Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Ngạc nhiên và tin

Tác giả: 
Huệ Minh

 

 

Thứ Tư tuần IV TN

Mc 6:1-6

NGẠC NHIÊN VÀ TIN

 

Ngay từ đầu Tin Mừng, tác giả Máccô cho thấy Chúa Giêsu hành động với uy quyền trước toàn dân. Nhưng sau đó, những trở ngại đã xuất hiện: thân nhân Người đi bắt Người về, vì cho rằng Người đã mất trí; các kinh sư thì nói rằng Người bị quỷ vương Bêendêbun ám và dùng quyền của nó mà trừ quỷ; bằng kiểu diễn tả bóng bảy, Người đã nói đến sự cứng lòng của dân Israel; trận bão trên biển không nhận chìm được con thuyền của Người, là một hình ảnh cho hiểu là sứ vụ của Người sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn đứng vững; yêu cầu của dân Ghêrasa cũng ở trong chiều hướng ấy.

 

Chúa Giêsu trở lại quê hương Nadarét. Người vào hội đường để giảng dạy, tức là thi hành sứ mạng ngôn sứ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, dù đã biết các phép lạ Chúa Giêsu làm và nay vừa nghe Người giảng, dân làng Nadarét lại chỉ coi Người như là “bác thợ, con bà Maria, anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn” mà thôi.

 

Tin Mừng Máccô cho thấy liên hệ huyết thống cũng như tình đồng hương không giúp người ta nhận biết Chúa Giêsu trong chân tính của Người. Muốn khám phá ra mầu nhiệm Chúa Giêsu, người ta phải để cho chính Người dẫn dắt và giáo huấn ngày qua ngày.

 

Trang Tin Mừng tường thuật chuyến về thăm Nadarét cũng nói đến thái độ không tin của người dân Nadarét, khiến họ không chấp nhận Chúa Giêsu. Như thế, truyện này tóm tắt một vài đề tài đã được triển khai trong các phân đoạn trước: tư cách môn đệ và lòng tin, Chúa Giêsu là thầy và là vị làm phép lạ, sự hiểu lầm và sự loại trừ Chúa Giêsu.

 

Chúa Giêsu về quê, có các môn đệ đi theo, và bắt đầu giảng dạy cho bà con ở quê nhà. Nhưng đây không có gì là một cuộc “vinh qui” cả. Người ta ngạc nhiên nhận ra sự khôn ngoan của Ngài, và trong đầu họ bật lên một loạt dấu hỏi. Chỉ tiếc là những hiểu biết và kinh nghiệm vốn có của họ về “bác thợ Giêsu” đã dập tắt sự ngạc nhiên nơi họ và không cho phép họ khám phá được gì xa hơn về Ngài. Ta thấy định kiến tai hại biết bao. Và đến lượt Chúa Giêsu ngạc nhiên về sự thiếu khả năng ngạc nhiên nơi những người đồng hương của Ngài: “Ngài lấy làm lạ vì họ không tin”.

 

          Tin Mừng hôm nay cho thấy niềm tin và tình yêu khiến cho người ta nhạy cảm được với những gì liên can đến đấng hay người mình yêu, và nghi kỵ, hận thù khiến cho người ta mù lòa, điếc lác trước tha nhân, như được phản ảnh trong 2 Sm 24, 2.9-17 : ở đây, cho thấy sau khi ra lệnh kiểm tra dân số, với tâm hồn nhạy cảm trong tương quan với Thiên Chúa, Đavít phát hiện ra làm như thế là xúc phạm đến Đức Chúa, vì không hoàn toàn tín thác nơi Ngài mà có vẻ cậy dựa vào binh lực hơn.

 

          Người Nadarét nuôi quan niệm sai lầm về Ðấng Cứu thế. Theo họ thì vị thiên sai phải là một nhà lãnh đạo chính trị lỗi lạc, một nhà cải cách xã hội tài ba, một vị tướng lãnh tài giỏi, bách chiến bách thắng, có thể đưa dân tộc họ lên hàng bá chủ hoàn cầu. Khi họ nhận ra Chúa Giêsu không thích hợp với với quan niệm họ sẵn có về Ðấng cứu thế, thì họ từ khước Người. Vì thế đối với họ, Chúa Giêsu không thể là Ðấng cứu thế.

 

Thành kiến của họ đã làm cản trở cho đức tin vào Chúa, vào lời Chúa và quyền năng của Chúa như Chúa muốn họ tin tuởng. Do đó Chúa Giêsu nói với họ: Ngôn sứ có bị coi rẻ thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình (Mc 6, 4). Phúc âm hôm nay ghi lại: Người đã không thể làm phép lạ nào tại đó, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân (Mc 6, 5). Sở dĩ Chúa Giêsu không làm phép lạ nào được vì như lời Phúc âm ghi lại họ cứng lòng tin (Mc 6, 6)

 

Con người hôm nay, những người Nadarét mới, vẫn đang thấy Chúa Giêsu là một cớ gây ngạc nhiên và vấp ngã. Do sự từ khước của con người hôm nay, hoạt động cứu thế của Thiên Chúa như bị tắc nghẽn. Bị giam hãm trong các định kiến, họ không hiểu được cốt lõi tinh túy của sứ điệp, cũng không tạo cơ hội cho các việc kỳ diệu có thể xảy ra hay cho ơn Chúa có thể đến được với chính họ và người khác.

 

Từ đây, chúng ta có thể đi đến một nhận định: cộng đoàn Kitô hữu có hai trách nhiệm, bởi vì phải vừa biết nhận ra các ngôn sứ được Thiên Chúa cho xuất hiện giữa các thành viên của mình, vừa phải hỗ và làm gia tăng ơn Chúa mà sự hiện diện của họ mang lại. Ý thức này đòi hỏi cộng đoàn phải trở thành một tập thể sẵn sàng, trong tư thế cầu nguyện, có cái nhìn khôn ngoan, để nhận ra các dấu chỉ của Thiên Chúa.

 

Tất cả các điều này không đơn giản: trong đời sống mỗi ngày, chúng ta ghi nhận rằng cộng đoàn chúng ta đang bước đi giữa hai đe dọa: một bên, cộng đoàn có thể rơi vào một thứ hứng khởi dễ dãi mà chạy theo bất cứ một chủ trương đổi mới nào, để rồi cuối cùng bị lạc hướng và bị phân tán; một bên, cộng đoàn dễ bị thu hút bởi xu hướng bất động và sự cứng ngắc do bám vào một vài điều xác tín nào đó.

 

Nếu ta chỉ đi tìm Chúa nơi những người quyền cao chức trọng, hay ở những nơi huy nga tráng lệ mà thôi, ta sẽ khó tìm thấy Chúa. Thiên Chúa còn hiện diện nơi những người bình thường mà ta thường gặp, cũng như những sự việc xẩy ra thường ngày. Ta khó nhận ra những dấu vết của Chúa nơi người khác cũng như sự việc ta gặp hằng ngày nếu ta để cho thái độ quen quá hoá nhàm xâm chiếm đời sống tư tưởng của ta.

 

Ta có thể tìm thấy Chúa nơi người đau yếu, bệnh tật, nghèo khổ và tù đầy. Ðó là điều Chúa nói trong Phúc âm thánh Mátthêu: Khi Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn (Mt 25, 35). Ðể có thể tin, người ta phải giữ tâm hồn rộng mở. Nếu ta để cho thành kiến về đạo giáo làm mù quáng, thì những thành kiến có thể làm cản lối Chúa vào nhà tâm hồn.

 

Nếu ta vịn cớ nọ cớ kia để đóng cửa nhà tâm hồn, thì Chúa cũng chịu, không vào được, vì Chúa đã ban cho loài người được tự do và Chúa tôn trọng tự do của loài người. Ân huệ và quyền năng của Chúa tuỳ thuộc vào việc mở rộng tâm hồn của mỗi người. Chúa không ép buộc ai theo Chúa và sống theo đường lối đức tin. Chúa chỉ mời gọi. Việc chấp nhận hay không là tuỳ thuộc vào mỗi người.

 

Để có khả năng ngạc nhiên trước Chúa Giêsu và tin vào Ngài, ta cần nhìn, lắng nghe và kinh nghiệm Chúa Giêsu một cách mới mẻ ở đây và lúc này, chứ đừng đóng chặt Ngài trong bất cứ khuôn kinh nghiệm nào thuộc quá khứ. Đây là một việc đầy thách đố, song đây cũng là bước quyết định của công cuộc Tân Phúc Âm hóa!