Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

PVLC 15-3 & ĐTC 5 Năm Giáo Hoàng

Tác giả: 
Cao Tấn Tĩnh

 

 

Thứ Năm

 

Lời Chúa

 Bài Ðọc I: Xh 32, 7-14

"Xin Chúa tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa".

 

Trích sách Xuất Hành.

 

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: "Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập". Chúa phán cùng Môsê: "Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại".

 

Môsê van xin Chúa là Thiên Chúa của ông rằng: "Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: "Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất". Xin Chúa nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac, và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: "Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi". Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người.

 

Ðó là lời Chúa. 

 

Ðáp Ca: Tv 105, 19-20. 21-22. 23

 

Ðáp: Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài (c. 4a).

 

Xướng: 1) Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ. - Ðáp.

 

2) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ. - Ðáp.

 

3) Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ. - Ðáp. 

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11

 

Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống". 

 

Phúc Âm: Ga 5, 31-47

 

"Có người tố cáo các ngươi, đó là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

 

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do-thái rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống.

 

Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môsê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin Môsê, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Môsê đã viết về Ta. Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môsê đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được?"

 

Ðó là lời Chúa.  

 

 

 

 

Suy niệm
 

Sự Sống chứng thực

 

Thứ Năm trong Tuần IV Mùa Chay hôm nay, phụng vụ lời Chúa bề ngoài có vẻ liên quan đến hiện tượng hay khuynh hướng ngẫu tượng nơi dân Do Thái, cả Cựu Ước lẫn vào thời Chúa Kitô, nhưng sâu xa liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, một mạc khải thần linh đã đạt đến tột đỉnh ở nơi bản thân của Chúa Giêsu Kitô, nhưng lại là một mạc khải thần linh bị chính dân Người chống đối và trù dập. 

Ở ngay đầu đoạn cuối của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã công khai và thẳng thắn cho chung dân Do Thái đang tụ tập lại nghe Người bấy giờ biết chính vì cái khuynh hướng trần tục của họ đã trở thành lý do tại sao họ không thể nào có thể chấp nhận được chứng từ chân thực của Người về Người: 

 

"Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được?"

 

Khi khẳng định với dân Do Thái về họ bấy giờ rằng "Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó", Chúa Giêsu đã đánh trúng tim đen của họ, đã tấn công vào ngay nhược điểm của họ. Ở chỗ, họ đang mong một đấng thiên sai về chính trị để có thể giải cứu họ khỏi quyền lực của đế quốc Roma, mà ai có thể thực hiện được việc giải phóng này thì họ sẽ tin phục, hoan hô và theo đuổi, chẳng cần biết người anh hùng dân tộc đó có thực sự được Thiên Chúa sai đến hay chăng, có thể thắng được đế quốc Roma hay chăng...

 

Phần Chúa Giêsu, vì "không tìm vinh quang nơi loài người" mà Người không thể nào có những hành động mị dân để được họ hoan hô ủng hộ, để thu hút lòng mộ mến của họ, trái lại, Người nói tất cả sự thật về bản thân cũng như về nguồn gốc thần linh của Người, vì như Người tuyên bố với họ chỉ có chân lý mới giải thoát được họ thôi (xem Gioan 8:32), chứ không phải quyền lực chính trị nào hết, bởi họ cần phải được giải thoát trước hết và trên hết cho khỏi tội lỗi và sự chết liên quan đến phần rỗi đời đời của họ, chứ không phải được giải thoát khỏi một thứ quyền lực thế gian chỉ là những gì tiêu biểu như hình bóng cho thứ quyền lực tối tăm chết chóc của hỏa ngục.

 

Đó là lý do, trong bài Phúc Âm hôm nay, chứng từ của Chúa Giêsu về bản thân của Người không phải từ chứng cớ riêng của Người: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực", mà là từ một thẩm quyền cao hơn Người: "Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực".

 

Và Người chỉ trưng dẫn những chứng cớ về Người mà Người thấy rằng hoàn toàn "xác thực" nơi bản thân Người, những chứng cớ được thẩm quyền cao hơn Người đã sử dụng để chứng thực về Người, hiển nhiên nhất ở trong biến cố Người biến hình trên núi cao: "Đây là Con của Ta, người Ta đã tuyển chọn; hãy lắng nghe Người" (Luca 9:35). 

 

Chính Người cũng đã căn cứ vào 3 chứng cớ đã được thẩm quyển sai Người sử dụng để chứng thực về Người, trước hết là chứng cớ liên quan đến loài người, sau nữa, nhất là chứng cớ liên quan đến chính Thiên Chúa cùng với mạc khải của Ngài, và sau cùng là chứng cớ liên quan đến mạc khải thần linh trong Thánh Kinh. 

 

Trước hết là chứng cớ liên quan đến loài người: "Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian".

 

Sau nữa là chứng cớ liên quan đến chính Thiên Chúa: "Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta". 

 

Sau hết là chứng cớ liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, tức liên quan đến Thánh Kinh là những gì chân thực không sai lầm mà họ cần phải tin theo: "Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống".

 

Cho dù Chúa Giêsu có chứng thực về mình bằng 3 nguồn chứng rõ ràng bất khả thiếu ấy, dân Do Thái nói chung vẫn không chịu chấp nhận Người, bởi khuynh hướng và tinh thần trần tục của họ, như đã đề cập đến trên đây, chẳng những vì họ "không có lòng yêu mến Thiên Chúa... không tìm vinh quang do một Thiên Chúa", trái lại, họ chỉ theo đuổi tìm kiếm "vinh quang lẫn nhau". 

 

Tinh thần và khuynh hướng trần tục này của họ chẳng khác gì của dân ngoại là thành phần vẫn bị họ khinh bỉ là thứ đồ nhơ nhớp tội lỗi, trong khi họ cũng chẳng hơn gì dân ngoại, thậm chí còn tệ hơn cả dân ngoại nữa, vì họ được Thiên Chúa ở cùng họ, liên lỉ tỏ mình ra cho họ, ban lề luật thánh của Ngài để dẫn dắt họ, nhờ đó họ sống xứng với phẩm vị con người và ơn gọi trở thành một dân tộc thánh hảo của Ngài giữa muôn dân nước, thế mà họ vẫn tôn thờ tà thần ngẫu tượng như dân ngoại, chứ đâu có khá hơn dân ngoại.

 

Không phải hay sao, lịch sử cứu độ của họ đã cho thấy dân Do Thái còn sống tệ hơn cả dân ngoại nữa, trong khi dân ngoại chẳng được diễm phúc biết đến mạc khải thần linh và cũng chẳng được ban cho lề luật thánh hảo nên tôn thờ tà thần là phải, còn dân Do Thái thì lại biến Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất từng tỏ mình ra cho họ, nhất là ở cuộc vượt qua của họ từ đất nước Ai Cập băng qua Biển Đỏ mà vào sa mạc, thành một thứ ngẫu tượng của họ, như Sách Xuất Hành thuật lại chính lời của Thiên Chúa phán cùng Moisen về họ trong Bài Đọc 1 hôm nay: 

 

"Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: 'Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập'. Chúa phán cùng Môsê: 'Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại'".

 

Thế nhưng, mạc khải thần linh của Thiên Chúa không phải chỉ như là ánh sáng chiếu giữa ban ngày mà là chiếu vào bóng tối để xua tan tối tăm. Bởi thế, dân Do Thái càng mù tối càng cần đến ánh sáng, nhờ đó mạc khải thần linh của Thiên Chúa mới ngày càng trở nên sáng tỏ hơn nơi họ. Ở chỗ, dân Do Thái càng phản bội Thiên Chúa của mình, càng muốn biến Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ thành ngẫu tượng của họ thì Thiên Chúa lại càng phải tỏ ra thủy chung với họ, để họ càng thấy được quả thực ngoài Ngài ra không có một vị Thiên Chúa nào khác dưới tầng trời này. 

 

Trong lời khẩn cầu chống đỡ của mình để ngăn cản ý định tru diệt dân Do Thái của Thiên Chúa, vị trung gian môi giới Moisen đã căn cứ vào chính Thiên Chúa, vào lời hứa của Ngài, vào mục đích giải thoát dân Do Thái của Ngài, vào tình yêu nhân hậu của Ngài, vào mối liên hệ của Ngài với các vị tổ phụ của họ để xin Ngài tha cho dân Do Thái, một lời khẩn cầu không thể nào lại không đẹp lòng Thiên Chúa vì nó đã thực sự chạm đến chính cõi lòng của Thiên Chúa và khuấy động lên lòng thương của Ngài:

 

"Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: 'Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất'. Xin Chúa nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac, và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: 'Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi'. Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người".

 

Hành động tôn thờ ngẫu tượng của dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay, được Bài Đáp Ca cùng ngày chẳng những thuật lại mà còn được thánh vịnh gia cảm nhận về tính cách của việc dân Do Thái ấy như là việc "Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ":

 

1) Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ.

 

2) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ. 

 

3) Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ. 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

 

 

Đức Thánh Cha Phanxicô - Giáo Triều Ngũ Niên 13/3/2013-2018

 


Ngày 15: Thánh Nữ Louise de Marillac, vị thánh của gia đình

 

Chúng ta cùng nhau chiêm ngắm chân dung một vị Thánh của gia đình và của xã hội: Thánh Nữ Louise de Marillac, lễ kính vào ngày 15 tháng 3 hàng năm.

 

Các thánh nhân của Giáo Hội Công Giáo là những con người thánh thiện nhưng lại rất nhân bản. Các ngài đã sống những cuộc đời phi thường. Mỗi một vị thánh mà Giáo Hội tôn kính đều đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa mà phát huy hết các đặc sủng mà Ngài đã ban cho từng vị. Thiên Chúa cũng mời gọi từng người một trong chúng ta trở thành một vị thánh với những hồng ân mà Chúa đã ban cho mỗi người.

 

Louise sinh tại Meux, nước Pháp. Cô mồ côi mẹ khi còn rất bé. Ðến năm cô 15 tuổi, người cha yêu dấu của cô cũng qua đời. Khao khát của cô muốn đi tu bị cha giải tội của cô bác bỏ. Người ta sắp đặt một cuộc hôn nhân cho cô. Cô sinh được một đứa con trai. Nhưng chẳng mấy chốc cuộc hôn nhân đó chỉ còn là việc bổn phận chăm sóc người chồng bị đau lâu ốm dài cho tới khi chàng ta mất.

 

Louise may mắn tìm được hai cha giải tội khôn ngoan và thông cảm với cô, một người về sau cũng được phong Thánh: Thánh Phan-xi-cô Sa-lê-di-ô, người kia là bạn của ngài, Ðức Giám Mục Giáo Phận Belley, Pháp. Có điều cả hai vị này chỉ có thể gặp Louise theo định kỳ thôi. Nhưng trong lòng Louise được ơn soi sáng cho biết rằng cô sẽ đón nhận một công cuộc lớn lao dưới sự hướng dẫn của một người mà cô chưa hề gặp: Cha Thánh Vinh-sơn Phao-lô (St. Vincent de Paul).

 

Khi cô gặp được cha Vinh-sơn ngài rất miễn cưỡng trở thành cha giải tội cho cô vì ngài rất là bận rộn với Hội Ðoàn Bác Ái do ngài sáng lập. Ðây là nơi quy tụ các mệnh phụ phu nhân quý tộc làm việc từ thiện hỗ trợ ngài chăm sóc người nghèo và trẻ em bị bỏ rơi, một nhu cầu nhức nhối vào thời đó. Có điều các quý bà này còn bề bộn với bao việc gia đình và bổn phận khác. Công việc của ngài lại cần đến nhiều người cộng tác khác có thể dành toàn thời gian cho người nghèo, đặc biệt là các thôn nữ vì họ dễ dàng gần gũi và chinh phục cảm tình của những người nghèo. Ngài còn cần có ai đó tổ chức và dạy dỗ đám thôn nữ.

 

Phải mất một thời gian dài, sau khi cha Vinh-sơn biết đến Louise nhiều hơn, ngài mới nhận ra Louise chính là người Thiên Chúa gởi đến để đáp lại lời cầu nguyện của cha. Louise thông minh, quảng đại, cứng cáp, kiên trì trái ngược với chứng đau ốm dai dẳng của cô. Công việc cha giao cho cô làm đã có kết qủa là có bốn cô quê mùa gia nhập nhóm. Cha Vinh-sơn thuê một căn nhà ở Paris để làm trung tâm huấn luyện cho những người mới gia nhập trong việc chăm sóc người đau yếu và người nghèo. Công việc nhanh chóng phát triển và đã đến lúc phải đề ra nội quy. Chính Louise, dưới sự hướng dẫn của cha Vinh-sơn, đã soạn ra bản hiến pháp cho Các Nữ Tu Bác Ái Vinh-sơn Phao-lô. Riêng cha Vinh-sơn chỉ thích gọi Tu Hội bằng một cái tên đơn sơ hơn: Nữ Tử Bác Ái (Daughters of Charity - Filles de la Charité).

 

Cha Vinh-sơn luôn ngần ngại và cẩn trọng trong quan hệ với Louise và Tu Hội. Cha nói rằng cha không hề bao giờ mảy may có một ý tưởng là sẽ lập nên một cộng đoàn mới, chính Chúa mới là Ðấng làm nên mọi sự. Cha nói với nhóm chị em: "Nhà của người đau ốm sẽ là Tu Viện của chúng con. Một căn phòng thuê tạm bợ vá víu sẽ là phòng của chúng con. Nhà Thờ của chúng con sẽ là nhà Thờ của Giáo Xứ. Các hang cùng ngõ hẻm của đường phố, các phòng bệnh trong bệnh viện sẽ là lối đi của Tu Viện."

 

Ban đầu tu phục của các cô chỉ là y phục thường ngày của các cô gái thôn dã. Phải qua nhiều năm sau, cha Vinh-sơn Phao-lô rốt cuộc mới cho phép bốn cô gái có những lời khấn từng năm một về Khó Nghèo, Trinh Khiết và Vâng Phục. Và phải chờ đợi nhiều năm nữa Tu Hội mới được Rô-ma chính thức châu phê và đặt dưới sự hướng dẫn của Tu Hội Các Linh Mục của cha Vinh-sơn (Dòng Lazariste).

 

Nhiều thiếu nữ trẻ không được đi học cho nên Tu Hội non trẻ rất ngần ngại khi nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em bị bỏ rơi. Louise luôn luôn có mặt ở mọi nơi cần đến bàn tay của cô dù cho sức khoẻ cô luôn bết bát. Cô đi khắp nước Pháp và thiết lập các cộng đoàn các nữ tu tại các bệnh viện, các nhà mồ côi và ở các nơi cần đến họ. Vào ngày cô qua đời, 15.3.1660, Tu Hội đã có 40 Cộng Ðoàn trong nước Pháp. Sáu tháng sau, cha Vinh-sơn Phao-lô cũng qua đời ngày 27.9.1660.

 

Louise de Marillac được phong Thánh năm 1934 và thánh nhân được đặt làm Quan Thầy những người làm công tác bác ái từ thiện năm 1960.

 

Vào thời của Louise, việc giúp đỡ người nghèo là một việc xa xỉ mà chỉ có các quý bà giầu sang quý tộc có khả năng làm vào những lúc vô công rỗi nghề. Louise hết sức ngưỡng mộ Thánh Vinh-sơn Phao-lô đã khôn ngoan nhận ra rằng các thiếu nữ quê mùa nghèo khổ mới dễ dàng phục vụ người nghèo hữu hiệu hơn, các Nữ Tu Bác Ái đã được khai sinh dưới sự lãnh đạo của Louise. Cho đến ngày hôm nay, Tu Hội vẫn tiếp tục sứ mạng chăm sóc người đau ốm, già nua, mang đến chỗ nương tựa cho các em mồ côi. Có nhiều hội viên của Tu Hội làm công tác từ thiện bác ái dưới sự bảo trợ của Thánh Louise de Marillac. Tất cả mọi người chúng ta phải học nơi chị thánh sự quan tâm ưu ái với những người bất hạnh.

 

Theo Bách Khoa Tự Ðiển Encarta của hãng Microsoft, một tự điển hoàn toàn có tích cách thế tục, hai Thánh Vinh-sơn Phao-lô và Louise de Marillac, qua các việc bác ái từ thiện, đã có công đầu tại Pháp vào thế kỷ 17 trong việc chặn đứng phong trào ly giáo.

 

(Because of the Wars of Religion in France, the Counter Reformation did not pick up momentum there until the 17th century. Devotion to the poor, as exemplified by St. Vincent de Paul and St. Louise de Marillac, especially characterized the French experience. Considerable attention was given there, as it was in Italy, to popular missions among the peasantry. Meanwhile, St. Francis of Sales, bishop of Geneva, published his Introduction to the Devout Life (1608), among the most popular of all works of Christian spirituality. "Counter Reformation", Microsoft � Encarta � Encyclop edia 2000. � 1993 - 1999 Microsoft Corporation. All rights reserved.)

 

Ðất nước Việt Nam chúng ta mang ơn các Nữ Tử Bác Ái rất nhiều. Ða số công việc phục vụ của các chị đều âm thầm vô danh tuy một số được nhiều người biết đến như thiết lập và điều hành các trại phong Bến Sắn, Di Linh, Phước Tân, và mới đây là Trung tâm Mai Hòa chăm sóc bệnh nhân AIDS trong những ngày sau cùng. Ðặc điểm nổi bật nhất của các chị là luôn phục vụ người nghèo và trong yêu thương và khiêm tốn với tư cách người đầy tớ theo lời căn dặn của cha Thánh Vinh-sơn: "Khi các con cho người nghèo bánh ăn, các con còn phải xin lỗi họ."

 

Ngày 15.3.2003, một Thánh Lễ mừng 70 năm khấn dòng của chị Jean Gabriel Ðặng Thị Cúc; 60 năm của chị Aimée Nguyễn Thị Nữ; và 25 năm của 11 chị khác. Trên tấm thiệp báo đơn sơ ta chỉ đọc được vỏn vẹn hàng chữ đơn sơ: "Tất cả là Hồng Ân".

 

Xét cho cùng không có Hồng Ân nào to lớn hơn là được sai đi phục vụ Chúa Giê-su nơi người nghèo.

 

Hoàng Thiên Ân 

(Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 104, năm 2003) 

 

Ngày 15: 2. Thánh Clemente Maria Hofbauer, linh mục dòng Chúa Cứu Thế

 

 

Clemente Hofbauer sinh ngày 26.12.1752 tại đất nước Áo, vừa đúng 30 năm sau khi Thánh An Phong sáng lập DCCT. Có một chi tiết hết sức dễ thương trong tuổi thơ ấu của cậu bé Clemente Hofbauer. Năm cậu vừa lên 7 thì người cha qua đời. Bà mẹ dắt cậu đến dưới chân Thánh Giá, chỉ lên tượng Chúa Giê-su chịu đóng đinh và bảo: "Con ơi, kể từ nay, người này sẽ là cha của con" Tất cả như là một hạt giống ban đầu của Ơn Gọi Thiên Chúa muốn gieo vào lòng cậu bé Clemente. Có thể nói, chính lời dặn dò nhắn nhủ của bà mẹ đã xác định cho Clemente rằng: kể từ nay chỉ có Chúa Giê-su mới là Ðấng duy nhất mà cậu sẽ phải tuân phục và tận hiến cuộc đời cho Ngài.

 

Năm 1769, khi vừa tròn 24 tuổi, chàng thanh niên Clemente quyết định xin vào tu trong Ðan Viện Tivoli, để rồi 2 năm sau đó, thầy tình nguyện xin vào sa mạc để ẩn tu. Trong 3 năm liền cầu nguyện chiêm niệm, thầy lại khám phá ra ý định Thiên Chúa muốn thầy không dừng lại ở nếp sống ẩn tu, nhưng quả cảm dấn thân cho Ơn Gọi hoạt động truyền giáo. Thế là thầy lại khẳng khái trình với Bề Trên để xin chia tay ra đi. Suốt trong 4 năm ròng, thầy Clemente đã rong ruổi vượt đường xa hành hương về Rô-ma không dưới 5 lần để chọn một Dòng Tu hoạt động.

 

Và thế là lại thêm một chi tiết lý thú ghi dấu trong đời thánh nhân. Tháng 9 năm 1784, một lần nữa lại đến Rô-ma, băn khoăn không biết chọn Dòng nào giữa quá nhiều Dòng Tu, thầy nảy ra ý rủ một thầy bạn, một buổi sớm mai, hễ tiếng chuông của Nhà Nguyện Tu Viện nào ở Rô-ma rung lên những tiếng chuông đầu tiên thì hai người sẽ tìm đến để xin nhập Dòng. Hai người thao thức cả đêm, đến khi vừa mới chợp mắt thì tiếng chuông một Tu Viện DCCT ở Rô-ma đã vang lên trước nhất, cả hai trỗi dậy vội vã lên đường tìm đến Nhà Dòng và đã được đón nhận. Ngày 24.10.1784, thầy Clemente mặc áo Dòng, và một năm sau, ngày 19.3.1785, đúng lễ kính Thánh Giu-se, ngài tuyên khấn và nhận sứ vụ Linh Mục trong DCCT, một Linh Mục DCCT đầu tiên không phải là người Ý, nhưng là người Áo.

 

Cuộc đời mục vụ của cha Clemente khởi đi từ cộng đoàn Saint-Bennon tại thành phố Varsovie. Cha đặc biệt quan tâm phục vụ trẻ em bị bỏ rơi, những thanh niên mù chữ, những cô gái điếm bất đắc dĩ, những người già bị hất hủi, và cả đến những bệnh nhân tâm thần. Cha và cộng đoàn DCCT ở đây cũng không quên tổ chức những tuần Ðại Phúc, hay phải nói cho đúng, ngài đã biến mỗi ngày trong tuần thành một phiên Ðại Phúc với kinh nguyện, Thánh Lễ, Chầu Thánh Thể, giảng thuyết bằng nhiều thứ tiếng cho từng đối tượng người Ðức hay người Ba-lan, và nhất là miệt mài ngồi tòa Giải Tội cho hàng đoàn người sám hối từ khắp nơi tuôn về...

 

Rồi đây, xuyên qua các biến cố lịch sử chiến tranh và bạo động, trải qua những chống đối và bách hại, những ngộ nhận và ngăn trở của chính quyền lẫn giáo quyền, cha Clemente sẽ nghiệm chứng trong cuộc đời mình Lời Chúa trong Tin Mừng Lu-ca: "Anh em hãy ra đi, này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói..." (Lc 10, 3) bởi cha không thể dừng chân mãi tại Saint-Bennon cho dẫu nhu cầu mục vụ ở đây ngày một đòi hỏi bức thiết.

 

Cha Clemente không bao giờ quên sự thúc bách của Tin Mừng, của "lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít..." (Lc 10, 2) để tiếp tục lên đường, "không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép..." (Lc 10, 4), cha chỉ một lòng thực hiện Thánh Ý Thiên Chúa để đưa DCCT vượt ra khỏi dãy núi Alpes của vương quốc Napoli để đến các nước miền Âu Châu như Ba Lan, Tiệp Khắc, rồi qua Áo, Thụy Sĩ..., và cứ thế mà lan tỏa đi khắp thế giới, đến miền Bắc Mỹ để rồi từ Canada, DCCT sẽ đặt chân đến Việt Nam năm 1925 mà có được Tỉnh DCCT Việt Nam như ngày nay.

 

Chia sẻ đến đây, tự nhiên chúng tôi nhớ đến một lời kinh nguyện hằng ngày của anh em DCCT Việt Nam đã được phổ thành bài hát: "Lạy Chúa, ngay giữa lòng Hội Thánh, Chúa đã cho khai sinh gia đình Dòng chúng con mang tên Chúa Cứu Thế sáng danh Vua Trời. Như là một cây nho Chúa thương vun trồng và chăm sóc, mang đến những chùm nho, Ơn Cứu Thế bình an, chan chứa khắp trần gian..."

 

Thư Thánh Phao-lô Tông Ðồ gửi cộng đoàn Cô-rin-tô có khẳng định: Phao-lô trồng, A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Ðấng làm cho lớn lên, mới đáng kể (x. 1 Cr 3, 6 - 7).

 

Trong tâm tình khiêm tốn của Linh Mục và Tu Sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khám phá ra chính Thánh Ý Chúa đã chọn để cho Thánh An-phong gieo hạt giống đầu tiên mà mọc lên thành một cây nho sinh hoa kết quả tốt tươi, trong đó có công sức vun tưới của Thánh Clemente Hofbauer, thế nhưng trên hết, chúng ta vẫn phải chung nhau một lời tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Ðức Giê-su, Ðấng mà Nhà Dòng đã xin được mang tên là Chúa Cứu Thế. Chính Ngài chứ không phải ai khác, đã chọn Thánh An-phong làm người sáng lập Dòng, đã sai Thánh Clemente đưa Dòng lan tỏa vươn nhánh ra khắp nơi trên thế giới, trong đó có quê hương Việt Nam chúng ta.

 

Cha Clemente Maria Hofbauer được Chúa gọi về ngày 15.3.1820. Mọi ngộ nhận và ngăn trở từ mọi phía không còn nữa, ngược lại, đám tang của ngài trở thành một cuộc khải hoàn của Tình Yêu Thiên Chúa Quan Phòng. Những ước mơ và công trình dở dang của ngài rồi sẽ được nối tiếp, hoàn tất và phát triển rực rỡ. Người ta tuôn về bên mộ ngài để cầu nguyện xin ơn chữa lành cả thể xác lẫn tâm hồn, các anh em DCCT cũng như nhiều tu sĩ các Dòng tìm đến, cúi đầu mặc niệm và tĩnh tâm để như thể tìm nơi ngài một nghị lực lên đường cho sứ vụ truyền giáo. Năm 1909, cha được Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 10 nâng lên hàng Hiển Thánh. Mãi mãi, DCCT đề cao ngài như vị Thánh Tổ thứ hai, sau Thánh An-phong.

 

Ðể kết thúc, chúng ta hãy cùng nhau chú ý đến một câu, một chi tiết trong bài Tin Mừng Thánh Lễ mừng kính Thánh Clemente ngày 15 tháng 3: "Khi ấy, Ðức Giê-su chỉ định 72 người và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ðức Giê-su cũng sẽ đến..." (Lc 10, 1). Hóa ra các môn đệ được sai đi trước để dọn đường, để vỡ đất khai hoang trồng trọt. Còn chính Ðức Giê-su, Ngài sẽ làm cho cánh đồng Tin Mừng trổ sinh bao thóc lúa bội thu.

 

Vì thế, chúng ta xác tín rằng: DCCT, Dòng của Chúa Giê-su, tức là đã được đặt nền móng trên chính Ðức Ki-tô. Và rồi, Thánh Clemente, đến các thế hệ anh em tu sĩ DCCT đã được sai đi mở đường để rồi chính Ðức Giê-su Ngài sẽ đến, để qua anh em Tu Sĩ Linh Mục, qua cả những anh chị em Giáo Dân đang cộng tác nhiệt thành với chúng tôi, Ngài tuôn tràn Ơn Ðức Ðộ cho mọi người, nhất là những người nghèo đói bất hạnh về vật chất lẫn tinh thần, để mọi người cùng nhận ra: "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần" (Lc 10, 9).

 

Xin tạ ơn Thiên Chúa, xin biết ơn Thánh Clemente. Amen. 

 

Lm. Lê Quang Uy, DCCT 

(Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 104, năm 2003)