|
CÁC
TÍN
ĐIỀU
VỀ
MẸ
MARIA
Cao
Tấn
Tĩnh
"Những
lần
Mẹ
hiện
ra"
từ
thế
kỷ
19
là
dấu
hiệu
thứ
nhất
chứng
tỏ
đây
là
thời
của
Mẹ
Maria.
Dấu
hiệu
thứ
hai
chứng
tỏ
đây
là
thời
của
Mẹ
Maria,
đó
là,
cũng
từ
thế
kỷ
19
trở
đi,
ba
tín
điều
về
Mẹ
Maria
đã
được
Giáo
Hôi
chính
thức
tuyên
tín.
Trong
khi
đó,
18
thế
kỷ
trước,
chỉ
có
một
tín
điều
duy
nhất
về
Mẹ
là
tín
điều
Mẹ
Thiên
Chúa
được
Giáo
Hội
tuyên
tín
vào
năm
431
ở
công
đồng
chung
Êphêsô
mà
thôi.
Vào
thời
kỳ
ấy,
thời
công
đồng
Êphêsô,
có
một
vị
linh
mục
tên
Anastasiô
công
khai
chối
bỏ
thiên
chức
Mẹ
Thiên
Chúa
(Theotokos)
của
Mẹ,
và
chỉ
công
nhận
Mẹ
là
Mẹ
của
Chúa
Kitô
(Khristotokos).Chính
Nestôriô
là
thượng
phụ
Constantinôpôli
năm
428
cũng
chấp
nhận
như
vậy,
tức
công
nhận
Chúa
Kitô
có
hai
Ngôi
Vị,
một
thần
linh
và
một
nhân
loại.
Dựa
vào
bức
thư
thứ
hai
trong
ba
bức
thư
của
thánh
Giáo
Phụ
Cyrilô
Alexandria
gửi
cho
Nestôriô,
các
nghị
phụ
tham
dự
công
đồng
chung
này,
vào
ngày
22-6-431,
đã
tuyên
tín
như
sau:
“Không
phải
Ngôi
Lời
đã
từ
trời
xuống
ở
với
một
phàm
nhân
được
Trinh
Nữ
Thánh
sinh
ra
đầu
tiên;
mà
là,
vì
nên
một
với
xác
thể
trong
lòng
(của
Trinh
Nữ
Thánh),
Ngôi
Lời
đã
được
sinh
ra
theo
xác
thể,
như
là
việc
sinh
ra
theo
xác
thể
của
mình...
Bởi
thế,
(các
giáo
phụ)
đã
không
ngại
gọi
Trinh
Nữ
Thánh
là
'Mẹ
Thiên
Chúa'
(Theotokos).
Điều
này
không
có
nghĩa
là
bản
tính
của
Ngôi
Lời
hay
Thiên
Tính
của
Ngài
đã
được
bắt
đầu
hiện
hữu
từ
Trinh
Nữ
Thánh,
mà
là,
vì
Thánh
Thể
được
sinh
động
bởi
hồn
thiêng,
mà
Ngôi
Lời
đã
ngôi
hiệp
(kath'hupostasin)
với
chính
mình,
được
sinh
ra
bởi
Người,
nên
Ngôi
Lời
đã
được
sinh
ra
theo
xác
thể”
(TCF:148-149).
Và,
cũng
bắt
đầu
từ
đó,
Giáo
Hội
đã
dạy
cho
con
cái
mình
cầu
nguyện
cùng
Mẹ:
“Thánh
Maria
Đức
Mẹ
Chúa
Trời,
cầu
cho
chúng
con
là
kẻ
có
tội,
khi
nay
và
trong
giờ
lâm
tử.
Amen”.
Tuy
nhiên,
việc
Giáo
Hội
tuyên
tín
Mẹ
là
Mẹ
Thiên
Chúa,
một
tín
điều
duy
nhất
trong
suốt
18
thế
kỷ
đầu
của
Giáo
Hội,
là
một
việc
không
thể
nào
không
làm
để
chống
lại
những
sai
lầm
của
lạc
thuyết
Nestôriô,
một
lạc
thuyết
đã
tác
hại
ghê
gớm
đến
đức
tin
và
phần
rỗi
đời
đời
của
các
tín
hữu.
Trong
khi
đó,
từ
bán
thế
kỷ
thứ
19,
trong
vòng
có
110
năm
(1954-1964),
Giáo
Hội
đã
tự
cảm
thấy,
(chứ
không
phải
vì
ngoại
cảnh
bắt
buộc),
đến
lúc
cần
phải
công
bố
thêm
3
tín
điều
về
Mẹ
nữa,
đó
là
tín
điều
Mẹ
Đầu
Thai
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội,
Mẹ
Lên
Trời
Cả
Hồn
Lẫn
Xác
và
Mẹ
Là
Mẹ
Của
Giáo
Hội.
TÍN
ĐIỀU
MẸ
VÔ
NHIỄM
NGUYÊN
TỘI.
Đức
Thánh
Cha
Piô
IX,
bằng
trọng
sắc
Ineffabilis
Deus,
đã
long
trọng
tuyên
bố
tín
điều
này
vào
ngày
8/12/1854,
(sau
đó
hơn
3
năm,
ngày
25-3-1858,
chính
Đức
Mẹ
đã
công
nhận
tín
điều
này
khi
hiện
ra
với
chị
thánh
Bernadette
tự
xưng
mình
là
“Đấng
Đầu
Thai
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội").
Với
uy
quyền
của
Chúa
chúng
ta
là
Đức
Giêsu
Kitô,
của
hai
thánh
tông
đồ
Phêrô
và
Phaolô,
cũng
như
của
riêng
Ta,
Ta
công
bố,
tuyên
ngôn
và
xác
nhận
tín
điều
được
mạc
khải
bởi
Thiên
Chúa
buộc
mọi
tín
hữu
phải
tin
vững
vàng
và
trung
kiên
là
“Rất
Thánh
Trinh
Nữ
Maria,
ngay
từ
giây
phút
đầu
thai,
nhờ
đặc
ân
của
Thiên
Chúa
toàn
năng
và
công
nghiệp
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
Đấng
Cứu
Thế,
đã
được
gìn
giữ
vô
nhiễm
khỏi
mọi
tì
vết
của
nguyên
tội”
(TCF:204).
TÍN
ĐIỀU
MẸ
LÊN
TRỜI
CẢ
HỒN
LẪN
XÁC.
Qua
tông
hiến
Munificentissimus
Deus,
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
đã
long
trọng
tuyên
bố
tín
điều
này
vào
ngày
lễ
Các
Thánh
Nam
Nữ,
1-11-1950.Phải
chăng,
như
ở
Lộ
Đức,
Đức
Mẹ
đã
hiện
ra
để
xác
nhận
tín
điều
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
được
Đức
Thánh
Cha
Piô
IX
công
bố
thế
nào,
Mẹ
cũng
tỏ
ra
xác
nhận
tín
điều
Hồn
Xác
Lên
Trời
về
Mẹ
do
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
công
bố
như
vậy,
khi
cho
ngài
thấy
bốn
lần,
vào
những
ngày
30
và
31
tháng
10
và
ngày
1
và
8
tháng
11
năm
1950
(TWTAF3:284-287),
hiện
tượng
mặt
trời
nhẩy
múa
như
ở
Fatima
ngày
13-10-1917
trước
kia?
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
đã
ban
bố
tín
điều
này
như
sau:
“Ta
tuyên
xưng,
công
bố
và
xác
nhận
tín
điều
được
Thiên
Chúa
mạc
khải
là
Mẹ
Thiên
Chúa
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội,
Đức
Maria
trinh
nguyên,
khi
thời
gian
sống
tại
thế
hoàn
tất,
cả
hồn
lẫn
xác
của
Người
đã
được
đưa
về
trời
trong
vinh
quang
thiên
quốc”
(TCF:207).
TUYÊN
XƯNG
MẸ
LÀ
MẸ
CỦA
GIÁO
HỘI.
Đức
Thánh
Cha
Phaolô
VI,
trong
dịp
kết
thúc
kỳ
họp
ba
của
công
đồng
chung
Vaticanô
II,
cũng
là
dịp
hiến
chế
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium
được
công
bố,
trước
mặt
toàn
thể
các
nghị
phụ
của
công
đồng,
đã
chính
thức
tuyên
bố:
“Ta
mong
muốn
Mẹ
Thiên
Chúa
phải
được
cả
thế
giới
Kitô
hữu
tôn
vinh
và
khẩn
cầu
hơn
nữa
bằng
tước
hiệu
(Mẹ
Giáo
Hội)
tuyệt
dịu
ngọt
này”
(CTFY:88).
Trong
dịp
chính
thức
tuyên
xưng
Mẹ
Maria
là
Mẹ
của
Giáo
Hội
này,
Đức
Thánh
Cha
Phaolô
VI
cũng
lập
lại
việc
hiến
dâng
toàn
thể
thế
giới
cho
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
của
Mẹ,
việc
hiến
dâng
đã
được
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
thực
hiện
hai
lần,
một
vào
ngày
31-10-1942
và
một
vào
ngày
7-7-1952.
Đức
Thánh
Cha
Phaolô
VI
đã
lập
lại
việc
hiến
dâng
này
như
sau:
“Ta
đã
quyết
định
gửi
một
đại
diện
đến
Fatima
vào
một
ngày
gần
đây
để
mang
Bông
Hồng
Bằng
Vàng
đến
Đền
Thánh
Fatima,
nơi
yêu
qúi
hơn
bao
giờ
hết,
chẳng
những
đối
với
nhân
dân
của
nước
Bồ
Đào
Nha
diễm
phúc...
mà
còn
được
tín
hữu
trên
khắp
thế
giới
Công
Giáo
nhận
biết
và
tôn
kính.
Bằng
việc
làm
này,
Ta
có
ý
muốn
phú
thác
cả
gia
đình
nhân
loại,
với
những
hoạn
nạn
và
âu
lo
của
họ,
với
những
ước
vọng
thâm
sâu
và
hy
vọng
tha
thiết
của
họ,
cho
sự
chăm
sóc
của
Mẹ
thiên
đình”
(CTFY:88).
Ngoài
ra,
trong
Thời
Đại
Maria
này,
Giáo
Hội,
qua
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII,
cũng
đã
thực
hiện
hai
việc
liên
quan
trực
tiếp
đến
Đức
Mẹ
nữa,
đó
là
việc
ngài
cho
mừng
lễ
Trái
Tim
Đức
Mẹ
trong
toàn
thể
Giáo
Hội
hoàn
vũ
cũng
như
lập
lễ
Đức
Mẹ
Nữ
Vương,
và
việc
ngài
phong
hiển
thánh
cho
hai
vị
Thánh
của
Mẹ,
thánh
Louis
Marie
Grignion
De
Monfort
ngày
20/7/1947,
và
thánh
Catarina
Labuarê
ngày
27/7/1947.
Lễ
Trái
Tim
Đức
Mẹ:
Thật
ra,
theo
văn
thư
Acta
Apostolicae
Sedis
của
thánh
bộ
Lễ
Nghi
ban
hành
ngày
4/5/1944,
lễ
Trái
Tim
Đức
Mẹ
đã
được
bắt
đầu
mừng
từ
thời
Trung
Cổ
và
được
Giáo
Hội
chấp
nhận
vào
đầu
thế
kỷ
thứ
19.
Đức
Thánh
Cha
Piô
VII
(1800-1823)
đã
cho
phép
các
giáo
phận
hay
dòng
tu
nào
xin
mừng
lễ
Khiết
Tâm
Mẹ
sẽ
được
cử
hành
vào
ngày
Chúa
Nhật
sau
tuần
bát
nhật
Lễ
Đức
Mẹ
Mông
Triệu.
Sau
đó,
Lễ
Trái
Tim
Mẹ
được
lan
rộng
khắp
nơi,
và
Đức
Thánh
Cha
Piô
IX
(1848-1878)
đã
chính
thức
cho
vào
niên
lịch
phụng
vụ
hằng
năm
của
Giáo
Hội.
Cho
đến
ngày
24/10/1940,
chị
Lucia
đã
viết
thơ
trình
lên
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
điều
“yêu
cầu”
của
Mẹ
liên
quan
đến
việc
Mẹ
sẽ
làm
cho
nước
Nga
trở
lại,
và
cuối
thơ
chị
có
xin
Đức
Thánh
Cha
cho
mừng
chung
trong
Giáo
Hội
hoàn
vũ
lễ
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
như
là
một
trong
những
lễ
chính.
Phần
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII,
cũng
trong
văn
thư
của
thánh
bộ
Lễ
Nghi
trên
đây,
“để
ghi
nhớ
cuộc
hiến
dâng
này,
(cuộc
hiến
dâng
Giáo
Hội
hoàn
vũ
và
cả
loài
người
cho
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
mà
Đức
Thánh
Cha
đã
thực
hiện
ngày
31/10/1942),
Ngài
đã
quyết
định
cho
Giáo
Hội
hoàn
vũ
mừng
lễ
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ.
Lễ
này
sẽ
được
cử
hành
mỗi
năm
vào
ngày
22
tháng
8,
thay
ngày
bát
nhật
lễ
Đức
Mẹ
Mông
Triệu,
với
bậc
lễ
hạng
nhì...”
(TWTAF3:82-83).
Lễ
Mẹ
Nữ
Vương:
Lễ
Mẹ
Nữ
Vương
được
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
lập
trong
Năm
Thánh
Mẫu,
vào
ngày
lễ
Đức
Mẹ
Thiên
Chúa
11/10/1954.
Qua
bức
thông
điệp
Ad
Coeli
Reginam,
Đức
Thánh
Cha
nhắc
lại
việc
đội
triều
thiên
cho
Mẹ
năm
1946
và
quyết
định:
“Ta
ban
hành
và
thiết
lập
Lễ
Maria
Nữ
Vương,
được
mừng
chung
Giáo
Hội
hằng
năm
vào
ngày
31/5”.
Cũng
trong
thông
điệp
này,
Đức
Thánh
Cha
còn
đề
cập
đến:
“Việc
hiến
dâng
loài
người
cho
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
phải
được
lập
lại
trong
ngày
này...
Với
niềm
tin
tưởng
hơn
trước,
mọi
người
hãy
đến
với
ngai
tòa
tình
thương
và
ân
sủng
của
Nữ
Vương
và
Từ
Mẫu
để
xin
trợ
giúp
trong
cơn
quẫn
bách,
ánh
sáng
trong
lúc
tối
đen,
và
sức
mạnh
trong
lúc
đau
thương
khóc
lóc..."
(TWTAF3:395).
Sau
Công
Đồng
Chung
Vaticanô
II,
theo
tinh
thần
canh
tân
phụng
vụ,
một
số
Lễ
kính
Đức
Mẹ
cũng
được
thay
đổi,
trong
đó
có
lễ
Trái
Tim
Mẹ
và
lễ
Mẹ
Nữ
Vương.
Lễ
Mẹ
Nữ
Vương
được
dời
xuống
ngày
22/8
thay
vì
31/5
hằng
năm,
và
lễ
Trái
Tim
Mẹ
được
dời
lên
ngày
Thứ
Bảy
ngay
sát
Thứ
Sáu
lễ
Thánh
Tâm
Chúa
trong
tuần
lễ
Kính
Mình
Máu
Thánh
Chúa.
Thánh
Louis
Marie
Grignion
De
Monfort
(1673-1716)
Thánh
nhân
là
vị
thánh
lập
hai
dòng
tu
cho
Giáo
Hội,
một
nữ
và
một
nam.
Dòng
nữ
là
dòng
Nữ
Tử
Đấng
Khôn
Ngoan,
được
lập
năm
“3,
và
dòng
nam
là
dòng
Thừa
Sai
Mẹ
Maria
(cũng
gọi
là
dòng
các
Linh
Mục
Và
Huynh
Đệ
Thánh
Monfort).
Ngài
cũng
là
tác
giả
của
tác
phẩm
thời
danh
Thành
Thật
Sùng
Kính
Mẹ
Maria,
một
tác
phẩm
mà
chính
ngài
đã
tiên
đoán
về
số
phận
của
nó:
“Tôi
thấy
trước
một
cách
r
ràng
là
những
con
mãnh
thú
sẽ
dùng
nanh
vuốt
qủi
quyệt
của
chúng
để
sâu
xé
bản
văn
nhỏ
bé
này...
hay,
ít
là
dấu
nó
đi
trong
bóng
tối
vắng
lặng
nào
đó
không
lộ
ra
được”
(TDTM,114).
Quả
nhiên,
mãi
đến
năm
1842,
cuốn
sách
này
mới
được
một
linh
mục
dòng
của
ngài
tình
cờ
tìm
thấy
trong
một
thùng
sách
cũ
ở
tu
viện
Laurent-
sur-Sèvre.
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
đã
nói
về
ngài
khi
phong
thánh
cho
ngài
như
sau:
“Sùng
Kính
Mẹ
Maria
là
sức
mạnh
mãnh
liệt
trong
công
cuộc
tông
đồ
của
ngài
và
bí
mật
tuyệt
diệu
nhất
của
ngài
trong
việc
lôi
kéo
các
linh
hồn
và
ban
Chúa
Giêsu
cho
họ”
(TDTM:v).
Thánh
Catarina
Labuarê
(1806-1876)
Nữ
Thánh
Nhân
là
chị
nữ
tu
dòng
Nữ
Tử
Bác
Ái
thánh
Vinh-Sơn
Phao-Lô,
được
Đức
Mẹ
hiện
ra
vào
năm
1830
và
trao
cho
3
sứ
mệnh,
như
Đức
Thánh
Cha
Piô
XII
đã
nói
về
chị
trong
dịp
phong
thánh
cho
chị
ngày
27/7/1947,
đó
là:
“Phục
hồi
lòng
sốt
sắng
đã
bị
nguội
lạnh
trong
hai
hội
dòng
bác
ái
của
chị;
nhận
chìm
toàn
thể
thế
giới
vào
trận
lụt
đầy
những
mẫu
ảnh
kim
loại
nho
nhỏ
là
những
gì
chứa
đựng
các
ơn
xót
thương
của
Đấng
Vô
Nhiễm
Tội
ban
cho
cả
hồn
lẫn
xác;
lập
một
hội
đạo
đức
'Con
Cái
Mẹ
Maria'
để
bảo
toàn
và
thánh
hóa
giới
phụ
nữ
trẻ”
(TWTAF3:108).
Hai
Á
Thánh
Thiếu
Nhi
Fatima
Phanxicô
và
Giaxinta
Đức
Thánh
Cha
Gioan
Phaolô
II
đã
phong
Chân
Phước
cho
Hai
Thiếu
Nhi
Fatima
là
Phanxicô
và
Giaxinta
ngày
13/5/2000.
Những
tín
điều
về
Mẹ
Maria
gồm
có:
tín
điều
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Thiên
Chúa,
tín
điều
Mẹ
Maria
Trọn
Đời
Đồng
Trinh,
tín
điều
Mẹ
Maria
Đầu
Thai
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội,
tín
điều
Mẹ
Maria
Mông
Triệu
Cả
Hồn
Lẫn
Xác,
và
tước
hiệu
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Giáo
Hội.
Để
có
một
cái
nhìn
tổng
quát
và
đầy
đủ
các
tín
điều
hay
tước
hiệu
về
Mẹ
Maria,
xin
trưng
dẫn
toàn
bộ
giáo
huấn
của
Giáo
Hội
theo
thứ
tự
dưới
đây.
Tín
điều
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Thiên
Chúa
được
Công
Đồng
Chung
Ephêsô
tuyên
tín
năm
431
là:
“Tuyệt
thông
cho
những
ai
không
tuyên
xưng
rằng
Đấng
Emmanuel
thực
sự
là
Thiên
Chúa,
và
bởi
thế,
Đức
Trinh
Nữ
là
Mẹ
của
Thiên
Chúa
(theotokos)
(vì
Mẹ
đã
hạ
sinh
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
hóa
thành
nhục
thể
theo
xác
thịt)”.
(DS
252
hay
“The
Christian
Faith”
trang
149)
Tín
điều
Mẹ
Maria
Trọn
Đời
Đồng
Trinh
được
Công
Đồng
Latêran
tuyên
tín
năm
649,
như
sau:
“Khốn
cho
những
ai
không
theo
các
vị
Nghị
Phụ
thánh
đức
tuyên
xưng
một
cách
chân
thực
và
xác
đáng
rằng
Đức
Maria,
trinh
nguyên
và
vô
nhiễm,
là
Mẹ
Thiên
Chúa,
vì
Mẹ
đã
thực
sự
thụ
thai
chính
Thiên
Chúa
Ngôi
Lời,
Đấng
được
Thiên
Chúa
Ngôi
Cha
hạ
sinh
trước
các
kỳ
thời,
bởi
Chúa
Thánh
Thần
mà
không
cần
đến
hạt
giống
loài
người,
và
đã
sinh
ra
Người
hoàn
toàn
không
bị
hư
hại
gì,
tình
trạng
đồng
trinh
của
Mẹ
sau
khi
sinh
con
cũng
không
hề
bị
sứt
mẻ”.
(DS
503
hay
“The
Christian
Faith”,
như
trên,
trang
166)
Tín
điều
Mẹ
Maria
Đầu
Thai
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
được
Đức
Piô
IX
long
trọng
tuyên
bố
bằng
sắc
lệnh
“Ineffabilis
Deus”
vào
ngày
Lễ
Mẹ
Vô
Nhiễm,
8/12/1854,
rằng:
“Để
vinh
danh
Ba
Ngôi
thánh
thiện
duy
nhất,
để
tôn
kính
và
hiển
danh
Trinh
Nữ
Mẹ
Thiên
Chúa,
để
phấn
khởi
đức
tin
Công
Giáo
và
phát
triển
Kitô
Giáo;
bằng
quyền
bính
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
của
các
thánh
tông
đồ
Phêrô
và
Phaolô,
và
bằng
thẩm
quyền
của
mình,
Tôi
tuyên
xưng,
công
bố
và
xác
nhận
rằng:
tín
lý
cho
rằng
rất
Thánh
Nữ
Trinh
Maria,
ngay
từ
giây
phút
đầu
thai
của
mình,
nhờ
ơn
sủng
cùng
với
đặc
ân
chuyên
nhất
của
Thiên
Chúa
toàn
năng,
và
dựa
vào
công
nghiệp
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
Đấng
Cứu
Chuộc
loài
người,
đã
được
gìn
giữ
vô
nhiễm
khỏi
mọi
tì
vết
của
nguyên
tội,
là
điều
được
Thiên
Chúa
mạc
khải,
vì
thế,
tất
cả
mọi
tín
hữu
đều
phải
mạnh
mẽ
và
liên
lỉ
tin
tưởng”.
(DS
2803
hay
“The
Christian
Faith”,
như
trên,
trang
204)
Tín
điều
Mẹ
Maria
Mông
Triệu
Cả
Hồn
Lẫn
Xác
được
Đức
Piô
XII
long
trọng
tuyên
bố
bằng
tông
hiến
“Munificentissimus
Deus”
ngày
Lễ
Kính
Các
Thánh,
1/11/1950,
như
sau:
“Để
tôn
vinh
Thiên
Chúa
toàn
năng
là
Đấng
đã
ban
muôn
vàn
ơn
lành
đặc
biệt
của
Ngài
trên
Trinh
Nữ
Maria,
để
tôn
kính
Con
Ngài
là
Vua
muôn
đời,
Đấng
đã
chiến
thắng
tội
lỗi
và
sự
chết,
để
Người
Mẹ
cao
cả
của
Người
được
hiển
vinh
hơn,
và
để
toàn
thể
Giáo
Hội
hân
hoan
phấn
khởi;
bằng
quyền
bính
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
của
các
thánh
tông
đồ
Phêrô
và
Phaolô,
và
bằng
thẩm
quyền
của
mình,
Tôi
công
bố,
tuyên
xưng
và
xác
nhận
như
là
một
tín
điều
được
Thiên
Chúa
mạc
khải:
Người
Mẹ
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
của
Thiên
Chúa,
Đức
Maria
Trinh
Nguyên,
sau
khi
hoàn
tất
cuộc
đời
trần
thế
của
mình,
đã
được
mang
lên
hưởng
vinh
quang
trên
trời
cả
thân
xác
lẫn
linh
hồn”.
(DS
3903
hay
“The
Christian
Faith”,
như
trên,
trang
207)
Tước
hiệu
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Giáo
Hội
được
Đức
Phaolô
VI
long
trọng
tuyên
bố
ngay
trong
buổi
họp
Công
Đồng
Chung
Vaticanô
II
để
ban
hành
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Bản
Chất
Giáo
Hội
Lumen
Gentium
(Anh
Sáng
Muôn
Dân)
vào
ngày
21/11/1964,
như
sau:
“Khi
chúng
ta
xét
đến
những
liên
hệ
chặt
chẽ
gắn
bó
Đức
Maria
và
Giáo
Hội,
như
những
mối
liên
hệ
này
đã
được
diễn
đạt
hết
sức
rõ
ràng
trong
Hiến
Chế
Công
Đồng
này,
những
mối
liên
hệ
khiến
chúng
ta
phán
quyết,
trong
giây
phút
rất
long
trọng
này
đây,
đặc
biệt
rất
thích
đáng
để
làm
mãn
nguyện
một
ước
vọng,
một
ước
vọng
chúng
tôi
bộc
lộ
ở
vào
lúc
kết
thúc
buổi
họp
cuối
này,
và
cũng
là
ước
vọng
của
rất
nhiều
vị
Nghị
Phụ,
khẩn
khoản
yêu
cầu
là
trong
Công
Đồng
đây,
vai
trò
từ
mẫu
mà
Đức
Thánh
Trinh
Nữ
Maria
thực
hiện
đối
với
dân
Kitô
Giáo
cần
phải
được
công
bố
bằng
những
từ
ngữ
rõ
ràng.
Vì
lý
do
này,
chúng
tôi
thấy
rằng,
trong
cuộc
họp
công
khai
này,
chúng
tôi
phải
chính
thức
công
bố
tước
hiệu
mà
Đức
Trinh
Nữ
Maria
cần
được
tôn
kính,
tước
hiệu
đã
được
đệ
xin
từ
nhiều
nơi
trong
Giáo
Hội
hoàn
vũ,
và
cũng
là
một
tước
hiệu
đối
với
chúng
tôi
đáng
chấp
nhận
và
thỏa
lòng
cách
đặc
biệt;
vì
tước
hiệu
này
mang
lại
một
cách
xác
thực
tuyệt
vời
vị
trí
hiển
nhiên
xứng
hợp
với
Mẹ
Thiên
Chúa
trong
Giáo
Hội
được
Công
Đồng
này
đã
công
nhận.
Bởi
thế,
để
vinh
danh
Đức
Trinh
Nữ
và
để
chúng
ta
được
an
ủi,
chúng
tôi
tuyên
bố
Rất
Thánh
Maria
là
Mẹ
Giáo
Hội,
tức
là
Mẹ
của
toàn
thể
Dân
Kitô
Giáo,
cả
giáo
dân
lẫn
mục
tử,
thành
phần
gọi
Người
là
một
Người
Mẹ
rất
yêu
dấu;
và
vì
thế
chúng
tôi
truyền
cho
toàn
thể
Dân
Kitô
Giáo
hãy
dâng
lên
Mẹ
Thiên
Chúa
một
niềm
kính
tôn
hơn
nữa
và
hãy
nguyện
cầu
cùng
Người
bằng
tên
gọi
rất
ngọt
ngào
này”.
(trích
dịch
từ
“Theotokos”,
by
Michael
O’Carroll,
C.S.Sp,
Michael
Glazier,
Inc.,
third
revised
edition,
1988,
trang
251)
Nếu
căn
cứ
vào
kiểu
cách
Đức
Phaolô
VI
công
bố
tước
hiệu
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Giáo
Hội
này
thì
có
khác
gì
với
lần
Đức
Piô
IX
công
bố
tín
điều
Mẹ
Maria
Đầu
Thai
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
và
lần
Đức
Piô
XII
công
bố
tín
điều
Mẹ
Maria
Lên
Trời
Cả
Hồn
Lẫn
Xác.
Vì
Đức
Phaolô
VI
cũng
dùng
đến
quyền
bính
tối
cao
của
mình,
chẳng
những
“công
bố
Rất
Thánh
Maria
là
Mẹ
Giáo
Hội”
mà
còn
“truyền
cho
toàn
thể
Dân
Kitô
Giáo”
phải
“kính
tôn”
Mẹ
và
“cầu
nguyện”
với
Mẹ
“bằng
tên
gọi
rất
ngọt
ngào
này”
nữa.
Và
việc
Đức
Phaolô
VI
đã
“công
bố”
và
“truyền”
làm
như
thế
không
phải
chỉ
bằng
một
văn
kiện,
mà
là
bằng
lời
nói
sống
động
ngay
trước
mặt
toàn
thể
hàng
giáo
phẩm
thế
giới
đang
tham
dự
Công
Đồng
Chung
bấy
giờ,
thành
phần
đại
diện
cho
toàn
thể
Dân
Chúa.
Nếu
“Rất
Thánh
Maria
là
Mẹ
Giáo
Hội”
được
thẩm
quyền
tối
cao
của
Giáo
Hội
công
bố
một
cách
long
trọng
chưa
từng
có
như
thế,
thì
điều
công
bố
này
lại
có
thể
sai
lầm
được
chăng,
và
có
thể
phủ
nhận
và
không
đáng
tin
chăng?
Do
đó,
“Rất
Thánh
Maria
là
Mẹ
Giáo
Hội”,
theo
cách
thức
và
ngôn
từ
công
bố
của
Đức
Phaolô
VI,
cũng
có
thể
mang
một
tính
chất
quan
trọng
và
thiết
yếu
như
các
Tín
Điều
Thánh
Mẫu
chính
thức
khác.
Bản
Tuyên
Xưng
Đức
Tin
do
Thánh
Bộ
Phụ
Trách
Tín
Lý
Đức
Tin
phác
họa
và
phổ
biến
ngày
9/1/1989
cho
các
vị
có
trách
nhiệm
liên
quan
đến
các
chân
lý
đức
tin
và
luân
lý,
có
đoạn
thứ
hai
về
việc:
“Tôi
phải
lấy
cả
ý
muốn
lẫn
trí
khôn
thuận
phục
các
giáo
huấn
do
Giáo
Hoàng
hay
Giám
Mục
Đoàn
công
bố
khi
các
ngài
thực
hành
Huấn
Quyền
chính
thức
của
mình,
cho
dù
các
ngài
không
có
ý
công
bố
những
giáo
huấn
này
bằng
một
hành
động
dứt
khoát”
(đoạn
2,
Tông
Thư
Motu
Proprio:
“Ad
Tuendam
Fidem”
của
ĐTC
Gioan
Phaolô
II,
L’Osservatore
Romano,
bản
Anh
Ngữ,
số
28/1550,
15/7/1998).
Nếu
căn
cứ
vào
đoạn
thứ
hai
của
Bản
Tuyên
Xưng
trên
đây,
thì
việc
Đức
Thánh
Cha
Phaolô
VI
công
bố
tước
hiệu
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Giáo
Hội,
một
tước
hiệu
nói
lên
chính
thực
tại
của
vai
trò
Mẹ
Maria
thực
sự
là
Mẹ
của
Giáo
Hội,
cũng
là
một
đối
tượng
của
Đức
Tin,
như
các
Tín
Điều
Thánh
Mẫu
khác.
Giáo
lý
Mẹ
Maria
Đồng
Công
Cứu
Chuộc,
tuy
chưa
được
Giáo
Hội
chính
thức
long
trọng
tuyên
bố
như
các
tín
điều
trên
đây,
tuy
nhiên,
Đức
Gioan
Phaolô
II
cũng
đã
công
nhận
và
trình
bày
vai
trò
cộng
tác
của
Mẹ
trong
dự
án
cứu
độ
của
Thiên
Chúa
cũng
như
trong
công
cuộc
cứu
chuộc
của
Chúa
Kitô,
qua
bài
giáo
lý
(trong
loạt
70
bài
vào
thời
khoảng
6/9/1995-12/11/1997)
về
Mẹ,
hôm
Thứ
Tư
ngày
9/4/1997,
như
sau:
“Từ
ngữ
‘cộng
tác
viên’
áp
dụng
cho
Mẹ
Maria
đòi
có
một
ý
nghĩa
đặc
biệt.
Việc
các
tín
hữu
cộng
tác
trong
ơn
cứu
chuộc
xẩy
ra
sau
biến
cố
Canvê,
một
biến
cố
sinh
hoa
kết
trái
do
nỗ
lực
nguyện
cầu
và
hy
sinh
của
họ.
Còn
Mẹ
Maria
đã
cộng
tác
trong
chính
biến
cố
này
và
với
vai
trò
làm
mẹ;
bởi
thế,
việc
cộng
tác
của
Mẹ
bao
hàm
toàn
thể
công
cuộc
cứu
độ
của
Chúa
Kitô.
Chỉ
có
một
mình
Mẹ
đã
được
liên
kết
vào
hiến
tế
cứu
chuộc
bằng
cách
này,
một
hiến
tế
mang
ơn
cứu
độ
cho
toàn
thể
nhân
loại.
Hiệp
nhất
với
Chúa
Kitô
và
tùy
thuộc
vào
Người,
Mẹ
đã
hợp
tác
để
chiếm
lấy
ơn
cứu
độ
cho
toàn
thể
nhân
loại.
Vai
trò
làm
cộng
sự
viên
của
Đức
Trinh
Nữ
bắt
nguồn
từ
thiên
mẫu
chức
của
Mẹ...
Việc
cộng
tác
đặc
thù
của
Mẹ
Maria
vào
dự
án
cứu
độ
có
một
ý
nghĩa
như
thế
nào?
Điều
này
cần
phải
tìm
thấy
nơi
ý
định
đặc
biệt
của
Thiên
Chúa
đối
với
Mẹ
Chúa
Cứu
Thế,
nhân
vật
mà
vào
hai
trường
hợp,
một
ở
tiệc
cưới
Cana
và
một
ở
chân
Thập
Giá,
Chúa
Giêsu
đã
ngỏ
lời
như
với
một
‘Bà’
(x.Jn.2:4;19:26).
Mẹ
Maria
đã
liên
kết
trong
công
cuộc
cứu
chuộc
như
một
người
đàn
bà.
Tạo
dựng
nên
con
người
‘có
nam
có
nữ’
(x.Gn.1:27),
Chúa
cũng
muốn
đặt
một
Tân
Evà
bên
cạnh
một
Tân
Adong
trong
việc
cứu
độ.
Cha
mẹ
đầu
tiên
của
chúng
ta
đã
chọn
con
đường
tội
lỗi
như
là
một
cặp
vợ
chồng;
Con
Thiên
Chúa
và
việc
cộng
tác
của
Mẹ
Người
cũng
có
nhau
để
tái
thiết
lập
giòng
giống
loài
người
theo
phẩm
giá
nguyên
thủy
của
nó...
Công
Đồng
đã
nghĩ
đến
vấn
đề
tín
lý
này
và
nhận
làm
của
mình
khi
nhấn
mạnh
đến
việc
đóng
góp
của
Đức
Trinh
Nữ
chẳng
những
vào
việc
hạ
sinh
Đấng
Cứu
Thế,
mà
còn
vào
sự
sống
của
Nhiệm
Thể
Người
nữa
qua
các
thế
hệ
cho
đến
lúc
‘cánh
chung’:
nơi
Giáo
Hội
Mẹ
Maria
‘đã
cộng
tác’
(x.Lumen
Gentium,
đoạn
63)
và
Mẹ
đã
‘cộng
tác’
trong
công
cuộc
cứu
độ
(cùng
nguồn,
đoạn
53)...
Hơn
nữa,
Công
Đồng
Chung
Vaticanô
II
trình
bày
Mẹ
Maria
chẳng
những
như
‘Mẹ
của
Đấng
Cứu
Chuộc
thần
linh’,
mà
còn
là
‘cộng
tác
viên
quảng
đại
một
cách
đặc
biệt’,
Mẹ
‘đã
cộng
tác
bằng
đức
tuân
phục
của
Mẹ,
bằng
đức
tin,
đức
cậy
và
đức
mến
bừng
cháy
của
Mẹ
trong
công
cuộc
của
Chúa
Cứu
Thế’.
Công
Đồng
còn
nhắc
lại
rằng
hoa
trái
cao
qúi
của
việc
cộng
tác
này
là
thiên
chức
làm
mẹ
phổ
quát
của
Mẹ:
‘Vì
lý
do
này,
Mẹ
là
mẹ
của
chúng
ta
theo
trật
tự
ân
sủng’”
(L’Osservatore
Romano,
bản
Anh
Ngữ,
số
16/1487,
16-4-1997,
trang
7)
Đã
có
500
vị
giám
mục,
40
vị
hồng
y
và
mấy
triệu
tín
hữu,
trong
đó
có
Mẹ
Têrêsa
Calcutta,
đồng
ký
tên
đệ
trình
Đức
Thánh
Cha
để
xin
ngài
công
bố
tín
điều
Mẹ
Maria
Là
Đấng
Đồng
Công
Cứu
Chuộc,
Là
Đấng
Trung
Gian
An
Sủng
và
Là
Đấng
Biện
Hộ
Cho
Dân
Chúa.
Nếu
Biến
Cố
Paris
và
Lộ
Đức
liên
quan
đến
tín
điều
Mẹ
Maria
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
thì
tước
hiệu
và
tác
dụng
thần
năng
vô
địch
của
tước
hiệu
“Ta
là
Đức
Mẹ
Mân
Côi”
trong
Biến
Cố
Fatima
cũng
rất
có
thể
sẽ
liên
quan
đến
tín
điều
Mẹ
Maria
Đồng
Công
Cứu
Chuộc.
Biết
đâu
việc
công
bố
Tín
Điều
Thánh
Mẫu
cuối
cùng
này
nằm
ở
trong
Bí
Mật
Fatima
phần
thứ
ba,
phần
chỉ
có
Đức
Thánh
Cha
được
đọc,
tức
phần
thuộc
về
phần
nhiệm
của
riêng
ngài,
nên
không
một
vị
giáo
hoàng
nào
(Gioan
XXIII,
Phaolô
VI
và
Gioan
Phaolô
II)
sau
khi
xem
xong
đã
cảm
thấy
cần
phải
công
bố
nội
dung
của
nó.
Trong
năm
tín
điều
này,
hai
tín
điều
đầu
được
Giáo
Hội
tuyên
tín
cách
nhau
118
năm,
còn
ba
tín
điều
tiếp
theo
lại
được
thẩm
quyền
Giáo
Hoàng,
chỉ
trong
thời
khoảng
110
năm.
Sở
dĩ
ba
tín
điều
Mẹ
Maria
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội,
Mẹ
Maria
Hồn
Xác
Lên
Trời
và
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Giáo
Hội
là
“dấu
chỉ
thời
đại”
cho
Thời
Điểm
Maria
là
vì,
so
với
hai
tín
điều
đầu,
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Thiên
Chúa
và
Mẹ
Maria
Trọn
Đời
Đồng
Trinh,
Giáo
Hội
chỉ
tuyên
tín
khi
có
lạc
giáo
mà
thôi,
trong
khi
ba
tín
điều
sau
là
do
Giáo
Hội
tự
động
“nhận
biết
và
yêu
mến
Mẹ”.
Chẳng
hạn
như
tín
điều
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Thiên
Chúa
được
tuyên
tín
là
vì
lạc
thuyết
Lưỡng
Ngôi,
một
lạc
thuyết
được
khai
triển
thêm
bởi
vị
thượng
phụ
giáo
chủ
(từ
năm
428)
ở
Antiôkia
là
Nestôriô
(?-450),
thành
lạc
thuyết
Nestorianism,
chủ
trương
Mẹ
Maria
chỉ
là
Mẹ
của
Đức
Kitô
(khristotokos)
mà
thôi,
chứ
không
phải
là
Mẹ
Thiên
Chúa
(theotokos),
vì
theo
Nestoriô,
Đức
Kitô
là
một
con
người
được
kết
hợp
với
thần
tính
của
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa,
và
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
ở
nơi
Đức
Kitô
“như
ở
trong
một
đền
thờ”.
Trường
hợp
tín
điều
Mẹ
Maria
Trọn
Đời
Đồng
Trinh
cũng
thế,
Giáo
Hội
tuyên
tín
vào
dịp
phi
bác
lạc
thuyết
Nhất
Ý
(Monothelitism),
một
lạc
thuyết
biến
thiên
từ
lạc
thuyết
Nhất
Tính
(Monophysitism)
nơi
Chúa
Giêsu
Kitô.
Theo
lạc
thuyết
Nhất
Tính,
như
Eutyches
(378-454),
một
đan
sĩ
ở
Contantinôpôli
đã
chấp
nhận
và
hết
mình
ủng
hộ,
chủ
trương
rằng
nhân
tính
của
Chúa
Giêsu
Kitô
bị
tiêu
biến
trong
thần
tính
của
Người
khi
hiệp
nhất
với
thần
tính,
do
đó,
nơi
Người
chỉ
còn
lại
một
bản
tính
duy
nhất.
Còn
theo
lạc
thuyết
Nhất
Ý,
do
vị
thượng
phụ
giáo
chủ
Contantinôpôli
(610-638
AD)
là
Sergius
chủ
trương,
với
mục
đích
nhằm
tái
hợp
các
giáo
hội
đang
bị
phân
rẽ
vì
lạc
thuyết
Nhất
Tính,
thì
ông
công
nhận
Chúa
Giêsu
Kitô
có
cả
hai
bản
tính,
thần
tính
và
nhân
tính,
tuy
nhiên,
ông
lại
cho
rằng,
nơi
Người
chỉ
có
một
hành
động
duy
nhất
(mono-energism)
và
chỉ
có
một
ý
muốn
duy
nhất
(monothelitism).
Nếu
nơi
Chúa
Giêsu
Kitô
chỉ
có
một
hành
động
và
một
ý
muốn
duy
nhất
như
Sergius
quan
niệm
như
thế,
thì
ông
vẫn
mặc
nhiên
cho
rằng
Người
chỉ
có
duy
một
bản
tính
chứ
không
phải
có
hai
bản
tính.
Trong
bản
phi
bác
lạc
thuyết
Nhất
Ý
của
Sergius
này,
Công
Đồng
Lateranô
năm
649
đã
dành
riêng
khoản
thứ
3
(trong
16
khoản),
một
khoản
liên
quan
trực
tiếp
đến
tín
điều
Mẹ
Maria
Trọn
Đời
Đồng
Trinh
như
đã
được
trích
dẫn
trên
đây.
Trong
khi
hai
Tín
Điều
Thánh
Mẫu
đầu
tiên
là
tín
điều
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Thiên
Chúa
và
tín
điều
Mẹ
Maria
Trọn
Đời
Đồng
Trinh
được
Giáo
Hội
tuyên
tín
chỉ
vì
có
trường
hợp
lạc
thuyết
để
bảo
vệ
Đức
Tin
Tông
Truyền
của
Giáo
Hội,
bằng
những
thành
ngữ
nghiêm
trọng
“tuyệt
thông
cho
những
ai”
hay
“khốn
cho
những
ai”,
thì
ba
Tín
Điều
Thánh
Mẫu
còn
lại
là
tín
điều
Mẹ
Maria
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội,
Mẹ
Maria
Hồn
Xác
Lên
Trời
và
Mẹ
Maria
Là
Mẹ
Giáo
Hội
lại
được
Giáo
Hội
tự
động
công
bố
như
chỉ
để
tỏ
ra
“nhận
biết
và
yêu
mến
Mẹ”,
được
diễn
tả
qua
các
thành
ngữ
“để
tôn
kính
và
hiển
danh
Trinh
Nữ
Mẹ
Thiên
Chúa”,
hay
“để
Người
Mẹ
cao
cả
của
Người
được
hiển
vinh
hơn”
hoặc
“để
vinh
danh
Đức
Trinh
Nữ”,
đúng
như
lời
tiên
đoán
của
thánh
Louis
Grignion
de
Montfort
đã
được
nhắc
đến
từ
đầu:
“Vào
lần
đến
lần
thứ
hai
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
Mẹ
Maria
phải
được
Thánh
Linh
làm
cho
nhận
biết
và
tỏ
hiện,
để
qua
Mẹ,
Chúa
Giêsu
Kitô
cũng
được
nhận
biết,
mến
yêu
và
phục
vụ”.
Như
thế,
Thời
Điểm
Maria,
đúng
như
Mẹ
đã
tiết
lộ
ở
Bí
Mật
Fatima
phần
thứ
hai,
là
thời
điểm
“Thiên
Chúa
muốn
thiết
lập
lòng
tôn
sùng
Trái
Tim
Vô
Nhiễm
Nguyên
Tội
Mẹ
trên
thế
giới”,
tức
đối
với
thành
phần
con
cái
cưng
yêu
của
Mẹ,
như
Mẹ
đã
nói
về
thân
phận
của
riêng
thiếu
nhi
Lucia
trong
lần
hiện
ra
thứ
hai,
13/6/1917,
là
Thời
Điểm
“Chúa
Giêsu
muốn
dùng
con
để
làm
cho
Mẹ
được
nhận
biết
và
yêu
mến”.
|