Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Đoạn kết

Tác giả: 
Trầm Thiên Thu

 

 

ĐOẠN KẾT

(Thứ Sáu Tuần Thánh)

 

MÁU ĐÀO CON CHÚA TƯƠI MÀU CỨU ĐỘ

LẦM LỖI THẾ NHÂN HÓA SẮC TINH KHÔI

 

Có khởi đầu và có kết thúc. Một cuốn truyện dài hay ngắn cũng có đoạn kết, hoặc một bộ phim cũng vậy, chỉ ngắn gọn như một bài tập làm văn cũng có phần kết luận. Đoạn kết có thể “có hậu” khiến độc giả thở phào nhẹ nhõm, nhưng cũng có thể khiến độc giả hụt hẫng hoặc thở dài tiếc thương. Đoạn kết đặc biệt nhất là đoạn kết cuộc đời.

 

Điều gì phải đến cũng đã đến. Thứ Sáu Tuần Thánh là “đỉnh cao” của Công Cuộc Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (3 giờ chiều), giờ của Lòng Thương Xót. Nếu không có Lòng Thương Xót của Thiên Chúa thì nhân loại mãi mãi chỉ là hư vô mà thôi. Phàm nhân là tội nhân mà lại diễm phúc lắm!

 

Bất cứ cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, lưu luyến, đôi khi còn chịu đau khổ và đầy nước mắt, nhất là cảnh biệt ly khi người thân về bên kia thế giới. Lúc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là khoảnh khắc xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau đớn quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Giây phút biệt ly là khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng lại nặng nề trôi… Và phút cuối là lúc người ta nói thật nhất, dù người đó đã từng bất cần đời khi còn sinh thời.

 

Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu có hai bản tính – thiên tính và nhân tính. Theo nhân tính, Ngài cũng rất đau đớn và kiệt sức do chịu nhiều đòn roi, loại roi đó không bình thường mà có những cục kim loại khiến rách da nát thịt. Không chỉ vậy, Chúa Giêsu còn phải vác thập giá nặng khoảng 75 kg, đi lên đồi cao theo đường ngoằn ngoèo, té lên té xuống nhiều lần, rồi không chỉ chịu đói chịu khát mà còn bị những gai nhọn đâm thấu đầu, tiếp theo lại bị đinh ghim chặt chân tay và lưỡi đòng đâm thâu tim. Vô cùng đau đớn, nhức buốt. Thân xác Ngài tàn tạ, không còn hình dáng một con người, đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng cũng chảy ra hết. Chúng ta chỉ bị cái dằm đâm vào tay cũng la toáng lên rồi. Thật kinh khủng với loại hình phạt mà Chúa Giêsu phải chịu vì yêu thương chúng ta!

 

1. LẶNG LẼ CHỊU ĐỰNG

 

Đau khổ không ai thoát, dù mức độ khác nhau, nhưng chấp nhận hay miễn cưỡng sẽ tạo hệ lụy khác nhau. Miễn cưỡng hoặc không bằng lòng thì không chỉ tự làm khổ mình mà còn mắc lỗi – không theo ý Chúa. Ngược lại, biết chấp nhận (không phải là cam chịu) và kết hiệp với cuộc thương khó của Chúa Giêsu thì gia tăng giá trị ân phúc – có thể đền tội đời này để giảm hình phạt đời sau.

 

Từ ngàn xưa, Thiên Chúa đã minh định: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52:13-14). Nhưng mọi người đều phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Người tôi trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15). Người tôi trung đó chính là Đức Kitô, và cũng là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53:6; Cv 8:32).

 

Là Kitô hữu, ai cũng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức độ đau khổ, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên cảm thấy bình thường, và cũng có thể cho rằng đó chỉ là “chuyện nhỏ”. Kinh Thánh đã đặt vấn đề: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?” (Is 53:1). Thật khó tin, nhưng lại là sự thật, hoàn toàn chính xác. Càng ngày người ta càng phát hiện sự thật về Đức Kitô chịu đau khổ.

 

Mô tả theo cách ví von, ngôn sứ Isaia cho biết: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Đúng là một nghịch lý, rất có thể vì chúng ta quá ảo tưởng, nhưng sự thật vẫn mãi mãi là sự thật. Chúa Giêsu chịu đau khổ đến tột cùng chỉ vì tội lỗi của chúng ta – những thụ tạo được dựng nên tốt lành nhưng đã biến chất thành gian ác.

 

Ngôn sứ Isaia đưa ra “bảng đối chiếu” liệt kê rõ ràng: “Chính Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, Ngài đã phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trí óc loài người không thể tưởng tượng nổi có một Con Người kỳ lạ như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì chắc hẳn chúng ta cho là dại dột, ngu xuẩn, điên khùng, mất trí hoặc tâm thần. Thiên Chúa thấu suốt mọi sự, Ngài thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Ngài đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Rồi Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a), thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”. Thật thê thảm và oan ức, chỉ “vì tội lỗi của dân” mà “Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b). Nỗi oan khiên quá lớn!

 

Và rồi cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Phàm nhân không thể hiểu nổi vì đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn, nhân loại được hưởng Ơn Cứu Độ. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11). Chính Đức Giêsu Kitô đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Trong “núi tội” đó có nhiều tội của mỗi chúng ta – đủ kích cỡ, đủ cách thức, đủ mức độ.

 

Với ngôn từ của người hấp hối, Thánh Vịnh gia đã thốt lên lời cuối đầy tin tưởng: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín!” (Tv 31:2 và 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13). Là con người, bất cứ ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi bị xa lánh, bị khinh ghét và bị bỏ rơi. Nhưng Người Ấy nói là nói vậy thôi, vì vẫn luôn tin tưởng vào Chúa và minh định: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31:15-16). Tất cả là của Chúa, kể cả quyền thương xót, như Ngài đã nói với Mô-sê: “Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót” (Xh 33:19). Là phàm nhân, là thụ tạo, không ai có quyền đòi hỏi gì ở Ngài.

 

Lặng lẽ. Âm thầm. Người Ấy chấp nhận mọi thiệt thòi và cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với người khác như một lời khuyên chân thành: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì thế chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy. Chúa Giêsu đã nói trước: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18). Và rồi Chúa Giêsu cũng đã động viên Thánh Faustina: “Con đừng ngạc nhiên vì đôi khi bị tố cáo bất công. Chính Ta đã từng uống chén đau khổ bất công này trước vì yêu con” (Nhật Ký, số 289).

 

Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối, nhiệm mầu, khôn ví. Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích để chúng ta an tâm: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Trong các ân sủng, Lòng Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng mà Thiên Chúa dành cho nhân loại. Chính Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta, thực sự muốn giải thoát chúng ta khỏi mọi nỗi đau khổ. Thoát hay không còn tùy ở mỗi người.

 

Lúc sinh thời, khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Đức vâng phục quan trọng nhưng không dễ thi hành, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa – kiểu “đài các rởm”, và ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào! Nhưng chính lúc đó là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua những “chặng khổ” – Đàng Thánh Giá – và cả cái chết mới tới miền phục sinh vinh quang. “Con chiên vô tội” Giêsu còn phải trải nghiệm như vậy thì lẽ nào chúng ta lại được miễn trừ sao?

 

2. BẰNG LÒNG CHẤP NHẬN

 

Trình thuật Tin Mừng ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là một tấn bi kịch, bài trường ca đau khổ, bộ phim dài sầu thảm – Giáo Hội gọi là Bài Thương Khó. Thập Giá thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng. Thật kỳ diệu vô cùng!

 

Cách ví von của người Việt rất cụ thể: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong mười hai môn đệ là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán đứng Thầy mình với giá 30 đồng (chắc là thời giá lúc đó chẳng đáng gì). Người ta lục soát, tìm cách gài bẫy và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tỵ và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền, đoạt lực, lấy mất “chiếc ghế uy tín”, thế nên họ làm mọi cách để hạ nhục Ngài đủ kiểu, đủ mức. Hằng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – bởi vì các môn đệ bỏ của chạy lấy người hết trơn. Thật là tồi tệ và hèn hạ. Chúa Giêsu đau khổ tột cùng – cả tinh thần lẫn thể xác. Ngài đau buồn đến nỗi phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được!” (Mt 26:38; Mc 14:34).

 

Những kẻ thủ ác rồm rộ kéo đến. Ngài hỏi họ tìm ai. Họ thản nhiên đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Lạ thay, Ngài vừa nói “chính tôi đây” thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Có lẽ lúc này Giuđa đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài khi không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài. Phép lạ nhãn tiền vậy mà họ vẫn lòng chai dạ đá. Cố chấp!

 

Rồi Ngài lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai?”. Họ vẫn cương quyết: “Tìm Giêsu Nadarét”. Lũ ác nhân không hề tởn chút nào. Lì thật! Đức Giêsu thản nhiên nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói về điều gì.

 

Ngay lập tức họ bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Năm đó ông Cai-pha đương chức thượng tế. Chính ông này đã nói với người Do Thái một đề nghị bất nhân: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14). Nghe chừng đơn giản nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!

 

Thế nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối phăng: “Đâu phải”. Và ông chối thẳng với bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy sáng. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Thật tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Mạnh miệng và mạnh sức là hai điều hoàn toàn khác nhau. Đó cũng là “biểu tượng” của sự nhát gan nơi chúng ta ngày nay!

 

Mặc dù Chúa Giêsu đã bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói gì, không tự biện minh cho mình là đúng, cũng chẳng một lời kêu oan. Sự im lặng đó không phải là cam chịu miễn cưỡng mà là hy sinh vì người khác – là chính chúng ta.

 

Người ta tra hỏi đủ điều nhưng Chúa Giêsu vẫn im lặng. Đến khi bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Ngài mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22). Hỗn láo thật! Thế nhưng Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá. Xưa nay vẫn thế, lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng, không phải thắng chính đáng mà thắng vì áp bức người khác. Nhục nhã chứ chẳng vinh dự gì với kiểu đê hèn như vậy!

 

Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô “dốt đặc cán mai” nên ngớ ngẩn hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38). Đúng là… “hết nước nói” với loại đầu óc nông cạn. Albert Einstein nói rất chí lý: “Không thể chống lại những kẻ ngu, bởi vì chúng quá đông”.

 

Theo tục lệ Do Thái, vào dịp lễ Vượt Qua, thường có một tội nhân được tha. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, thì họ la lên: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương và quý hơn là Chúa Giêsu.

 

Thế là tổng trấn Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6). Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, thì quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không đề cao nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?

 

Ai nói gì Chúa Giêsu cũng chỉ im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt! Và Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.

 

Cuối cùng, ông Philatô đành cho thi hành án tử đối với Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác thập giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Do Thái, Latin và Hy Lạp. Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22). Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen, trong tay không có bất kỳ loại vũ khí thô sơ nào. Làm lớn mà làm láo và hèn hạ quá!

 

Sau khi hả hê đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác y phục của Ngài. Họ chỉ cố ý chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu chứ? Vào thời điểm đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho đệ tử Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất, và đã đến phút cuối cuộc đời trên trần gian. Bị mất máu nhiều nên Ngài kêu lên: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Ngài không chỉ khát nước mà còn khát tình – khát tình người và tình yêu của mọi người. Nhắp xong chút giấm chua, Ngài nói lời cuối: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:32). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí.

 

Đại Tang của Giáo Hội là ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Sự kiện ngày này là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế, Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày duy nhất Giáo Hội không cử hành Thánh Lễ, mà chỉ có Phụng Vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh Giá và rước lễ.

 

Thiên Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Đôi khi người ta lo tổ chức bề ngoài như lễ hội nên dễ thiếu chiều sâu cần thiết, mà Tuần Thánh là thời gian rất cần sống chiều sâu tâm linh.

 

Có một điểm cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Rất nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó!

 

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chúng con thường ảo tưởng về chính mình, mạo nhận mình tốt lành hơn người khác, để rồi chúng con thích a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính, thánh thiện. Chúng con chân thành thú nhận mọi lỗi lầm, thành tâm xin lỗi Chúa và xin lỗi tha nhân. Xin thương xót mà ban cho chúng con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Đức Giêsu Kitô – Con Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại. Amen.

 

TRẦM THIÊN THU