MẸ
MARIA SỨ GIẢ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi
Trở Về Mục Lục
SƠ LƯỢC NHỮNG LẦN MẸ MARIA ĐẾN VỚI CON CÁI TRẦN
GIAN
ĐƯỢC GIÁO HỘI NHÌN NHẬN HOẶC CHƯA
ĐƯỢC CÔNG NHẬN
(TỪ 1214 ĐẾN HÔM NAY)
|
Mua Sách
|
Giêsu, Maria, Giuse,
con yêu mến,
xin cứu rỗi các linh hồn.

Câu chuyện 07:
MẸ MARIA HIỆN RA TẠI PARIS, NƯỚC
PHÁP, NĂM 1830
Nước Pháp từng được mệnh danh là
Trưởng Nữ Giáo Hội Công Giáo vì có lịch sử gốc
rễ đức tin Công Giáo sâu đậm. Nhưng Nước Pháp
trải qua nhiều biến cố vĩ đại, nhiều giai đoạn
thăng trầm, biến cố lớn lao về chính trị, về đạo
đức luân lý, suy thoái đức tin. Một trong những
thời kỳ khủng hoảng lớn nhất của Pháp là thời kỳ
1789-1830 và về sau. Tại đây Mẹ Maria đã hiện ra
để báo trước những biến cốsắp xảy ra và để đưa
con cái Mẹ về với Chúa, về với đức tin.
Người được Mẹ Maria chọn làm
thông tín viên cho Mẹ trong biến cố này là một
đệ tử tại tu viện các Nữ Tu Bác Ái thánh Vincent
de Paul ở phố BAC, Paris, tên chị là Cathérine
Labouré. Chị Cathérine Labouré sinh ngày 2 tháng
5, 1806, tại làng nhỏ Fain-les-Moutiers, Pháp
Quốc. Cha của chị là một nông gia, đã từng theo
học lên chức linh mục nhưng ông hồi tục vì ghét
các cơ cấu của Giáo Hội. Mẹ của Cathérine chết
khi chị mới 9 hoặc 10 tuổi. Cathérine thất học
và bướng bỉnh. Mãi tới tuổi 24, chị mới bất đắc
dĩ được nhận vào tập tu tại dòng Nữ Bác Ái
Vinh-sơn ở phố BAC, Paris. Thời gian tập luyện
này, chị được trao cho nhiệm vụ lau nhà. Ngay
trong thời gian đầu tại nhà dòng này, chị được
ban những ơn lạ lùng, nhưng chị không thể giữ
kín được mà nói cho các chị em khác biết, nên
cha giải tội phải nói với chị rằng "chị ở đệ tử
viện để học phục vụ người nghèo khó, chứ không
phải để mộng mơ."
Đêm 18 tháng 7, 1830, áp lễ thánh
Vincent de Paul, chị Cathérine đi ngủ, chị tin
rằng thánh quan thầy sẽ giúp chị đạt được ước
nguyện cao vời là được thấy Đức Mẹ. Khoảng 11g30
khuya, chị Cathérine bị đánh thức dậy, nghe có
tiếng gọi tên chị ba lần. Trong phòng của chị,
chị thấy một cậu bé trạc bốn hoặc năm tuổi, tóc
vàng óng ánh, mặc áo trắng, có vầng hào quang
bao quanh. Cậu bé nói, "Này sơ! Này sơ! dậy đi.
Đi mau tới nhà nguyện. Đức Trinh Nữ chờ đợi sơ ở
đó!"
Chị Cathérine sợ, nhưng cậu bé
nói:
"Đừng sợ, mọi người đều ngủ say
cả. Tôi sẽ đi với sơ."
Chị Cathérine đi theo cậu bé dọc
hành lang. Hành lang rực sáng vì ánh sáng từ cậu
bé tỏa ra. Cửa nhà nguyện tự động mở ra, và
trong nhà nguyện đèn nến sáng trưng như thể
chuẩn bị Thánh Lễ Nửa Đêm. Cậu bé dẫn chị
Cathérine tới chờ tại phòng mặc áo. Chị
Cathérine kể rằng khoảng nửa đêm, chị nghe tiếng
xào xạc của những lớp áo lụa. Chị nói: "Tôi thấy
một vị phụ nữ đang ngồi trên ghế dành cho cha
giám đốc đặt trên bục bàn thờ."
Cậu bé nói với Cathérine:
"Đây là Đức Trinh Nữ!"
Nhưng Cathérine thoạt tiên không
tin rằng vị phụ nữ đó là Đức Trinh Nữ, và cậu bé
đọc được tư tưởng của chị, nên đổi giọng như
giọng người lớn và xác nhận vị phụ nữ đó chính
là Đức Trinh Nữ.
Trong khi Cathérine còn bối rối,
Đức Mẹ bắt đầu nói:
"Con của Mẹ, Thiên Chúa nhân lành muốn trao cho
con một sứ mệnh. Con sẽ phải đau khổ nhiều,
nhưng con sẽ vượt trên những đau khổ đó bằng
cách suy gẫm rằng những việc con làm là vì vinh
danh Thiên Chúa. Con sẽ bị dày vò cho tới khi
nào con nói hết với cha linh hướng con. Con sẽ
bị chống đối; nhưng đừng sợ, con sẽ được ân
sủng. Con hãy can đảm nói tất cả những gì xảy ra
tại đây và trong (lòng) con. Con hãy nói cách
đơn sơ. Đừng sợ."
Đức Mẹ nói tiếp:
"Thời kỳ này hết sức tồi tệ.
Những đau khổ sẽ trút xuống nước Pháp, ngai vàng
sẽ (lại) bị lật đổ, cả thế giới sẽ sớm rơi vào
thống khổ. Nhưng bây giờ hãy đến chân bàn thờ.
Tại đó muôn ơn sủng sẽ tràn đầy cho mọi người,
lớn nhỏ, những người tha thiết cầu xin các ơn
đó. Những xáo trộn nặng nề đang đến. Nguy cơ
nặng nề sẽ xảy đến cho đệ tử viện này và các
cộng đoàn tu khác. Tới một lúc khi sự nguy khốn
đó cao độ, mọi người sẽ tin là mất tất cả; con
sẽ nhớ lại lần viếng thăm này của Mẹ và đệ tử
viện này sẽ được Thiên Chúa bảo vệ. Nhưng việc
đó không xảy ra cho các cộng đoàn tu khác."
Tới đây Đức Mẹ khóc nước mắt chan
hòa.
Đức Mẹ nói tiếp:
"Trong hàng giáo phẩm ở Paris sẽ
có nhiều người là nạn nhân trong đó có Đức Tổng
Giám Mục, con của Mẹ; thánh giá sẽ bị coi
thường, người ta sẽ liệng thánh giá xuống đất và
chà đạp lên. Máu sẽ đổ. Các phố phường sẽ ngập
máu. Đức Tổng Giám Mục sẽ bị lột trần (tới đây
Đức Mẹ quá đau thương không nói được trong một
lát). Mắt Mẹ sẽ luôn dõi nhìn các con. Mẹ sẽ ban
cho các con ân sủng. Những ân sủng đặc biệt sẽ
được ban cho mọi người xin, nhưng người ta phải
cầu nguyện."
Tới đây Đức Mẹ biến đi.
Những điều Đức Mẹ nói với chị
Cathérine đã lần lượt xảy ra. Có những việc hầu
như xảy ra ngay, hoặc trong thời gian rất ngắn
sau đó, có những việc mãi 40 năm sau (1870) mới
xảy ra.
Đức Mẹ nói trong đêm 18-19 tháng
7, 1830 rằng "ngai vàng sẽ lại bị lật đổ" xảy ra
8 ngày sau, khi Vua Charles X bị lật đổ vào ngày
26-28 tháng 7, 1830, trong "Ba Ngày Vinh Quang"
được mệnh danh là Cuộc Cách Mạng tháng Bảy năm
1830.
Lời tiên báo "những xáo trộn lớn"
xảy ra khi đường phố Paris bị cản, những cuộc
náo loạn bùng nổ khắp Paris và nhiều nơi khác,
nhiều người bị giết. Những quân cướp xông vào
các thánh đường, Tượng Chịu Nạn bị gỡ ra, bẻ
gẫy, bị chà đạp và tiểu tiện vào. Đức Tổng Giám
Mục bị đánh đập, bị lột trần chỉ còn quần lót,
và hai lần ngài phải chạy trốn để giữ mạng sống.
Đệ tử viện Nữ Tử Bác Ái trên
đường BAC bị vây và phóng hỏa nhưng được bình
an, trong khi các nhà dòng khác bị đốt cháy hoặc
phá sập.
Lời Mẹ Maria cảnh cáo về "những
xáo trộn trầm trọng" còn xảy ra trong thời cách
mạng 1848, trong thời gian này đức tổng giám mục
Affré bị bắn chết. Năm 1870, thánh giá lại bị
chà đạp, và đức giám mục Darboy, tổng giám mục
Paris thời đó, bị ám sát ngay lúc khởi đầu Cuộc
Chiến Pháp-Phổ.
Bốn tháng sau ngày 18 tháng 7,
1830, Đức Mẹ hiện ra nhưng khác với lần trước.
Sau đây là lời chị Cathérine kể lại:
"Ngày 27 tháng 11, 1830, Chúa
Nhật trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, lúc 5g30
chiều, tôi nghe âm thanh tựa như áo lụa xào xạc,
từ diễn đàn gần ảnh thánh Giuse.
"Nhìn sang hướng đó, tôi thấy Đức
Trinh Nữ đang lửng lơ ngang tầm bức ảnh thánh
Giuse. Đức Trinh Nữ đứng lại. Người cao vừa
phải, và mặc áo toàn trắng.
"Áo dài của Đức Mẹ trắng như
sương mai, có cổ cao và cánh tay áo dài trơn.
Khăn choàng mầu trắng phủ trên đầu Người xuống
tới chân. Dưới khăn choàng là tóc Đức Mẹ, cuốn
lọn, được cột lại bằng dây trang sức ... Mặt Đức
Mẹ lộ ra vừa đủ, dĩ nhiên rất đẹp, quá đẹp đến
độ tôi không thể nào mô tả sắc đẹp tuyệt vời của
Nguời.
"Hai chân Đức Mẹ đứng trên trái
cầu mầu trắng, đúng ra phải nói nữa trái cầu,
hoặc ít ra là tôi chỉ nhìn thấy một nửa. Cũng có
con rắn mầu xanh đốm vàng.
"Một khuôn, hơi hơi bầu dục, bao
quanh Đức Trinh Nữ. Trong khuôn đó có những chữ
bằng vàng kim: 'Lạy Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên
Tội, xin cầu cho chúng con là những kẻ cầu khẩn
với Người.' Dòng chữ này chạy nửa vòng khuôn bầu
dục, bắt đầu từ ngang bàn tay phải, vòng trên
đầu, và chấm dứt ở ngang bàn tay trái của Đức
Trinh Nữ. Hai bàn tay Đức Mẹ lúc này đưa lên
ngang trong tư thế tựa như đang hiến dâng lên
Thiên Chúa trái cầu nhỏ bằng vàng, tiêu biểu cho
thế giới, trên trái cầu có thánh giá bằng vàng.
Cặp mắt Đức Trinh Nữ nhìn xuống. Khuôn mặt Đức
Trinh Nữ xinh đẹp tuyệt vời tôi không thể diễn
tả. ...
"Tôi thấy mỗi ngón tay Đức Mẹ có
ba chiếc nhẫn lớn nhỏ khác nhau. Nhẫn lớn nhất ở
đốt sát lòng bàn tay. Nhẫn cỡ trung ở đốt giữa.
Nhẫn nhỏ nhất ở ngoài cùng. Trên mỗi chiếc nhẫn
có những hạt kim cương lóng lánh lớn nhỏ khác
nhau. Một vài hạt đẹp hơn các hạt khác. Những
hạt kim cương lớn chiếu ra tia sáng lớn. Những
hạtnhỏ chiếu ra tia sáng nhỏ hơn. Những tia sáng
đó chói lòa bao phủ bệ dưới chân Đức Mẹ và tôi
không còn nhìn thấy hai bàn chân Đức Mẹ nữa.
"Trong khi tôi đang say sưa ngắm
nhìn Đức Trinh Nữ, Người nhìn xuống tôi. Tôi
nghe Người nói: 'Trái cầu này tiêu biểu toàn thể
thế giới, đặc biệt là Nước Pháp, và cách riêng
từng người. Những tia sáng này tiêu biểu các ân
sủng Mẹ ban cho những ai cầu xin các ơn đó.
Những viên kim cương không chiếu tia sáng là
những ân sủng mà các linh hồn quên không xin.'"
"Trái cầu bằng vàng biến đi trong
bầu ánh sáng; hai bàn tay mở ra và hai cánh tay
thả xuống vì sức nặng của các kho tàng ân sủng
trong tay. Khi đó tiếng Đức Mẹ nói: 'Con hãy nói
người ta làm ảnh theo mẫu này. Tất cả những ai
mang ảnh này sẽ được những ân sủng lớn lao;
người ta nên đeo ảnh này ở cổ. Các ân sủng sẽ
dồi dào cho những ai mang ảnh này với lòng tin
vững vàng.'"
"Khuôn mẫu ảnh đó xoay phía sau
tới, tôi nhìn thấy mặt sau của tấm ảnh: một mẫu
tự M lớn và thánh giá đặt trên một đà ngang;
phía dưới mẫu tự M có Thánh Tâm Chúa và Trái Tim
Mẹ Maria, một trái tim có vòng gai bao quanh,
một trái tim bị lưới giáo xuyên thấu."
Chỉ ít lâu sau, các Nữ Tử Bác Ái
đã trao ảnh đó cho các bệnh nhân mà các dì săn
sóc. Nhiều nguời trở lại và được lành bệnh nhờ
phép lạ, và từ đó ảnh này được gọi là "Ảnh Hay
Làm Phép Lạ" và được phổ biến khắp thế giới Công
Giáo.
Nữ đệ tử Cathérine Labouré tuyên
khấn ngày 30 tháng Giêng, 1831, và được cử làm
đầu bếp tại nhà tế bần Enghien tại thành phố
Reuilly. Chị khiêm tốn ẩn mình suốt bốn mươi sáu
năm, cố gắng tránh không nói về việc Đức Mẹ hiện
ra. Mãi tới trước ngày chị lìa trần vào ngày 31
tháng 12, 1876, chị mới vì vâng lời mà xác nhận
rằng chị đã thị kiến "Đức Trinh Nữ."
Năm 1895, việc Đức Mẹ hiện ra với
chị Cathérine Labouré được Giáo Hội nhìn nhận
với tước hiệu "ĐỨC MẸ HAY LÀM PHÉP LẠ" và ấn
định chi tiết phụng vụ Thánh Lễ và giờ kinh kèm
theo.
Năm 1933, khi cải mộ để lập hồ sơ
xin phong thánh cho chị Cathérine Labouré, xác
chị được giới y khoa xác nhận là nguyên vẹn tươi
tốt với cặp mắt vẫn còn xanh (khi chết cặp mắt
người ta luôn đổi mầu và rữa nát). Chị Cathérine
Labouré được Đức Thánh Cha Pio XII phong hiển
thánh năm 1947.
Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi
www.thanhlinh.net