với
nhau,
suốt
thời
gian
còn
lại
của
ngày
khó
quên
này,
và
suốt
tuần
lễ
kế
tiếp
các
bé
vẫn
còn
sống
trong
cảm
giác
lâng
lâng,
cảm
giác
này
chỉ
loãng
đi
từ
từ.
Cảm
giác
này
hết
sức
thân
thiết
và
thánh
thiện
không
một
bé
nào
nghĩ
tới
việc
tiết
lộ
dẫu
chỉ
một
chút
với
bất
cứ
ai.
Các
bé
chỉ
muốn
giữ
riêng
cho
mình.
Các
bé
được
thuyết
phục
tuyệt
đối
rõ
ràng
như
thế.
Các
bé
chỉ
nói
với
nhau
nhưng
hết
sức
dè
dặt
về
sự
kiện
hân
hoan
trong
ngày
đáng
ghi
nhớ
đó.
Jacinta,
Francisco
và
Lúcia
đang
lặng
lẽ
chơi
trên
bờ
giếng
dưới
chân
vườn
thoai
thoải
phía
sau
nhà
gia
đình
Santos.
Hôm
đó
là
ngày
giữa
mùa
hè
nóng
bỏng,
một
trong
những
ngày
nóng
nhất
năm
1916,
các
bé
thường
dẫn
cừu
về
nhà
từ
khoảng
9
hoặc
10
giờ
sáng
cho
tới
xế
chiều
để
tránh
cho
cừu
khỏi
cái
nóng
cháy
lúc
trưa.
Không
một
dấu
hiệu
báo
trước,
ba
cô
cậu
bé
dễ
thương
lúc
nào
cũng
ở
bên
nhau
này
bất
chợt
thấy
mình
đối
diện
với
Thiên
Thần
Hòa
Bình,
thiên
thần
ở
Núi
Cabeco.
Thiên
Thần
hỏi:
“Các
bé
đang
làm
gì
đó?
Các
bé
hãy
cầu
nguyện,
cầu
nguyện
thật
nhiều!
Thánh
Tâm
Chúa
Giêsu
và
Đức
Maria
thương
các
bé.
Các
bé
hãy
liên
tục
dâng
lời
cầu
nguyện
và
hy
sinh
lên
Thiên
Chúa
Tối
Cao.”
Không
hiểu
lời
yêu
cầu
chót
của
thiên
thần,
Lúcia
hỏi
ngay:
“Làm
cách
nào
chúng
con
dâng
được
các
hy
sinh?”
“Các
bé
hy
sinh
trong
bất
cứ
điều
gì
các
bé
có
thể,
và
dâng
lên
Thiên
Chúa
làm
của
lễ
đền
tạ
vì
các
tội
lỗi
đã
xúc
phạm
đến
Thiên
Chúa
và
làm
của
lễ
cầu
xin
cho
các
kẻ
tội
lỗi
ăn
năn
trở
lại.
Bằng
cách
này,
các
bé
xin
được
hòa
bình
cho
quê
hương
các
bé.
Tôi
là
Thiên
Thần
Bảo
Vệ,
Thiên
Thần
của
Portugal
(nước
Bồ-đào-nha).
Trên
hết,
các
bé
hãy
tiếp
nhận
và
vâng
chịu
những
đau
khổ
Chúa
sẽ
gởi
đến
cho
các
bé.”
Rồi,
bất
chợt
cũng
như
lúc
hiện
ra,
thiên
thần
biến
đi.
Cũng
như
lần
trước,
các
bé
xúc
động
và
ngây
ngất
vì
sức
siêu
nhiên
trấn
áp
của
lần
thiên
thần
hiện
ra
này.
Chính
Francisco
là
người
đầu
tiên
làm
cho
Lúcia
ý
thức
rõ
rệt
cô
bé
ngất
trí
và
kiệt
quệ
thể
xác
tới
mức
nào.
Cậu
bé
này,
vì
lý
do
khác
thường
nào
đó,
chỉ
nhìn
thấy
thiên
thần
nhưng
không
nghe
được
những
lời
thiên
thần
nói.
Dĩ
nhiên
cậu
ta
thực
sự
chứng
kiến
cả
hai
lần
thiên
thần
hiện
ra.
Mãi
đến
xế
chiều,
khi
những
hiệu
lực
đầu
tiên
của
việc
thiên
thần
hiện
ra
bắt
đầu
tan
loãng
và
các
bé
lại
bắt
đầu
chơi
đùa,
Francisco
mới
hỏi
Lúcia
thiên
thần
nói
những
gì.
Lúcia
cảm
thấy
miễn
cưỡng
không
thể
giải
thích
được
khi
phải
nói
đến
điều
này
và
bảo
Francisco
ráng
chờ
tới
ngày
hôm
sau
hoặc
hỏi
em
Jacinta.
Francisco
thực
hiện
ngay
ý
kiến
thứ
nhì
của
Lúcia.
Nhưng
Jacinta
cũng
bị
lôi
cuốn
hết
sức
mãnh
liệt
siêu
nhiên,
và
như
Lúcia,
cô
bé
trả
lời:
“Sáng
mai
em
sẽ
nói
cho
anh
nghe.
Hôm
nay
em
không
thể
nào
nói
được.”
Tội
nghiệp,
Francisco
đành
phải
chờ
đợi
vậy.
Hôm
sau,
khi
gặp
Lúcia,
cậu
bé
hỏi
ngay:
“Đêm
qua
chị
có
ngủ
không?
Lúc
nào
em
cũng
nghĩ
tới
thiên
thần
và
những
lời
thiên
thần
nói
với
chị.”
Mãi
tới
lúc
này
Lúcia
mới
kể
cho
cậu
ta
nghe
những
lời
thiên
thần
đã
nói
trong
hai
lần
hiện
ra.
Francisco
thấy
nhiều
điều
trong
sứ
điệp
thiên
thần
nói
vượt
quá
tầm
hiểu
biết
đối
với
tầm
tuổi
đời
của
cậu,
cậu
hỏi
Lúcia:
“Đấng
Tối
Cao
là
Ai
vậy?
...
Thánh
Tâm
Chúa
Giêsu
và
Đức
Maria
lắng
nghe
lời
cầu
nguyện
của
các
bé
nghĩa
là
gì?”
Lúcia
trả
lời
với
hết
khả
năng
của
cô
nhưng
không
hoàn
toàn
thỏa
mãn
được
cậu
em
họ,
và
cậu
ta
lại
hỏi
tiếp.
Tâm
trí
Lúcia
vẫn
còn
trong
ảnh
hưởng
siêu
nhiên,
chưa
hoàn
toàn
bình
thường.
Cảm
thấy
không
thể
nói,
Lúcia
bảo
Francisco
chờ
tới
hôm
sau
cô
bé
sẽ
trả
lời.
Bé
Jacinta
cũng
chia
sẻ
ý
kiến
của
Lúcia,
nên
khi
Francisco
trở
lại
hỏi
thêm,
bé
cao
giọng
phản
đối:
“Coi
chừng,
không
nên
nói
nhiều
tới
những
điều
này.”
Các
bé
không
thể
nào
giải
thích
cảm
giác
của
mình
sau
khi
thiên
thần
viếng
thăm.
Jacinta
nói:
“Em
không
biết
điều
gì
xảy
ra
cho
em.
Em
không
thể
nói,
cũng
không
thể
nào
chơi
đùa,
ca
hát,
và
em
không
có
sức
làm
bất
cứ
điều
gì
nữa.”
Francisco
nói
thêm:
“Thiên
thần
hẳn
phải
hơn
tất
cả
những
thứ
đó
chứ.
Chúng
ta
hãy
nghĩ
tới
thiên
thần
đi.”
Các
bé
hết
sức
yêu
mến
thiên
thần
và
suy
gẫm
những
lời
thiên
thần
nói!
Nhất
là
những
lời
thiên
thần
nói
trong
lần
thứ
nhì.
Những
lời
này
như
ánh
sánh
soi
sáng
tâm
trí
các
bé,
làm
cho
các
bé
hiểu
được
Thiên
Chúa
là
Ai,
Thiên
Chúa
yêu
thương
các
bé
và
muốn
được
các
bé
yêu
thương
biết
chừng
nào,
các
bé
hiểu
được
giá
trị
của
hy
sinh,
hy
sinh
làm
đẹp
lòng
Thiên
Chúa
chừng
nào,
mà
nhờ
đó
Thiên
Chúa
cải
hóa
các
kẻ
tội
lỗi.
Sự
hiểu
biết
này
hết
sức
chân
thực
đến
độ,
từ
ngày
đó
trở
đi,
các
bé
khởi
sự
dâng
lên
Chúa
mọi
thứ
có
thể
hành
hạ
thân
xác
các
bé.
Tuy
nhiên,
các
bé
không
cần
phải
cố
gắng
phát
minh
những
hành
động
phạt
xác
hoặc
đền
tội.
Các
bé
chỉ
giản
dị
chấp
nhận
thánh
giá
Chúa
gởi
đến.
Hàng
động
đền
tội
tự
chọn
là
các
bé
nhận
chịu
điều
thiên
thần
dạy
trong
lần
thứ
nhất
hiện
ra:
sấp
mình
xuống
đất
dâng
lời
cầu
nguyện
mà
các
bé
rất
ưa
thích,
“Lạy
Chúa,
con
tin,
con
thờ
lạy,
con
trông
cậy,
và
con
yêu
mến
Chúa.
Con
nài
xin
Chúa
tha
thứ
cho
những
kẻ
không
tin,
không
thờ
lạy,
không
cậy
trông
và
không
yêu
mến
Chúa.”
Thường
thường
các
bé
quỳ
phủ
phục
hàng
giờ
đọc
đi
đọc
lại
lời
cầu
nguyện
đẹp
đẽ
đó
và
chỉ
ngưng
khi
nào
lưng
các
bé
đau
muốn
gẫy.
Trong
lần
kế
tiếp
hiện
ra
và
cũng
là
lần
chót,
thiên
thần
dạy
thêm
lời
cầu
nguyện
nữa
mà
từ
đó
các
bé
thường
dâng
chung
với
lời
cầu
nguyện
mà
thiên
thần
đã
dạy
trước.
Lời
cầu
nguyện
mới
dài
hơn
nhiều,
nhưng
các
bé
nhớ
không
chút
khó
khăn,
vì
những
lời
thiên
thần
luôn
có
sức
chế
ngự
mạnh
và
in
sâu
vào
tâm
trí
các
bé.
Thiên
thần
hiện
ra
lần
thứ
ba
và
khác
thường
nhất
vào
mùa
thu
cũng
năm
đó.
Lại
cũng
chính
hốc
đá
Núi
Cabeco
là
bối
cảnh
của
việc
huyền
nhiệm
sau
chót
này.
Ba
bé
mục
tử
cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi
và
lời
cầu
nguyện
thiên
thần
dạy
lần
thứ
nhất
xong.
Bất
thình
lình
sứ
giả
thiên
quốc
hiện
ra
trước
mắt
các
bé.
Lần
này
vẻ
anh
tuấn
khôi
ngô
với
dáng
điệu
trẻ
trung
của
thiên
thần
không
làm
cho
các
bé
ngây
ngất
như
hai
lần
trước.
Thật
vậy,
thiên
thần
đem
theo
thứ
gì
lôi
cuốn
sự
chú
ý
của
các
bé.
Trong
tay
thiên
thần
là
Chén
Thánh,
và
trên
Chén
Thánh,
thiên
thần
cầm
Bánh
Thánh.
Từ
Bánh
Thánh
những
Giọt
Máu
nhỏ
(rơi)
vào
trong
Chén
Thánh.
Để
Chén
Thánh
và
Bánh
Thánh
trên
không
trung,
thiên
thần
quỳ
sấp
mình
xuống
đất
đọc
ba
lần
lời
cầu
nguyện
sau
đây:
“Lạy
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi
Cực
Thánh,
Chúa
Cha,
Chúa
Con
và
Chúa
Thánh
Linh,
con
thờ
lạy
Chúa
thâm
sâu
và
dâng
lên
Chúa
Thân
Xác,
Máu
và
Linh
Hồn
Cực
Châu
Báu
và
Thiên
Tính
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
hiện
diện
trong
các
Nhà
Chầu
(Nhà
Tạm)
trên
khắp
thế
giới,
để
đền
tạ
những
tội
xúc
phạm,
những
tội
bất
kính
và
hững
hờ
chính
Chúa
Giêsu
Kitô
bị
xúc
phạm.
Và
nhờ
công
nghiệp
vô
cùng
của
Trái
Tim
Cực
Thánh
Chúa
Giêsu
và
công
nghiệp
của
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
Maria,
con
nài
xin
Chúa
cải
hóa
các
kẻ
tội
lỗi
khốn
nạn.”
Rồi
thiên
thần
đứng
dậy,
cầm
Chén
Thánh
và
Bánh
Thanh,
đặt
Bánh
Thánh
vào
lưỡi
Lúcia.
Thiên
thần
cho
Jacinta
và
Francisco
uống
Máu
Thánh.
Khi
phân
phát
Mình
và
Máu
Thánh
Chúa
cho
ba
bé,
thiên
thần
nói:
“Các
bé
hãy
ăn
Mình
và
uống
Máu
Thánh
Chúa
Giêsu
Kitô
bị
loài
người
xúc
phạm
kinh
khủng.
Các
bé
hãy
làm
việc
đền
tạ
vì
tội
lỗi
nhân
loại
và
an
ủi
Thiên
Chúa
của
các
bé.”
Lần
nữa
thiên
thần
sấp
mình
xuống
đất
và
cùng
với
các
bé
dâng
lên
lời
cầu
nguyện:
“Lạy
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi
Cực
Thánh
...”
Sứ
mệnh
nơi
trần
thế
đã
hoàn
tất,
thiên
thần
biến
đi,
Đây
là
lần
chót
các
bé
thấy
thiên
thần.
Lần
này,
cũng
như
hai
lần
trước,
Francisco
không
được
đặc
ân
nghe
thiên
thần
nói.
Cậu
bé
cũng
vẫn
gặp
khó
khăn
trong
việc
hiểu
thấu
đáo
ý
nghĩa
những
việc
xảy
ra.
Do
đó,
cậu
hỏi
Lúcia
một
câu
khá
ngạc
nhiên:
“Chị
Lúcia
à,
thiên
thần
cho
chị
rước
Mình
Thánh
Chúa,
nhưng
cho
Jacinta
và
em
thứ
gì
vậy?”
Ngay
cả
Jacinta
cũng
ngạc
nhiên
vì
sự
kém
hiểu
biết
của
anh
cô
bé
và
Lúcia
chưa
kịp
trả
lời
thì
bé
Jacinta
đã
nói:
“Cũng
một
thứ,
Mình
Thánh
Chúa.
Anh
không
thấy
đó
là
Máu
từ
Bánh
Thánh
nhỏ
xuống
(rơi
xuống)
sao?”
Câu
trả
lời
của
bé
em
làm
cho
Francisco
hoàn
toàn
thỏa
mãn,
vì
câu
trả
lời
đó
cho
cậu
mấu
chốt
giải
thích
vấn
đề
khá
kỳ
bí
đối
với
cậu.
Francisco
nói:
“Bây
giờ
em
hiểu,
em
cảm
thấy
Chúa
ở
trong
em,
nhưng
không
biết
như
thế
nào.”
Rồi
quỳ
sấp
mình
xuống
đất
cùng
với
em
của
cậu
và
ở
tư
thế
đó
thật
lâu
đọc
đi
đọc
lại
lời
cầu
nguyện
thiên
thần
mới
dạy.
Sức
mạnh
siêu
nhiên
thúc
giục
các
bé
bắt
chước
những
việc
thiên
thần
làm:
quỳ
phủ
phục,
đọc
đi
đọc
lại
các
lời
thiên
thần
đã
đọc
là
điều
hoan
hỉ
và
không
cưỡng
lại
được.
Lời
cầu
nguyện
này
hết
sức
mãnh
liệt,
làm
cho
các
bé
ngây
ngất
và
hầu
như
tan
biến,
các
bé
thực
sự
mất
đi
khả
năng
sử
dụng
giác
quan.
Trong
những
ngày
sau
mỗi
lần
thiên
thần
hiện
ra,
cơ
thể
các
bé
hoạt
động
chẳng
khác
gì
được
hướng
dẫn
và
thúc
đẩy
bởi
sức
mạnh
siêu
nhiên.
Các
bé
được
hưởng
an
bình
và
hân
hoan,
những
cảm
giác
này
thực
sự
mà
nói,
chỉ
thuần
túy
trong
nội
tâm.
Trong
khi
tâm
trí
các
bé
say
sưa
tập
trung
vào
Thiên
Chúa,
sức
mạnh
huyền
bí
chi
phối
thân
xác
các
bé
đến
độ
làm
cho
các
bé
suy
nhược.
Các
bé
hững
hờ
với
vật
chất,
tan
biến
trong
sự
hiện
diện
của
Chúa,
không
thể
nói
ra
được.
2
Vị
Nữ
Lưu
Toàn
Ánh
Sáng
Ngày
Chúa
Nhật
có
nắng
rực
rỡ,
13
tháng
Năm
1917,
được
tiền
định
là
ngày
đáng
ghi
nhớ
từ
đây
về
sau
trong
lịch
sử
Giáo
Hội
Portugal
(Bồ-đào-nha).
Cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi
xong,
Lúcia
và
hai
bé
em
họ,
Jacinta
và
Francisco,
dẫn
đàn
cừu
đi
ngược
lên
sườn
đồi
phía
bắc
Cova
da
Iria,
nơi
có
đồng
cỏ
thuộc
sở
hữu
của
cha
cô
bé
Lúcia.
Khi
đàn
cừu
lặng
lẽ
gặm
cỏ
trên
đỉnh
đồi,
các
bé
đồng
loạt
nghĩ
đến
chơi
đùa.
Tính
rất
thích
những
môn
tranh
đua
của
Jacinta
thúc
đẩy
bé
nói
trước
nhất:
“Hôm
nay
chúng
ta
chơi
trò
chơi
gì
đây?”
Lúcia
đề
nghị:
“Trò
giả
trang.”
“Không,”
Jacinta
mau
mắn
trả
lời,
giọng
quyết
liệt.
Francisco
dò
ý:
“Vậy
chúng
ta
chơi
trò
làm
đầu
đuôi
thú
đi.”
Jacinta
lại
phản
đối:
“Không,
cũng
không
chơi
trò
đó.
Chúng
ta
đắp
bức
tường
quanh
bụi
cây
đàng
kia
kìa.
Chị
Lúcia
và
em
đi
kiếm
đá,
còn
anh
xây
tường.”
Francisco
thấy
thích
thú
nên
đồng
ý
ngay.
Lúcia
cũng
đồng
ý
vì
vốn
biết
từ
lâu
là
vô
ích
mà
còn
nguy
hiểm
nữa
nếu
chống
đối
môn
chơi
cô
em
họ
đã
chọn.
Chẳng
mấy
chốc,
một
bức
tường
nhỏ
lên
cao
dần
quanh
bụi
cây.
Trong
khi
hăng
say
làm
việc,
các
bé
đâu
có
biết
mười
một
năm
sau,
cũng
ngày
này,
ba
trăm
ngàn
người
sẽ
tụ
họp
tại
Cova
da
Iria
theo
dõi
vị
Đại
Diện
Giáo
Hội
Công
Giáo,
tại
chính
nơi
các
bé
đang
đắp
tường
hôm
nay,
làm
phép
viên
đá
góc
tường
của
một
trong
những
thánh
đường
đồ
sộ
nguy
nga
nhất
Portugal
(Bồ-đào-nha).
Thình
lình,
ánh
sáng
lóe
lên,
làm
sáng
rực
khu
đồi,
khiến
các
bé
ngưng
làm
việc
và
nhìn
nhau
như
hỏi.
Francisco
hỏi:
“Gì
thế,
chị
Lúcia?”
Lúcia
đáp:
“Chắc
đó
là
chớp.
Nhưng
kỳ
lạ,
trên
trời
không
một
bóng
mây.
Dẫu
vậy,
hẳn
có
trận
bão
phía
xa,
chúng
ta
nên
gom
cừu
lại
và
đi
về.”
Vốn
từng
nghe
theo
lời
khuyên
và
hướng
dẫn
của
cô
chị
họ
hơn
tuổi,
Jacinta
và
Fancisco
lập
tức
gom
cừu
lại.
Chẳng
mấy
lúc,
bầy
cừu
được
dẫn
đi
theo
hướng
tây
nam
trên
đường
về
Aljustrel.
Đi
khoảng
nửa
đường
xuống
hướng
tây
bắc
sườn
đồi
Cova
và
gần
cây
sồi
lớn
(ngày
nay
vẫn
còn
xanh
tươi),
một
làn
ánh
sáng
nữa
chớp
lên,
sáng
hơn
lần
đầu,
rực
sáng
cả
bầu
trời
và
khắp
vùng
quê
lân
cận,
làm
lóa
mắt
ba
bé
mục
tử.
Tim
các
bé
bắt
đầu
đập
mạnh,
ngực
phải
rướn
lên
cao,
các
bé
lùa
cừu
đi
mau
hơn.
Khi
các
bé,
từ
phía
bên
trái,
đi
tới
gần
khu
đất
phẳng
rộng,
bất
chợt
các
bé
phải
dừng
hẳn
lại,
vì
cách
các
bé
chừng
hai
mươi
ba
mètres,
các
bé
thấy
từ
cây
sồi
phát
ra
làn
ánh
sáng
hết
sức
chói
chang
khiến
các
bé
hầu
như
bị
mù.
Được
thúc
đẩy
đồng
loạt
từ
thâm
tâm,
các
bé
ngẩng
đầu
lên
nhìn
thẳng
trước
mặt.
Trái
tim
ngây
thơ
của
các
bé
như
ngưng
đập
vì
cảnh
hiện
ra
trước
mắt.
Một
vị
Nữ
Lưu
xin
đẹp
đứng
trên
đỉnh
những
nhánh
lá
cao
nhất
của
cây
sồi,
cây
sồi
này
cao
khoảng
hơn
một
mètres,
cách
trước
mặt
các
bé
chừng
một
mètre.
Vị
Nữ
Lưu
là
trung
tâm
bầu
ánh
sáng
rực
rỡ,
làn
ánh
sáng
từ
Vị
Nữ
Lưu
tỏa
ta
bao
bọc
cả
ba
bé.
Biết
các
bé
sợ
trận
bão
và
muốn
đi
về
nhà
mau,
Vị
Nữ
Lưu
lên
tiếng
trấn
an
và
giữ
các
bé
lại,
vì
Người
đến
với
một
thông
điệp
quan
trọng
sinh
tử.
Vị
Nữ
Lưu
nói:
“Các
con
đừng
sợ.
Ta
không
làm
hại
các
con
đâu.”
Được
trấn
an
do
âm
thanh
từ
mẫu
của
Vị
Nữ
Lưu
và
dáng
điệu
hiền
từ
cũng
như
lời
nói
của
Người,
các
bé
im
lặng
ngây
ngất
chiêm
ngưỡng
và
đắm
hồn
trong
vẻ
đẹp
thiên
quốc
đang
rực
sáng
trước
mắt.
Vị
Nữ
Lưu
trẻ
đẹp
này
mặc
áo
trắng,
chính
xác
hơn,
áo
bằng
ánh
sáng
trắng.
Vì
Vị
Nữ
Lưu
toàn
là
ánh
sáng
và
tỏa
ra
ánh
sáng,
trong
suốt
hơn
và
lóng
lánh
hơn
cái
tách
pha
lê
đầy
nước
tinh
khiết
nhất
phản
chiếu
ánh
sáng
mặt
trời
chói
lọi
nhất.
Nói
tóm
lại,
Vị
Nữ
Lưu
sáng
hơn
mặt
trời,
và
gương
mặt
Người
quá
sức
sáng
chói
đến
độ
thỉnh
thoảng
các
bé
phải
hạ
thấp
những
cặp
mắt
thẫn
thờ
xuống.
Toàn
hảo
mọi
vẻ,
mặc
dầu
cao
hơn
trung
bình,
vị
Nữ
Lưu
xinh
đẹp
tuyệt
vời,
thánh
thiêng
khôn
lường,
ngôn
ngữ
loài
người
không
thể
nào
diễn
tả.
Không
tạo
vật
nào
trên
trái
đất
này
sánh
với
Người
được.
Các
bé
chưa
bao
giờ
thấy
một
người
hoặc
bức
tranh
nào
có
thể
so
sánh
được
với
vị
khách
từ
trời
về
vẻ
kiều
diễm
và
duyên
dáng.
Dung
nhan
của
vị
Nữ
Lưu
gồm
những
nét
tuyệt
diệu
duyên
dáng
khôn
tả,
ánh
mắt
dịu
dàng
hiền
mẫu
hòa
với
vẻ
cương
nghị
nghiêm
trang
và
nét
buồn
vời
vợi.
Đầu
và
hai
vai
Người
hơi
nghiêng
về
phía
trước
hướng
vào
các
bé
phía
dưới
chân
Người.
Đôi
bàn
tay
xinh
đẹp
của
vị
Nữ
Lưu
chắp
lại
trước
ngực
trong
dáng
điệu
cầu
nguyện.
Chuỗi
Mân
Côi
quí
báu
có
cây
thánh
giá
trắng
tựa
bạch
ngọc
treo
thòng
xuống
qua
lòng
bàn
tay
và
lưng
bàn
tay
phải.
Vị
Nữ
Lưu
mặc
áo
dài
trắng
long
lanh
đơn
sơ,
không
có
cổ
áo,
cũng
không
có
cổ
tay
áo,
phủ
dài
tới
chân.
Mặc
dầu
thu
lại
ngang
thắt
lưng,
áo
dài
không
có
thắt
lưng
hoặc
khăn
thắt
ngang.
Tấm
áo
choàng
cũng
bằng
ánh
sáng
trắng
có
viền
xinh
xắn
hai
bên
và
dưới
gấu
bằng
đường
kim
tuyến
nổi
bật
trên
nền
ánh
sáng,
chẳng
khác
gì
một
tia
sáng
mặt
trời
lóng
lánh
hơn
các
tia
sáng
khác
phủ
trên
đầu,
qua
vai
và
mình.
Tuy
vậy,
trán
và
toàn
thể
phần
trước
áo
dài
lộ
ra
đầy
đủ.
Hai
đầu
dây,
như
hai
tia
sáng
mặt
trời
màu
vàng
sáng
chói
hơn
so
với
áo
dài
và
áo
choàng,
buông
lơi
từ
cổ
xuống
trước
ngực.
Hai
mối
dây
này
kết
lại
với
nhau,
bên
trên
thắt
lưng
một
chút,
thành
trái
cầu
nhỏ
lóng
lánh
sắc
vàng.
Xuống
phía
dưới,
dọc
giữa
áo
dài,
cách
gấu
khoảng
ba
mươi
phân,
có
ngôi
sao
vàng
lấp
lánh.
Đôi
chân
vị
Nữ
Lưu
để
trần,
cũng
như
mặt
và
hai
bàn
tay,
có
ánh
sáng
màu
da
thịt,
đặt
nhẹ
trên
ngọn
những
nhánh
lá
cây
sồi.
Vị
Nữ
Lưu
ánh
sáng
đứng
giữa
bầu
ánh
sáng
và
hoàn
toàn
được
ánh
sáng
bao
phủ.
Ngôn
ngữ
loài
người
hiển
nhiên
không
đủ
để
mô
tả
vị
Nữ
Lưu
này.
Bà
toàn
là
ánh
sáng.
Ánh
sáng
như
những
lớp
sóng
và
cho
người
ta
cảm
tưởng
ý
phục
của
Người
gợn
sóng.
Áo
dài
và
áo
choàng
tỏa
ra
những
làn
ánh
sáng
khác
nhau,
lớp
này
trên
lớp
kia.
Ánh
sáng
có
nhiều
mầu,
trắng,
vàng,
và
các
màu
khác
tùy
theo
cường
độ
màu
sắc
ánh
sáng
khác
nhau,
các
bé
phân
biệt
được
những
phần
khác
nhau
trên
thân
mình
và
y
phục,
mặt
và
tay,
áo
dài
và
áo
choàng
của
Người.
Sau
một
lúc
chiêm
ngưỡng
say
sưa,
Lúcia
mạnh
dạn
hỏi:
“Bà
từ
đâu
tới?
(Donde
é
vossemecê?)”
Vị
Nữ
Lưu
từ
ái
trả
lời:
“Ta
từ
thiên
đàng
đến.
(Eu
sou
do
cé.)”
Cô
bé
hỏi
tiếp:
“Và
Bà
muốn
con
làm
gì?”
“Ta
đến
xin
cả
ba
các
con
tới
đây
sáu
tháng
liên
tiếp,
vào
ngày
mười
ba
mỗi
tháng,
cũng
giờ
này.
Khi
đó
Ta
sẽ
cho
các
con
biết
Ta
là
Ai,
và
Ta
muốn
điều
gì.
Sau
đó
Ta
sẽ
trở
lại
đây
lần
thứ
bảy.”
Được
khích
lệ
rất
nhiều
do
sự
sẵn
sàng
và
nhân
từ
mà
vị
Nữ
Lưu
đã
trả
lời
cô
bé,
Lúcia
nôn
nóng
hỏi
thêm:
“Con
có
được
lên
thiên
đàng
không?”
“Có,
con
sẽ
được
lên
thiên
đàng.”
“Còn
Jacinta?”
“Có.”
“Còn
Francisco?”
“Nó
cũng
được
lên
thiên
đàng,
nhưng
nó
phải
cầu
nguyện
rất
nhiều
kinh
Mân
Côi.”
Hai
cô
gái
ở
Aljustrel
mới
chết
hồi
gần
đây.
Mặc
dù
cả
hai
đều
tương
đối
lớn
tuổi
hơn
Lúcia,
nhưng
cô
bé
biết
rõ
cả
hai,
vì
hai
cô
thường
đến
nhà
Lúcia
học
đan
với
chị
của
cô.
Có
lẽ
vị
Nữ
Lưu
nhân
từ
sẽ
vui
lòng
cho
biết
đôi
điều
về
hai
người
bạn
của
cô.
Lúcia
hỏi:
“Chị
Maria
das
Neves
có
ở
trên
thiên
đàng
không?”
“Có,”
vị
Nữ
Lưu
trả
lời.
“Còn
Amelia?”
“Cô
đó
sẽ
phải
ở
luyện
ngục
cho
tới
tận
thế.”
Sau
khi
trả
lời
các
câu
hỏi
của
Lúcia,
vị
Nữ
Lưu
đưa
ra
lời
yêu
cầu
quan
trọng:
“Các
con
có
vui
lòng
tận
hiến
cho
Thiên
Chúa
và
chịu
đau
khổ
Chúa
muốn
gởi
đến
cho
các
con,
để
đền
tạ
tội
lỗi
xúc
phạm
đến
Thiên
Chúa
và
van
xin
cho
kẻ
tội
lỗi
ăn
năn
trở
lại
không?”
Lúcia
thấy
những
lời
yêu
cầu
này
rất
giống
lời
thiên
thần
yêu
cầu
trong
lần
thứ
nhì
hiện
ra
năm
trước.
Biết
rằng
hai
bé
em
họ
của
cô
hoàn
toàn
đồng
ý,
Lúcia
trả
lời
không
chút
do
dự:
“Thưa
Bà,
chúng
con
vui
lòng!
(Sim,
queremos!)
”
Tuy
nhiên,
cô
bé
chẳng
ý
thức
được
bao
nhiêu
là
cô
và
hai
bạn
nhỏ
sẽ
sớm
phải
chịu
đau
khổ
chừng
nào.
Dĩ
nhiên,
Đức
Mẹ
biết
trước
những
đau
khổ
đang
chờ
các
bé,
và
theo
cách
Con
Chí
Thánh
của
Mẹ
đối
với
các
môn
đệ
được
tuyển
chọn,
Đức
Mẹ
nói
trước
những
thử
thách
và
đau
khổ
đang
chờ
đợi
các
bé
và
hứa
ban
ơn
phù
trợ.
Đức
Mẹ
nói
tiếp:
“Các
con
sẽ
phải
chịu
nhiều
đau
khổ,
nhưng
ơn
Chúa
sẽ
nâng
đỡ
an
ủi
các
con.”
Khi
nói
những
lời
này,
Đức
Mẹ
dang
rộng
hai
bàn
tay
theo
dáng
điệu
linh
mục
khi
nói:
“Chúa
ở
cùng
anh
chị
em!
(Dominus
vobiscum!)
”
trong
Thánh
Lễ
và
tỏa
ra
ánh
sáng
cực
mạnh
về
phía
các
bé
mục
tử.
Ánh
sáng
này
giống
như
phản
quang
từ
đôi
bàn
tay
chói
sáng
của
Đức
Mẹ
chiếu
ra.
Ánh
sáng
xuyên
qua
trái
tim
và
thấm
sâu
vào
linh
hồn
các
bé,
“làm
cho
các
bé
thấy
mình
đắm
chìm
trong
Thiên
Chúa,
Đấng
là
ánh
sáng,
rõ
ràng
như
qua
những
tấm
gương
trong
và
mạnh
nhất.”
Xúc
động
từ
đáy
lòng,
các
bé
quỳ
xuống
và
sốt
sắng
dâng
lời
nguyện:
“Ôi
lạy
Chúa
Ba
Ngôi
Cực
Thánh,
con
thờ
lạy
Chúa,
lạy
Chúa,
con
yêu
mến
Chúa
trong
Phép
Thánh
Thể!”
Lúc
sau,
Đức
Mẹ
nói
tiếp:
“Các
con
hãy
cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi
hằng
ngày,
để
xin
được
hòa
bình
và
chấm
dứt
chiến
tranh.”
Sứ
vụ
ngày
hôm
nay
hoàn
tất.
Đức
Mẹ
xinh
đẹp
tuyệt
vời
từ
từ
xoay
mình,
uy
nghi
và
lặng
lẽ
cất
mình
lên,
di
chuyển
không
động
chân
về
hướng
đông,
nơi
đây
Đức
Mẹ
khuất
dạng
vào
vũ
trụ
bao
la.
Ánh
sáng
lung
linh
bao
quanh
Đức
Mẹ
chẳng
khác
gì
mở
lối
Đức
Mẹ
đi
giữa
các
vì
sao
và
tinh
cầu.
Việc
Đức
Mẹ
hiện
ra
tại
Cova
da
Iria
là
một
màn
trong
những
biến
chuyển
gay
cấn
vĩ
đại,
phần
mở
đầu
là
nhiều
lần
Thiên
Thần
Hòa
Bình
và
Thiên
Thần
Bảo
Vệ
Portugal
(Bồ-đào-nha)
hiện
ra
trước
đó.
Những
màn
liên
hệ
trực
tiếp
đến
các
biến
chuyển
này
cũng
xảy
ra
vào
ngày
hôm
nay,
13
tháng
Năm,
1917,
ở
những
nơi
khác
trên
thế
giới.
Khi
Đức
Mẹ
nói
với
ba
bé
ở
Fátima
về
hòa
bình,
Thánh
Linh
Thiên
Chúa
cũng
đổ
tràn
đầy
ơn
linh
hướng
trên
một
người,
mà
tên
của
vị
này
có
nghĩa
là
hòa
bình,
và
ngài
đã
chọn
mang
trên
áo
mục
vụ
của
mình
hình
chim
bồ
câu
và
nhánh
ô
liu
tiêu
biểu
hòa
bình.
Thật
vậy,
cũng
chính
buổi
sáng
Chúa
Nhật,
13
tháng
Năm,
1917,
Đức
Eugenio
Pacelli,
sau
này
là
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
sẽ
tích
cực
hoạt
động
để
truyền
bá
thông
điệp
Fátima,
được
tấn
phong
Giám
Mục
tại
thánh
đường
Thánh
Phêrô
ở
Roma.
Và
cũng
chính
trong
ngày
mùa
xuân
hôm
nay,
ma
quỉ
âm
mưu
làm
hại
thế
giới
với
tất
cả
kỹ
thuật
tinh
vi
xảo
quyệt
dưới
quyền
nó.
Suốt
nhiều
năm,
ma
quỉ
đã
nhồi
nắn
trí
óc
một
người
được
ma
quỉ
dùng
làm
công
cụ
chính
của
nó
là
Marxist
Nicholas
Lenin.
Moscow
(Mạc-tư-khoa),
trung
tâm
đầu
não
nước
Nga,
là
khung
cảnh
của
cuộc
đánh
phá
chủ
chốt
ngày
hôm
nay,
13
tháng
Năm,
1917.
Đã
tới
giờ
những
người
Cộng
Sản
Nga
đẩy
mạnh
các
kế
hoạch
xảo
quyệt
của
Satan
và
đồng
bọn
phản
thần
của
nó.
Lenin
ra
lệnh
cho
các
kỵ
mã,
các
đảng
viên
của
ông
ta,
lên
đường
thực
hiện
loạt
đầu
tiên
các
hành
động
tàn
bạo
mà
sau
cùng
dẫn
tới
chiến
thắng
của
Cộng
Sản
trên
đất
Nga.
Những
người
điên
cuồng
này
phóng
ngựa
mải
miết
cho
tới
khi
họ
đến
một
thánh
đường
Công
Giáo,
nơi
bà
Maria
Alexandrovitch
đang
dạy
giáo
lý
cho
hai
trăm
trẻ
em.
Họ
phóng
ngựa
xông
qua
cửa
thánh
đường
xuống
các
lối
đi.
Họ
phóng
ngựa
qua
giậu
chịu
Lễ.
Bàn
thờ
là
mục
tiêu
thứ
nhất
của
cơn
giận
dữ
như
ma
quỉ
của
những
người
này.
Kế
đến
họ
lật
đổ
và
phá
vỡ
các
tượng
ảnh
dọc
lối
đi.
Rồi
để
chắc
chắn
là
người
ta
hiểu
hành
động
của
họ
đánh
dấu
bước
khởi
đầu
mọi
nỗ
lực
chống
lại
Thiên
Chúa
và
Giáo
Hội,
những
người
vô
thần
và
vô
lương
tâm
này
trút
lòng
hận
thù
như
ma
quỉ
của
họ
trên
các
trẻ
thơ,
họ
xông
tới
giết
một
số
em.
3
Đức
Mẹ
Xinh
Đẹp
Tuyệt
Vời
Một
lúc
sau
khi
Đức
Mẹ
đã
đi
khỏi,
ba
bé
vẫn
còn
đăm
đăm
nhìn
về
hướng
Đức
Mẹ
khuất
dạng
vào
không
gian.
Ngay
khi
những
vui
sướng
chỉ
vừa
mới
bắt
đầu
loãng
đi,
một
người
tới
gần
nói
với
các
bé:
“Này
các
bé,
cừu
của
các
bé
lang
thang
vào
ruộng
giâu
đàng
kia
kìa,”
ông
ta
vừa
nói
vừa
chỉ
vào
khu
đất
của
ông
José
Matias.
“Tôi
đã
ném
vài
cục
đá
vào
đám
cừu,
những
chắc
chắn
là
đám
cừu
đã
ăn
mất
một
ít
cây
rồi.”
Lập
tức
các
bé
chạy
tới
vườn
giâu,
vì
hầu
như
các
bé
đang
nghe
cha
mẹ
quở
trách
vì
chểnh
mảng
không
coi
sóc
đàn
cừu
để
gây
ra
thiệt
hại
cho
vườn
của
người
hàng
xóm.
Nhưng
khi
các
bé
đi
khắp
các
luống
và
xem
xét
các
cây
giâu,
vẻ
ngạc
nhiên
hiện
trên
mặt
các
bé.
Đồng
loạt
các
bé
thốt
lên:
“Sao,
cừu
không
ăn
một
cây
giâu
nào
cả?”
Không
nói
thêm
một
lời,
nhưng
cả
ba
bé
lúc
này
đều
tin
chắc
hơn
khi
nào
hết:
Vị
Nữ
Lưu
các
cô
cậu
được
đặc
ân
diện
kiến
chính
là
Mẹ
Thiên
Chúa.
Bình
tĩnh
lại,
các
bé
đi
tìm
bóng
mát
của
cây
sồi
quen
thuộc
để
các
bé
có
thể
ngồi
nhớ
lại
những
giây
phút
sung
sướng
được
thị
kiến.
Sau
ít
phút
im
lặng
chiêm
niệm,
Francisco
nói
với
cô
chị
họ:
“Chị
Lúcia
à,
Đức
Mẹ
nói
gì
khi
Người
nói
chuyện
với
chị
vậy?”
Jacinta
bất
chợt
chen
vào:
“Gì
thế,
anh
Francisco,
anh
không
nghe
được
Đức
Mẹ
nói
gì
sao?”
Jacinta
hết
sức
ngạc
nhiên,
vì
bé
nghe
được
không
sót
một
lời
Đức
Mẹ
đã
nói
và
nghĩ
rằng
anh
của
bé
cũng
được
nghe
như
vậy.
Cậu
bé
trả
lời:
“Không,
anh
không
được
nghe
Đức
Mẹ
nói,
nhưng
anh
đã
nghe
hết
mọi
lời
chị
Lúcia
nói
với
Đức
Mẹ.”
Lúcia
nói
ngay:
“Được,
chị
sẽ
nói
cho
em
nghe
tất
cả
những
điều
Đức
Mẹ
đã
nói.
Hôm
nay
chị
không
cảm
thấy
như
sau
những
lần
thiên
thần
hiện
ra,
chị
có
thể
nói.
Đức
Mẹ
nói
“Người
từ
thiên
đàng
tới,
chị
và
Jacinta
sẽ
được
về
thiên
đàng.”
Khi
chị
hỏi
Đức
Mẹ
em
cũng
được
về
thiên
đàng
chứ,
thì
Đức
Mẹ
nói:
“Có,”
nhưng
thêm
là
“em
phải
cầu
nguyện
rất
nhiều
kinh
Mân
Côi.”
“Ôi,
lạy
Đức
Mẹ!
Con
sẽ
cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi
thật
nhiều
như
Đức
Mẹ
muốn,”
cậu
bé
kêu
lên,
khoanh
tay
trước
ngực,
hoan
hỉ
với
ý
nghĩ
là
cậu
sẽ
được
nhận
vào
thế
giới
của
Đức
Mẹ
tuyệt
vời
diễm
lệ
mà
chỉ
phải
làm
quá
ít.
Lúcia
nói
tiếp:
“Đức
Mẹ
muốn
ba
chị
em
chúng
ta
trở
lại
đây
sáu
tháng
liên
tiếp,
ngày
mười
ba
mỗi
tháng,
cũng
vào
giờ
đó.
Rồi
Người
sẽ
nói
cho
chúng
ta
biết
Người
là
Ai,
và
Người
muốn
chúng
ta
làm
gì.
Đức
Mẹ
cũng
nói
Người
sẽ
trở
lại
đây
lần
thứ
bảy,
nhưng
không
rõ
khi
nào.
Chị
hỏi
Đức
Mẹ:
“chị
Maria
das
Neves
có
ở
trên
thiên
đàng
không,
Đức
Mẹ
trả
lời:
“Có,”
nhưng
Đức
Mẹ
cũng
nói
“chị
Amelia
còn
ở
trong
luyện
ngục
cho
tới
tận
thế.”
Kế
đó
Đức
Mẹ
hỏi
chị
em
chúng
ta
có
vui
lòng
tận
hiến
cho
Thiên
Chúa
và
sẵn
sàng
hy
sinh
chấp
nhận
mọi
đau
khổ
Chúa
sẽ
vui
lòng
gởi
đến
cho
chúng
ta
để
đền
tạ
các
tội
lỗi
đã
xúc
phạm
đến
Thiên
Chúa,
và
xin
cho
các
kẻ
tội
lỗi
ăn
năn
trở
lại,
và
đền
tạ
những
tội
lỗi
xúc
phạm
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
Maria
hay
không.
Chị
nói
chúng
ta
sẵn
sàng.
Chị
biết
em
và
Jacinta
chắc
chắn
sẵn
lòng
vì
thiên
thần
đã
từng
yêu
cầu
chúng
ta
làm
việc
hy
sinh
và
chấp
nhận
những
đau
khổ
Thiên
Chúa
sẽ
gởi
đến,
để
đền
tạ
tội
lỗi
và
xin
ơn
cải
hóa
các
kẻ
tội
lỗi,
và
chúng
ta
đã
cố
gắng
hết
sức
thi
hành
điều
thiên
thần
yêu
cầu.
Sau
đó,
Đức
Mẹ
nói:
“Lúc
đó
các
con
sẽ
phải
đau
khổ
nhiều,
nhưng
ơn
Chúa
sẽ
nâng
đỡ
an
ủi
các
con.”
Chính
lúc
này
Đức
Mẹ
mở
rộng
hai
bàn
tay
và
chiếu
ánh
sáng
mạnh
vào
đáy
lòng
chúng
ta.
Những
lời
sau
cùng
Đức
Mẹ
nói
là:
“Các
con
hãy
cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi
hằng
ngày
để
xin
được
hòa
bình
cho
thế
giới
và
chấm
dứt
chiến
tranh.”
Khi
dứt
lời,
Lúcia
thấy
hai
bé
em
họ
đang
trầm
tư.
Francisco
chắp
tay
trước
ngực,
đăm
đăm
nhìn
về
phía
chân
trời.
Jacinta,
khuỷu
tay
chống
trên
đầu
gối,
hai
tay
ôm
cằm,
cũng
đăm
đăm
nhìn
về
phía
trời
xanh
thăm
thẳm.
Điều
này
không
làm
cho
Lúcia
ngạc
nhiên,
vì
chính
cô
bé
cũng
cảm
thấy
bị
ảnh
hưởng
mãnh
liệt
do
biến
cố
vĩ
đại
vừa
mới
xảy
ra.
Hết
sức
hoan
hỉ,
Lúcia
cùng
với
hai
người
em
họ
suy
gẫm
thầm
lặng.
Điều
thứ
nhất
đánh
động
niềm
vui
riêng
tư
của
Lúcia
là
sự
khác
biệt
lớn
lao
giữa
những
gì
cô
bé
cảm
thấy
lúc
này,
sau
khi
Đức
Mẹ
hiện
ra,
so
với
những
cảm
giác
như
sau
ba
lần
thiên
thần
đến
thăm.
Chắc
chắn
cũng
niềm
vui
đó,
cũng
sự
an
bình
hân
hoan
như
vậy.
Nhưng
thay
vì
hững
hờ
thể
chất
trước
kia,
cô
bé
cảm
thấy
rõ
ràng
sức
linh
hoạt
mỗi
lúc
mỗi
tăng
thêm;
thay
vì
tan
biến
trong
sự
hiện
diện
của
Thiên
Chúa
là
niềm
vui
khôn
tả;
thay
vì
không
nói
năng
được
là
hăng
hái
chuyện
trò.
Jacinta
và
Francisco
cũng
nhận
thấy
sự
khác
biệt
rõ
ràng
như
thế.
Chính
Jacinta
là
người
đầu
tiên
phá
vỡ
sự
chiêm
niệm
thầm
lặng
của
cả
nhóm.
Sự
thúc
đẩy
trong
lòng
của
niềm
vui
này
quá
lớn
lao
không
thể
nào
giữ
kín
được.
Bé
Jacinta
hoan
hỉ
kêu
lên:
“Ồ,
Đức
Mẹ
xinh
đẹp
quá
chừng!
(Ai,
que
Senhora
tão
bonita!)
”
Francisco
bình
luận
tiếp:
“Không
phải
Đức
Mẹ
tỏa
ra
ánh
sáng
rực
rỡ
sao,
ánh
sáng
từ
Đức
Mẹ
tỏa
ra
mạnh
quá
sức
khiến
em
cứ
phải
hạ
thấp
tầm
mắt
xuống.”
Nỗi
lo
âu
từ
từ
khiến
Lúcia
nhíu
lông
mày
lại
khi
nhận
thấy
sự
gia
tăng
về
nói
năng
của
hai
người
bạn
trẻ.
Cô
bé
nhớ
lại
rất
rõ
giá
đắt
đã
phải
trả
khi
một
trong
những
cô
bạn
gái,
cùng
với
cô
bé
nhìn
thấy
bóng
dáng
thiên
thần
hai
năm
trước,
đã
nói
với
mẹ
của
cô
bé
về
“một
phụ
nữ
không
đầu.”
Nếu
Lúcia
hoặc
hai
em
họ
bé
bỏng
nhắc
tới
Đức
Mẹ
các
bé
vừa
mới
được
thị
kiến,
chắc
chắn
các
bé
sẽ
bị
chế
diễu,
nhạo
báng
như
lần
tiết
lộ
trước.
Lúcia
cảm
thấy
được
chỉ
dẫn
từ
thâm
tâm
rất
rõ
ràng:
một
số
những
lời
Đức
Mẹ
đã
nói
không
nên
được
tiết
lộ.
Lúcia
cảnh
giác
Jacinta
và
Francisco
không
được
nói
gì
về
Đức
Mẹ
thì
Jacinta
lại
bất
chợt
kêu
lên:
“Ôi,
Đức
Mẹ
xinh
đẹp
biết
chừng
nào!
(Ai,
que
Senhora
tão
bonita!)
”
Lúcia
thất
vọng
nói:
“Chị
thấy
rõ
thế
nào
các
em
cũng
sẽ
nói
điều
này
với
người
khác.”
“Ồ,
không
đâu.
Em
sẽ
không
nói
đâu.
Chị
đừng
lo.”
“Được,
chắc
chắn
em
sẽ
không
nói
nhé!”
Phần
còn
lại
trong
buổi
chiều
qua
mau
với
chuyện
trò
và
suy
niệm
vui
sướng.
Mãi
khi
ánh
hoàng
hôn
ngả
bóng
ngang
thung
lũng,
các
bé
mới
có
can
đảm
gom
đàn
cừu
và
rời
khỏi
thung
lũng
thần
thánh
mà
chỉ
trong
mười
phút
vắn
vỏi
các
bé
đã
được
nếm
niềm
vui
bất
tận
của
thiên
đàng.
Khi
chia
ta
hai
ngừơi
em
họ
bé
nhỏ
tại
nhà
gia
đình
Marto,
Lúcia
lại
đưa
ra
lời
căn
dặn:
“Các
em
nhớ,
không
được
nói
một
lời
về
điều
đó
với
bất
cứ
ai,
không
nói
với
bất
cứ
ai.”
Cả
Jacinta
và
Francisco
cùng
trả
lời,
“Chúng
em
nhớ.
Chúng
em
sẽ
không
nói
gì
với
bất
cứ
ai.”
4
Jacinta
Kể
Chuyện
Lúcia
lặng
lẽ
ăn
cơm
tối
hôm
đó.
Linh
hồn
cô
bé
tràn
ngập
sự
ngọt
ngào
và
vẻ
diễm
kiều
tuyệt
vời
của
Đức
Mẹ,
đến
độ
không
thể
nói
gì
ngoài
Đức
Mẹ,
mà
về
Đức
Mẹ
thì
không
thể
nói
ra
điều
gì
được.
Sau
khi
đọc
kinh
tối
và
nghe
bà
mẹ
đọc
một
đoạn
Tân
Ước,
Lúcia
lặng
lẽ
lên
giường
với
bí
mật
châu
báu
của
biến
cố
vĩ
đại
trong
ngày
được
khóa
an
toàn
trong
trái
tim.
Nhưng
với
bé
Jacinta,
mọi
việc
khác
hẳn.
Đứng
bên
phía
trái
cửa
ra
vào,
cô
bé
bồn
chồn
chờ
đợi
cha
mẹ
về,
ông
bà
đi
tới
thị
trấn
Batalha
dưới
thung
lũng
Fátima.
Khi
ông
bà
Marto
về
tới,
trời
đã
tối,
nhưng
Jacinta
vẫn
đứng
ở
cửa
đón
cha
mẹ.
Ngay
khi
nhận
ra
bóng
mẹ,
cô
bé
chạy
vội
tới
ôm
bà
thật
chặt.
Bà
mẹ
hiền
từ
không
biết
điều
gì
tạo
ra
cách
đón
tiếp
bất
thường
này,
vì
Jacinta
không
có
thói
quen
hành
động
như
vậy.
Nhưng
ngạc
nhiên
ban
đầu
nhường
chỗ
cho
kinh
ngạc
khi
bà
nghe
con
gái
nhỏ
mừng
rỡ
chào:
“Ồ,
má
à,
hôm
nay
chúng
con
thấy
Đức
Mẹ
ở
Cova
da
Iria.”
Bà
mẹ
cười
nhạo
nói:
“Má
không
tin
điều
đó.
Con
phải
là
vị
thánh
nhỏ
tốt
lành
mới
được
nhìn
thấy
Đức
Mẹ.”
Lập
tức,
mặt
cô
bé
xịu
xuống.
Mẹ
cô
không
tin
Đức
Mẹ!
Nhưng
làm
sao
cô
bé
hoài
nghi
Đức
Mẹ
được!
Chính
bé
đã
tận
mắt
nhìn
thấy
Đức
Mẹ,
Người
nói
Người
từ
thiên
đàng
đến.
Trái
tim
cô
bé
xác
nhận
rằng
Vị
Nữ
Lưu
kiều
diễm
vô
song
đó
chính
là
Đức
Trinh
Nữ.
“Má
à,
xin
má
tin
đi!”
cô
bé
cao
giọng
cãi,
với
lòng
hăng
hái
của
trái
tim
ngây
thơ.
Không
trả
lời,
bà
Olimpia
bước
qua
cửa.
Nhưng
Jacinta
theo
bén
gót.
Cô
bé
nói
ngay
khi
hai
mẹ
con
vào
trong
nhà:
“Má
à,
con
sắp
sửa
đi
cầu
nguyện
chung
với
anh
Francisco
đây,
đó
là
điều
Đức
Mẹ
yêu
cầu
chúng
con
làm.”
Mừng
vì
thoát
được
con
bé,
mà
câu
chuyện
con
nhỏ
nói
bà
không
tin
chút
nào,
bà
mẹ
để
cho
con
bé
đi.
Nhưng
sự
an
bình
của
bà
không
được
lâu,
vì
ngay
khi
vừa
mới
cầu
nguyện
chung
với
anh
của
bé
xong,
Jacinta
trở
lại
tấn
công:
“Thưa
mẹ
yêu
quí,
chúng
ta
phải
cầu
nguyện
kinh
Mân
Côi
hằng
ngày.”
Bà
mẹ
phản
pháo:
“Nhưng
đó
không
phải
thói
quen.
Chúng
ta
không
phải
đọc
kinh
bây
giờ
chứ,
phải
không?”
Bé
nài
nỉ:
“Hãy
cầu
nguyện,
má
à,
hãy
cầu
nguyện.”
Dẫu
rằng
không
tin
chuyện
con
gái
kể,
tính
tò
mò
của
bà
Olimpia
cũng
bị
khích
thích.
Sau
đó,
trong
bữa
ăn,
trước
mặt
mọi
người
trong
gia
đình
và
hai
người
bà
con
tình
cờ
có
mặt
trong
nhà
lúc
đó,
bà
hạch
hỏi
Jacinta
và
Francisco
về
việc
Đức
Mẹ
hiện
ra.
Những
lời
hai
bé
nói
thêm
lúc
này
cũng
không
tăng
thêm
lòng
tin
của
bà
Olimpia
vào
biến
cố
Đức
Mẹ
hiện
ra,
và
bà
tiếp
tục
ít
để
ý
tới.
Trong
gia
đình
Marto,
ít
nhất
có
một
người
xúc
động
mạnh
vì
câu
chuyện
của
hai
đứa
con
nhỏ,
đó
là
ông
bố.
Biết
rằng
Jacinta
và
Francisco
tuyệt
đối
thực
thà
và
hoài
nghi
khả
năng
tuổi
thơ
ngây
của
hai
bé
con
thể
dựng
đứng
được
câu
chuyện
như
vậy,
ông
Manuel
Pedro
cảm
thấy
hoàn
toàn
tin
những
điều
hai
bé
con
của
ông
nói.
Vả
lại,
cũng
phải
thừa
nhận
rằng
trong
dòng
lịch
sử,
Đức
Mẹ
đã
nhiều
lần
hiện
ra
vì
lợi
ích
cho
nhân
loại,
ông
Pedro
không
thấy
có
lý
do
gì
Thiên
Chúa
Toàn
Năng
lại
không
để
Đức
Mẹ
thăm
viếng
trần
thế
lần
nữa.
Đúng
vậy,
ông
Pedro
cảm
thấy
rõ
rệt
phải
nhận
những
điều
các
bé
con
của
ông
nói
là
thực.
Sáng
sớm
hôm
sau,
khi
đứng
dưới
gốc
cây
vả
trong
vườn
thoai
thoải
sau
nhà,
Lúcia
đang
sung
sướng
nhớ
Đức
Mẹ
diễm
tuyệt
từ
thiên
đàng
đến,
thì
chị
Maria
dos
Anjos,
chị
cả
của
cô
bé,
đến
gần.
Chị
Maria
vừa
mới
nghe
người
lối
xóm
nói
về
Đức
Mẹ
hiện
ra,
người
ngày
được
bà
Marto
kể
cho
nghe
câu
chuyện.
Bị
áp
lực
vì
câu
hỏi
nằng
nặc
ép
buộc
của
chị
Maria,
Lúcia
đành
phải
nói
thực
chính
cô
bé
đã
được
diện
kiến
một
Vị
Nữ
Lưu
xinh
đẹp
tuyệt
vời
từ
thiên
đàng
tới,
Người
cũng
yêu
cầu
cô
bé
và
hai
em
họ
trở
lại
nơi
đó
sáu
tháng
liên
tiếp,
và
hứa
sẽ
cho
các
bé
biết
Người
muốn
gì.
Ngay
lúc
đó,
Francisco
tới
nơi
và
xác
nhận
điều
kinh
hoàng
là
Jacinta
đã
nói
với
mọi
người
trong
nhà
về
những
việc
đã
xảy
ra
ngày
hôm
trước.
Như
thế
là
Jacinta
đã
nói
rồi!
Đó
chính
là
điều
Lúcia
lo
sợ.
Giờ
đây,
niềm
vui
khó
tin,
đã
từng
là
của
riêng
cô
từ
ngày
hôm
qua
và
hy
vọng
sẽ
tồn
tại
mãi
mãi,
đang
bị
tấn
công
dữ
dội.
Lớp
sóng
buồn
bực
thất
vọng,
ngay
cả
đến
tức
giận
nữa,
chạy
khắp
thân
thể
cô
bé.
Bất
chợt
cô
bé
bứt
rứt
muốn
trút
ngay
ra
cho
cô
bé
em
họ
bép
xép.
Lúcia
nói:
“Này,
Francisco
lại
đây,
chúng
ta
đi
xem
có
tìm
thấy
Jacinta
không.”
Khi
Lúcia
và
Francisco
tới
gần
góc
đường
mòn
bụi
bậm
lởm
chởm
đá,
chạy
qua
Aljustrel,
từ
nhà
gia
đình
Santos
đến
nhà
gia
đình
Marto,
hai
bé
thấy
Jacinta
đứng
tựa
lưng
vào
tường
trước
nhà,
mắt
đăm
đăm
nhìn
xuống
đất.
Khi
đi
xuống
hướng
về
phía
ngôi
nhà,
hai
bé
thấy
Jacinta
rất
buồn
rầu
lo
âu,
bây
giờ
bé
ý
thức
được
những
điều
bé
đã
làm.
Bé
đã
không
giữ
lời
hứa
và
mở
cửa
cho
bao
nhiêu
rắc
rối.
Khi
thấy
Lúcia
và
Francisco
đến
gần,
bé
cúi
đầu,
hạ
thấp
mắt
xuống,
liếc
nhìn
ánh
mắt
đầy
trách
mắng
trên
mặt
đỏ
bừng
của
Lúcia,
Jacinta
biết
Lúcia
đã
biết
hết
sự
bẻm
mép
đầy
tai
họa
của
mình.
Lúcia
bực
tức
la
lên
chua
chát:
“Jacinta,
em
nói
để
làm
gì?
Chị
Maria
của
chị
đã
nghe
biết
về
Đức
Mẹ,
chị
ấy
vừa
mới
nói
với
chị
đây.
Mẹ
em
đã
kể
với
các
bà
trong
làng
những
gì
em
nói
với
mẹ
em
tối
hôm
qua,
và
lúc
này
mọi
người
sẽ
biết
hết!”
Bé
Jacinta
không
dám
nhìn
Lúcia,
chỉ
lặng
lặng
nghe
lời
kết
tội
cay
đắng
của
người
chị
họ.
Thái
độ
của
bé
là
xấu
hổ
và
hối
hận
hết
sức.
Khi
Lúcia
không
trách
mắng
nữa,
bé
Jacinta
mới
nói,
giọng
nghẹn
ngào,
và
những
giọt
lệ
to
lăn
dài
xuống
hai
bên
má:
“Cái
cái
gì
trong
trái
tim
em
khiến
em
không
thể
im
lặng
được,”
bé
vừa
nói
vừa
chắp
đôi
tay
nhỏ
nhắn
trên
ngực.
Xúc
động
vì
sự
buồn
rầu
và
thực
tâm
hối
hận
của
Jacinta,
Lúcia
nói:
“Này,
em
đừng
khóc
nữa,
và
đừng
nói
gì
thêm
với
bất
cứ
ai
về
những
điều
Đức
Mẹ
đã
nói
với
chúng
ta.”
“Nhưng
mà
em
đã
nói
điều
đó
ra
rồi.”
“Em
đã
nói
những
gì?”
Lúcia
lo
lắng
hỏi,
vì
sợ
cô
em
đã
tiết
lộ
“bí
mật.”
“Em
nói
Đức
Mẹ
hứa
đưa
chị
em
chúng
ta
về
thiên
đàng.”
“Thế
là
lập
tức
em
đi
khoe
điều
đó!”
Lúcia
trách
mắng
thêm,
mặc
dầu
thâm
tâm
cô
đã
được
dịu
bớt
là
bé
Jacinta
đã
không
tiết
lộ
gì
hơn.
“Chị
Lúcia
à,
xin
tha
thứ
cho
em,
và
em
sẽ
không
nói
gì
với
bất
cứ
ai
nữa
đâu.”
5
Tại
Nhà
Cha
Sở
Hai
tuần
lễ
trôi
qua
kể
từ
ngày
Đức
Mẹ
hiện
ra,
bà
Maria
Rosa
vừa
mới
được
cha
sở,
cha
Ferreira,
cho
biết
muốn
gặp
bà
và
Lúcia
tại
văn
phòng
ngài.
Mặc
dầu
xấu
hổ
phải
gặp
cha
sở
trong
trường
hợp
này,
bà
Maria
Rosa
cũng
mừng
vì
nghĩ
cha
sở
sẽ
nói
chuyện
với
con
nhỏ.
Có
thể
ngài
sẽ
thành
công
bắt
con
nhỏ
thú
tội
nói
láo
kinh
khủng
của
nó.
Bước
tới
cửa
bếp
mở
ra
sân
nhỏ
có
hàng
rào,
bà
gọi
con
gái
nhỏ:
“Lúcia,
vào
trong
bếp
này,
má
có
chuyện
cần
nói
với
con.”
Khi
cô
bé
đã
ngồi
trên
ghế
đẩu
bên
lò
bếp,
bà
mẹ
nói:
“Này
Lúcia,
ngày
mai
mẹ
phải
dẫn
con
tới
gặp
Cha
Bề
Trên
(O
Senhor
Prior).
Khi
tới
đó,
má
muốn
con
quỳ
ngay
xuống
xưng
tội
nói
láo
của
con,
xin
ơn
tha
thứ
và
làm
việc
đền
tội
cha
sở
(cha
xứ)
sẽ
định.”
Sáng
hôm
sau,
hai
mẹ
con
ra
đi
sớm,
bà
Maria
Rosa
muốn
Lúcia
dự
Thánh
Lễ
trước
khi
gặp
cha
sở.
Tội
nghiệp
Lúcia!
Trái
tim
cô
bé
đập
nhanh
quá
sức
khi
bé
đóng
cửa
nhà.
Chừng
một
tiếng
đồng
hồ
nữa,
cô
bé
sẽ
phải
đối
diện
với
cha
sở.
Mặc
dù
vốn
biết
cha
sở
rất
nhân
từ,
nhưng
đây
không
phải
buổi
viếng
thăm
cha
sở
như
thường
lệ.
Cô
bé
lặng
lẽ
theo
sau
bà
mẹ
trên
khoảng
đường
bụi
bậm
gồ
ghề.
Khi
hai
mẹ
con
đi
ngang
nhà
gia
đình
Marto,
Lúcia
chạy
vội
vào
để
nói
vài
lời
với
Jacinta.
Lúcia
cảm
thấy
cần
trút
nhẹ
trái
tim
nặng
chĩu,
giãi
bày
tâm
sự
với
cô
em
họ
thân
mến,
dù
chỉ
trong
vài
phút
phù
du.
Không
muốn
để
mẹ
phải
chờ
lâu,
Lúcia
vội
vã
nói
với
Jacinta,
còn
trong
giường,
về
trường
hợp
của
mình
và
xin
bé
cầu
nguyện
giúp.
Rồi
vội
vàng
chạy
theo
tới
gần
bà
mẹ
vẫn
lũi
thũi
một
mình
trên
đường.
Lúcia
cẩn
thận
đi
cách
sau
mẹ
một
khoảng
với
hy
vọng
tránh
được
một
lần
những
lời
nói
nhức
nhối.
Tuy
vậy,
sự
cẩn
thận
của
cô
bé
chẳng
được
ích
gì.
Hai
mẹ
con
mới
đi
khỏi
nhà
gia
đình
Marto
một
khoảng
ngắn
thì
bà
Maria
Rosa
lại
khởi
sự
nguyền
rủa
sự
dối
trá.
Sau
cùng,
khi
đến
nhà
thờ,
Lúcia
nói:
“Nhưng
mà
thưa
mẹ
yêu
dấu,
làm
sao
con
nói
được
là
con
không
thấy
Đức
Mẹ,
trong
khi
con
đã
thực
sự
thấy
Người?”
Khác
thường,
bà
Maria
Rosa
không
trả
lời.
Thực
ra,
bà
không
biết
phải
trả
lời
thế
nào,
bà
đành
chọn
giữ
hòa.
Mặc
dầu
trái
tim
Lúcia
tràn
ngập
sợ
hãi
đến
chết
được
và
lo
âu
suốt
Thánh
Lễ,
cô
bé
cũng
đủ
tự
chủ
nhớ
lại
được
lời
Đức
Mẹ
yêu
cầu
dâng
hy
sinh
lên
Thiên
Chúa
để
đền
tạ
tội
lỗi
và
xin
cho
các
kẻ
tội
lỗi
ăn
năn
thống
hối.
Thánh
Lễ
đã
xong,
quá
mau.
Lúcia
hẳn
muốn
Thánh
Lễ
kéo
dài
bất
tận.
Cô
bé
theo
mẹ
rời
khỏi
thánh
đường
mà
tim
đập
như
muốn
nhảy
ra
ngoài.
Hai
mẹ
con
băng
qua
công
viên
bụi
bậm
đi
về
phía
nhà
cha
sở
bên
tay
phải.
Khi
hai
mẹ
con
đang
bước
lên
cầu
thang
dẫn
tới
hành
lang,
bà
Maria
Rosa
bất
chợt
quay
sang
Lúcia
và
nóng
nảy
nói:
“Này
con,
con
đừng
làm
khổ
mẹ
thêm
nữa.
Con
hãy
nói
cho
cha
Bề
Trên
(o
Senhor
Prior)
biết
rằng
con
đã
nói
láo,
để
trong
nhà
thờ
ngày
Chúa
Nhật,
ngài
cho
mọi
người
biết
đó
chỉ
là
điều
bịa
đặt,
và
như
vậy
chấm
dứt
hẳn
câu
chuyện.
Con
có
nghĩ
nếu
vấn
đề
cứ
tiếp
tục,
mọi
người
đổ
xô
tới
Cova
da
Iria
cầu
nguyện
trước
cây
sồi
không?”
Lên
tới
hành
lang,
bà
Maria
Rosa
gõ
cửa
và
được
người
chị
của
cha
sở
mời
vào
nhà.
Vì
cha
sở
còn
ở
nhà
thờ
để
tạ
ơn
sau
Thánh
Lễ,
bà
Maria
Rosa
và
Lúcia
được
mời
ngồi
ghế
chờ
đợi.
Người
chị
của
cha
Manuel
Ferreira
cho
ngài
biết
mẹ
con
bà
Maria
Rosa
đang
chờ.
Ngài
vội
vàng
kiểm
điểm
lần
chót
trường
hợp
này
trước
khi
rời
khỏi
thánh
đường.
Cha
Manuel
Ferreira
lo
âu
về
buổi
viếng
thăm
này,
ngài
ý
thức
chính
ngài
có
nhiệm
vụ
tìm
hiểu
cội
nguồn
câu
chuyện
Đức
Mẹ
hiện
ra.
Nhiều
lời
tường
thuật
khác
nhau
tới
tai
ngài
mà
vẫn
chưa
tìm
ra
căn
nguyên,
tuy
vậy,
ngài
đã
nghe
đủ
để
sắp
thành
hệ
thống
khá
rõ
rệt
về
những
điều
ba
em
bé
nói
là
đã
xảy
ra.
Thật
vậy,
“đối
với
cá
nhân
ngài,
ngài
không
tin
những
điều
các
em
bé
nói
là
có
thực.
Ngài
thực
sự
bối
rối
và
không
có
ý
kiến
dứt
khoát
về
thực
chất
của
sự
việc
gọi
là
“Đức
Mẹ
hiện
ra.”
Sự
hoài
nghi
của
cha
sở
kèm
theo
nỗi
lo
âu
ghê
gớm.
Mọi
người
đều
muốn
biết,
với
tư
cách
lãnh
đạo
tôn
giáo
chính
thức
tại
địa
phương,
ngài
nghĩ
thế
nào
về
vấn
đề
này.
Cha
Ferreira
ước
muốn
có
thể
đi
tới
quyết
định
dứt
khoát!
Như
thế
ngài
có
thể
thoát
khỏi
những
hoài
nghi
ghê
gớm
liên
miên
dày
vò
tâm
trí.
Thật
vậy,
khi
đó
ít
nhất
ngài
cũng
được
hưởng
an
bình
trong
tâm
hồn,
điều
đã
bị
thiếu
sót
một
cách
đáng
buồn
từ
lần
đầu
tiên
nghe
nói
về
sự
kiện
“Đức
Mẹ
hiện
ra
tại
Cova
da
Iria.”
Lần
nữa,
ít
nhất
lần
thứ
một
trăm,
cha
Ferreira
ôn
lại
năm
giả
thuyết
khả
dĩ
chấp
nhận
được
về
vụ
Cova
da
Iria.
Có
thế
có
việc
Đức
Mẹ
hiện
ra
thực.
Thực
tế,
Đức
Mẹ
có
thể
ban
vinh
dự
cho
Portugal
(Bồ-đào-nha)
bằng
cách
viếng
thăm
như
Đức
Mẹ
đã
làm
tại
Lourdes,
France
(Lộ-đức,
Pháp
Quốc),
năm
1858.
Trong
trường
hợp
đó,
ân
sủng
biết
bao
cho
giáo
xứ
và
tổ
quốc
của
cha!
Niềm
vui
tinh
tuyền
khôn
tả
chạy
khắp
cơ
thể
cao
lớn
của
cha
sở,
khi
ngài
nghĩ
việc
Đức
Mẹ
hiện
ra
là
có
thực.
Nhưng
niềm
vui
này
quá
ngắn,
vì
tự
đáy
lòng,
cha
Ferreira
nghĩ
không
thể
nào
Đức
Mẹ
đã
thực
sự
hiện
ra
tại
Cova
da
Iria.
Nếu
giả
thuyết
này
không
đúng,
mà
có
vẻ
là
trường
hợp
này.
Dẫu
vậy,
ít
ra
cũng
còn
bốn
giả
thuyết
nữa.
Việc
đó
chỉ
giản
dị
là
điều
nói
dối,
cậu
chuyện
các
bé
tạo
ra
để
làm
cho
mình
thành
quan
trọng.
Nhưng
giả
thuyết
này
bị
bác
bỏ
mau
lẹ.
Mặc
dầu
ở
Fátima
chỉ
mới
bốn
năm,
ngài
biết
rõ
các
bé
này,
không
thể
nào
tin
các
bé
có
khả
năng
sáng
tạo
điều
giả
dối
như
vậy.
Việc
đó
có
thể
do
cha
mẹ
chúng
sắp
đặt
vì
hư
danh
hoặc
để
khai
thác
vật
chất.
Vinh
dự
biết
bao
cho
gia
đình
có
người
được
thị
kiến!
Nhưng
lần
nữa,
danh
giá
gia
đình
Marto
và
gia
đình
Santos,
nhất
là
ông
Antonio
Santos
ghiền
rượu,
bắt
buộc
cha
sở
phải
loại
bỏ
giả
thuyết
này.
Mọi
người
cũng
biết
bà
Maria
Rosa
quyết
liệt
tuyên
bố
không
tin
Đức
Mẹ
hiện
ra
và
không
ngừng
đày
đọa
cô
con
gái
mà
bà
kết
tội
nói
láo.
Ảo
giác
cũng
có
thể
đúng.
Đức
Mẹ
có
thể
là
tưởng
tượng
của
tuổi
thơ
ngây
và
bịnh
hoạn.
Những
em
bé
cho
là
được
thị
kiến
có
thể
là
nạn
nhân
của
chính
đầu
óc
bệnh
hoạn
của
các
bé,
không
phân
biệt
được
những
sản
phẩm
tưởng
tượng
với
thực
tế.
Nhưng
các
bé
này
sinh
trưởng
trong
những
gia
đình
không
có
dấu
vết
gì
về
tâm
thần
bất
thường,
và
chính
các
bé
chưa
bao
giờ
tỏ
ra
có
dấu
vết
gì
về
tâm
trí
bất
bình
thường.
Các
bé
khỏe
mạnh
và
tráng
kiện,
chúng
ở
ngoài
trời
nắng
cả
ngày.
Như
vậy
không
có
lý
do
chấp
nhận
giả
thuyết
này.
Chính
giả
thuyết
sau
cùng
đã
xâu
xé
vị
linh
mục
nhiệt
thành.
Vụ
này
có
thể
do
ma
quỉ
sắp
đặt.
Cha
Ferreira
rùng
mình
mỗi
khi
nghĩ
đến
giả
thuyết
này.
Xin
Thiên
Chúa
gìn
giữ
những
đứa
trẻ
bé
nhỏ
yêu
quí,
gia
đình
chúng,
và
giáo
xứ
khỏi
tai
ương
này!
Tại
sao,
ồ
tại
sao
thế
này,
hơn
mọi
giải
thích
khả
dĩ
khác,
giả
thuyết
này
có
vẻ
đúng
nhất
đối
với
cha
Ferreira?
Ngài
ghê
tởm
ý
nghĩ
đó,
nhưng
đã
suy
nghĩ
cân
nhắc
mọi
giả
thuyết,
thì
giả
thuyết
này
luôn
luôn
nặng
cân.
Từ
thâm
sâu
tâm
hồn
linh
mục,
cha
Ferreira
thì
thầm:
“Ôi,
lạy
Đức
Trinh
Nữ
Rất
Thánh,
xin
cứu
những
trẻ
thơ
ngây
và
mọi
tín
hữu
của
con
khỏi
số
phận
đáng
sợ
này!
Nhưng
nếu
đây
là
việc
làm
của
ma
quỉ,
xin
soi
sáng
cho
con
để
con
khám
phá
ra
được
và
phơi
bày
ra
ánh
sáng
kẻ
là
cha
sự
dối
trá
lừa
đảo.”
Thở
dài
nặng
nề,
cha
Ferreira
chỗi
dậy
khỏi
bàn
quỳ,
bái
gối,
và
liếc
nhìn
tôn
kính
vào
Nhà
Chầu
lần
chót.
Rồi,
can
đảm
và
với
dáng
điệu
của
người
có
chủ
định,
ngài
rời
khỏi
thánh
đường
đi
về
nhà.
Khi
cửa
mở,
cha
Ferreira
bước
vào,
tim
Lúcia
như
nhảy
tung
lên.
Vị
linh
mục
có
thân
hình
lực
lưỡng,
vai
rộng,
mặt
vuông,
tóc
râu
rậm
đen,
nhưng
không
có
vẻ
gì
cứng
cỏi
nghiêm
khắc
nơi
vóc
dáng
của
ngài.
Trái
lại,
ngài
có
cử
chỉ
nhẹ
nhàng,
nhã
nhặn,
đặc
biệt
sáng
nay
nụ
cười
thân
ái
làm
cho
khuôn
mặt
ngài
rạng
rỡ
khi
chào
hai
người
khách.
Lập
tức
Lúcia
cảm
thấy
nhẹ
nhõm.
Bằng
một
cử
chỉ
lịch
sự,
cha
sở
mời
Lúcia
và
mẹ
cô
bé
vào
văn
phòng.
Mời
bà
Maria
Rosa
ngồi
trên
ghế
dài,
còn
ngài
ngồi
nơi
bàn
giấy
và
gọi
Lúcia
tới
bên
cạnh.
Thấy
cô
bé
có
vẻ
nhút
nhát
và
bối
rối,
ngài
hỏi
cô
bé
cách
hết
sức
từ
tốn
và
nhân
từ.
Vốn
quen
với
cách
đối
xử
cộc
cằn,
Lúcia
cảm
động
vì
lòng
khoan
dung
cao
cả
của
cha
sở.
Bầu
không
khí
vừa
nghiêm
trang
vừa
khoan
hòa.
Hết
câu
hỏi
này
đến
câu
hỏi
khác
được
đặt
ra
với
cô
bé.
Nhiều
câu
hỏi
cố
tình
làm
cho
Lúcia
sa
bẫy
nếu
cô
bé
nói
láo.
Nhưng
Lúcia
trả
lời
hết
sức
ngay
thật,
các
lời
cô
bé
nói
không
chút
đối
chọi
hoặc
sai
trệch.
Cha
sở
không
thấy
cô
bé
có
lợi
khẩu,
nhưng
ít
nhất
ngài
phải
nhìn
nhận
cô
bé
không
hề
đắn
đo
dối
trá.
Tuy
nhiên,
bà
Maria
Rosa
vẫn
bất
đồng
ý
kiến.
Thấy
cha
sở
như
hoàn
toàn
có
thiện
cảm
với
Lúcia,
bà
lên
tiếng
phản
đối:
“Ồ,
thưa
Cha
Bề
Trên
(O
Senhor
Prior),
những
gì
con
nhỏ
này
nói
đều
không
thực
đâu.
Hoàn
toàn
nói
láo.
Con
đã
cố
gắng
bắt
nó
nhìn
nhận
điều
đó,
nhưng
mọi
cố
gắng
của
con
đều
vô
ích.”
Rồi
bà
Maria
Rosa
nói
tiếp,
thẳng
với
con
gái:
“Nào,
Lúcia,
con
hãy
thú
nhận
với
cha
sở
đó
là
điều
nói
láo
đi.”
Nhưng
cô
bé
thẳng
thắn
trả
lời:
“Nhưng
con
không
thể
nói
đó
là
điều
nói
láo,
nếu
đó
không
phải
là
điều
nói
láo.”
“Thưa
cha
sở,
cha
coi
đó,
nó
cứng
đầu
làm
sao.
Con
đã
hăm
dọa
nó
đủ
cách
mà
nó
cứ
tiếp
tục
nói
láo
và
nói
đã
thấy
Đức
Mẹ,
nhưng
con
chẳng
làm
gì
được
nó.”
Cha
sở
nói,
cố
trấn
an
người
đàn
bà
lúc
này
đã
mất
bình
tĩnh:
“Nào,
nào,
xin
bà
cứ
từ
từ,
nếu
những
điều
Lúcia
nói
là
thực
thì
vinh
dự
lớn
lao
cho
bé
và