Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Soi chiếu đời ta dưới ánh sáng Phục Sinh

Tác giả: 
Huệ Minh

 

 

Thứ Tư tuần IV PS

Ga 12, 44-50

 

SOI CHIẾU ĐỜI TA DƯỚI ÁNH SÁNG PHỤC SINH

 

 

Con người, mọi thời, mọi lúc, mọi nơi đều biết rõ và rất cần ánh sáng cho mọi sinh hoạt trong đời sống thường ngày của mình. Nếu như ở trong bóng tối, con người khó tiếp xúc với vạn vật, có thể lạc lối, vấp ngã, té nhào, rất nguy hiểm có khi đến cả tính mạng nữa. Mọi người đều cần có ánh sáng khi đêm về. Con người còn biết ánh sáng mặt trời rất cần cho sự sống và sự phát triển của con người và các sinh vật khác.

 

Và rồi làm sao có thể sống và sinh sôi nảy nở khi không có mặt trời tỏa sáng và hơi nóng của nó, nhưng mặt trời không thể cho con người và mọi sinh vật khác sống mãi mãi được. Con người còn có phần tâm linh, ánh sáng và hơi nóng nào cần cho sự sống và sinh hoạt của tâm linh?

 

Tin Mừng theo Thánh Gioan hôm nay là đoạn cuối của phần kết thúc sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Đoạn văn này còn được gọi là diễn từ kết thúc gồm 7 câu, nhưng các nhà chú giải cuốn sách như được viết vào nhiều thời điểm khác nhau. Tuy vậy, tác giả vẫn lập lại những điểm chính, là đúc kết toàn bộ lời nói và sứ mạng của Chúa Giêsu qua những từ như: Tin, ánh sáng, xét xử. Chúa Giêsu là sứ giả đến từ Chúa Cha.

 

“Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi”, ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi (c.44-45). Đây là một lời khẳng định về mối tương quan mật thiết giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu. Nếu con người tin vào Chúa Giêsu, tức là tin vào Lời và hành động của Ngài là tin vào Chúa Cha, vì Chúa Giêsu là người thi hành theo thánh ý của Chúa Cha. Chúa Giêsu còn khẳng định mạnh mẽ là nếu ai nhìn thấy Ngài qua con người bằng xương bằng thịt với những quyền năng của thần linh, tức là đã nhìn thấy Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài. Vì Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Cha và Cha ở trong Ngài. Chúng ta thấy, trong Tin Mừng thánh sử Gioan luôn lập đi lập lại những lời ấy, như muốn nhấn mạnh một chân lý và cũng muốn phá vỡ sự cứng lòng của người Do Thái.

 

Chúa Giêsu cho chúng ta biết rõ thân thế của Ngài. Ngài là Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian, Ngài có cùng bản tính với Chúa Cha “Ai tin vào Tôi, thì không phải là tin vào Tôi nhưng là tin vào Đấng đã sai Tôi, ai thấy Tôi là thấy Đấng đã sai Tôi”. Ngài là Vị Thiên Sai khiêm nhường, không tìm gì cho mình nhưng qui chiếu về Chúa Cha. Ngài luôn sống mật thiết với Chúa Cha, đến độ nên một với Chúa Cha “Cha và Ta là một”.

 

Chúa Giêsu còn khẳng định rõ ràng quả quyết: “Ngài là Ánh Sáng thế gian”, và như Ngài đòi buộc chúng ta phải tin vào Ngài, nếu chúng ta muốn có sự sống và muốn đi trong ánh sáng, chứ không bước đi trong tối tăm : “Bất cứ ai tin vào Tôi, thì không ở lại trong bóng tối, nhưng có Ánh Sáng ban sự sống”. Như vậy có nghĩa Ngài là Đấng cứu thế. Chúng ta phải nghe lời Ngài, đón nhận giới răn và giáo huấn của Ngài mới thật là tin Ngài, và tất nhiên chúng ta có ánh sáng ban sự sống đời đời, và ánh sáng hướng dẫn mọi sinh hoạt của đời sống tâm linh chúng ta nữa.

 

Trước lời giáo huấn của Chúa Giêsu con người phải lựa chọn và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn ấy. Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trong thế gian là để cứu độ chứ không phải để xét xử. Nhưng ai khước từ lời của Ngài thì họ tự lên án chính mình, chính lời của Ngài xét xử họ trong ngày sau hết. Ai không tin và không giữ lời Chúa Giêsu là không tin Thiên Chúa Cha, và không giữ lời Thiên Chúa Cha nên là tội rất nặng, vì Chúa Giêsu đã tuyên bố rõ ràng: “không phải Tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha Đấng đã sai Tôi truyền lệnh cho Tôi phải nói gì, tuyên bố gì, và tôi biết mệnh lệnh của Ngài là sự sống đời đời”. Chúa Giêsu đã dùng cuộc sống và lời giáo huấn để dẫn dắt chúng ta đến sự sống đời đời, vì Chúa Giêsu là Đường là Sự Thật và là Sự Sống, và bảo chứng cho sự sống đời đời của chúng ta là công trình cứu độ của Người, tử nạn và phục sinh.

 

Những lời ấy là: Hãy tin vào Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai xuống để cứu độ nhân loại – Hãy biết rằng Cha và Con là một và Người Con luôn làm theo ý của Cha. Hãy tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ là ánh sáng chiếu soi vào đêm tối trần gian, để qui tụ mọi con cái Chúa đang tản mác về hưởng hạnh phúc với Cha trên trời. “Tôi là ánh sáng đến thế gian, bất cứ ai tin vào tôi thì không ở lại trong bóng tối” (c.46).

 

Những ai tin vào lời Ngài, tin vào hành động cứu độ của Ngài sẽ yêu thích ánh sáng và vui hưỏng ánh sáng ấy. Nơi người đó không còn chỗ nào dành cho bóng tối. Lúc ấy, người đó đã mở rộng lòng tiếp nhận ánh sáng, để ánh sáng tràn ngập tâm hồn và bao phủ lấy cuộc đời họ.

 

Câu 47 và 48 nói về việc xét xử. Chúa Giêsu khai mở cho chúng ta một bí mật trong tương lai, đó là: nếu nghe Lời Chúa mà không tuân giữ sẽ bị xét xử. Ai xét xử? Chúa Giêsu trả lời là Ngài không xét xử, vì Ngài đến để cứu độ trần gian (x.3,17). Nhưng chính quan tòa là Lời của Ngài sẽ xét xử. Nói đến đây, chúng ta nghĩ đến ‘lương tâm’. Khi ta làm điều ác, điều dữ, lương tâm chúng ta thường không yên ổn, đến độ có người đã đi thú tội trước khi sự thật bị phơi bày. Đó là việc làm, là tiếng nói của lương tâm. Lương tâm luôn thúc đẩy chúng ta “làm lành lánh dữ” và nó sẽ “cắn rứt” khi chúng ta làm điều sai phạm. Đôi khi lương tâm cũng bị “sai lệch” do ý chí điều khiển, nhưng bản chất của lương tâm luôn là ngay thẳng, có tiếng nói trong sạch, chính trực. Vậy: nếu chúng ta không tuân giữ Lời Chúa, thì chính Lời Chúa sẽ cật vấn chúng ta và tự chúng ta cảm thấy có lỗi, có tội khi không sống đúng theo Lời Chúa dạy.

 

Hai câu cuối của bài Tin Mừng, Chúa Giêsu như muốn khẳng định về vai trò Thiên Sai của mình: “chính Chúa Cha-Đấng đã sai tôi-truyền lệnh tôi phải nói gì” (c.49). Ngài chỉ là người thừa hành ý Cha “Này con xin đến, để thi hành ý Cha” (Tv 39). Đó là mục đích Ngài vào trần gian và đó là lương thực của Ngài. Ngài luôn tìm kiếm ý Cha để thực hiện (x.4,34). Ngài biết rõ: Lời của Cha là sự sống đời đời. Nếu tiếp nhận và tuân giữ lời Cha, chúng ta sẽ thừa hưởng hạnh phúc và có một gia tài cao quí trên trời. Vì biết rõ hiệu nghiệm của Lời, nên Ngài đã nói và sống theo lời đó, đồng thời cũng khuyên nhủ chúng ta rằng: Chúng ta không nghe thấy lời xuất phát từ Chúa Cha một cách minh nhiên trực diện, thì những gì mà Ngài nói chính là những điều mà Chúa Cha đã nói với Ngài (x.c.50).

 

Thật sự, ta nên nhìn lại và tự soi chiếu đời sống của chúng ta với giáo huấn của Đức Giêsu, để biết rõ đức tin của chúng ta vào Đức Giêsu, và đánh giá mức độ chúng ta đón nhận lời của Người. Từ đó chúng ta biết mình có sự sống đời đời hay không, và biết mình đang ở trong sự sáng hay đi giữa bóng tối đêm đen.

 

Hơn nữa, ta cũng phải tự nhủ mình, ta là người tông đồ, ta cần noi gương Chúa Giêsu không tìm gì cho mình, nhưng luôn qui chiếu tất cả cho vinh danh Chúa Cha. Chúng ta còn phải sống tương quan mật thiết với Chúa Cha, tu luyện để nên giống Chúa Kitô, để mọi người nhận ra Thiên Chúa ta thờ, tức là ta cũng trở nên ánh sáng của Chúa Kitô, mà dẫn dắt mọi người về với Thiên Chúa, bảo đảm niềm tin của người nghe, để họ được ơn cứu độ.

 

Vì thế song song với việc tu luyện ta phải cầu nguyện luôn, và trung thành với giáo lý của Chúa Kitô, như Chúa Kitô luôn nói lời của Chúa Cha vậy.