Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Dọn lòng chờ Chúa đến

Tác giả: 
Huệ Minh

 

 

DỌN LÒNG CHỜ CHÚA ĐẾN

 

          Năm Phụng vụ đang dần khép lại. Chúng ta đang ở Chúa nhật áp chót của năm. Và ta thấy tâm điểm vẫn là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, chịu chết và sống lại, lên trời và sẽ trở lại trong vinh quang như lời Người đã phán. Sống đời kitô hữu là sống niềm tin và hy vọng vào Chúa, nhất là trung thành với Đức tin đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội, chúng ta sẽ được bình an trong ngày Chúa đến.

 

          Đời này và thế giới vật chất rồi sẽ qua đi, nhưng Thiên Chúa vẫn hằng sống và luôn còn mãi. Ta phải tin thật như vậy, không được nghiêng ngả, nao núng, lo sợ trước những cám dỗ của cuộc sống và những cấm cách, bắt bớ của thời đại. “Vì thế gian chỉ có thể làm khổ hoặc giết được thân xác, chứ không làm khổ hoặc giết được linh hồn” (Lc 12, 4). "Ai muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được mạng sống mình ở đời sau" (Ga 12, 25).

 

          Lời răn dạy của Chúa mang tính phổ quát liên quan đến mạng sống của mọi người ở đời này và đời sau, nhưng trước tiên Chúa muốn răn dạy những người đi theo Ngài, là chính chúng ta.

 

          Quả thật, mạng sống con người là quan trọng, nhất là sự sống đời đời. Chúa Giêsu đã từng thốt lên “người ta sẽ lấy gì mà đổi được mạng sống mình. Được lời lãi cả thế gian mà mất mạng sống mình thì được ích gì” (Mt 16, 26).

 

          Trọng tâm của Tin Mừng hôm nay là Chúa Giêsu loan báo việc đền thờ Giêrusalem sẽ bị phá hủy và liên kết với việc tàn phá đền thờ, Chúa Giêsu đề cập đến ngày tận thế. Trong khi chờ  đợi “Ngày của Chúa” tức là ngày Chúa đến lần thứ hai, các tín hữu sẽ phải trải qua nhiều gian nan thử thách, phải qua một thời kỳ bị bách hại. Nhưng họ đừng sợ, hãy cứ kiên trì vì sự bách hại sẽ là một cơ hội để họ làm chứng cho Tin Mừng. Chính Chúa sẽ giúp họ chiến thắng với điều kiện họ phải luôn kiên trì giữ vững đức tin và trung thành với Chúa cho đến cùng.

 

          Ngày của Chúa sẽ là ngày tận cùng của thế giới. Khi đó, tất cả mọi người sẽ tập trung lại trước mặt Chúa Giêsu, để ngài tách chiên ra khỏi dê; chiên thì ở bên phải được hưởng hạnh phúc viên mãn; dê thì ở bên trái, bị liệt vào những kẻ bị kết án đời đời. Cụ thể hơn, Ngày của Chúa còn là giây phút lìa đời của mỗi người. Giây phút quyết định, dứt khoát, không thể thay đổi, mà mỗi người sẽ lãnh nhận phần của mình đã gầy dựng trong cuộc sống trần gian.

 

          Và ta thấy có nhiều người sống như không bao giơ phải chết. Họ không biết mình sống để làm gì và không biết chết rồi sẽ ra sao ? Do đó, họ chỉ lo hưởng thụ các đam mê lạc thú bất chính và không làm gì để chuẩn bị cho đời sau. Còn các tín hữu hôm nay cần ý thức về ngày giờ chết của mình để chuẩn bị chết lành, bằng việc thực hiện những việc như sau: Thanh toán nợ nần sòng phẳng, hồi tâm sám hối mỗi tối và năng lãnh bí tích Hòa giải, dọn mình dự lễ rước lễ mỗi ngày. Thực hành các việc bác ái cụ thể như kinh “Thương Người có mười bốn mối” và “Kinh Hòa Bình” đề ra. 

 

          Ngoài ra còn phải chu toàn công việc bổn phận như: học tập, nội trợ, lao động trí óc chân tay… Làm được như vậy thì khi giờ chết đến gần, chúng ta sẽ  không cảm thấy bồn chồn lo lắng, nhưng sẽ vui mừng chờ đón Chúa đến trong niềm tin tưởng cậy trông sẽ được Người thương đón nhận vào hưởng hạnh phúc Nước Trời đời sau.

 

          Khi chờ đợi Chúa đến, người môn đệ phải sống vững niềm tin của mình. Một niềm tin đã được phê phán, đối chất; một niềm tin đã được tôi luyện qua sự bách hại và không hiểu biết của người đời; một niềm tin giúp chúng ta sống trong thế giới này với sự xác tín là, “ việc làm cụ thể” rất cần thiết để tiếp tục công trình sáng tạo của Thiên Chúa; đồng thời, cũng xác tín rằng, thế giới này cần thiết, không thể thiếu, nhưng không phải là cuối cùng.

 

          Ta luôn ở thế giằng co cũng như ta đang ở trong một trạng thái khắc khoải, băn khoăn, xao xuyến. Vừa làm việc hết sức mình trong thế giới, lo lắng làm cho công trình sáng tạo được hoàn thiện trọn vẹn, viên mãn, và đồng thời, vừa được báo cho biết là thế giới này sẽ qua đi, nhường chỗ cho một thế giới khác hoàn hảo sắp đến. Vừa thán phục trước những kỳ quan của thế giới, mà cùng một lúc, cũng được cuốn hút vào một thế giới mà chúng ta sẽ được giải thoát khỏi mọi sự dữ.

 

          Tin mừng Chúa Nhật hôm nay ghi lại lời Chúa Giêsu tiên báo về sự hủy diệt Đền thờ Giêrusalem. Đây cũng là dịp để chúng ta suy nghĩ về giờ chết của mỗi người chúng ta và về ngày tận thế chung của toàn thể nhân loại. Đồng thời chúng ta biết nên làm gì để chuẩn bị cho ngày ấy.

 

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

HY SINH MẠNG SỐNG MÌNH

 

          Khi nói đến tử đạo, nhiều người dân ngoại và kể cả chính quyền, họ có cái nhìn về việc tử đạo giống như những anh em Hồi Giáo. Đối với người Hồi Giáo cực đoan, một trong những hành động được coi là tử đạo đó là đánh bom liều chết, mà thế giới ngày nay gọi là khủng bố. Những người này được dạy rằng khi ôm bom đi giết người vì lòng yêu mến Đức Ala và bảo vệ quyền lợi của người Hồi Giáo, thì được coi là tử vì đạo và được lên thiên đàng.

 

          Ta thấy họ cũng coi là tử đạo khi cuộc chiến tranh được tuyên bố là thánh chiến, thì những chiến binh nào càng bắn chết nhiều người càng được vinh quang, và những ai chết trong những trận chiến đó thì được coi là tử vì đạo. Chắc chắn nếu Đức Ala là một vị thiên chúa thật và tràn đầy tình yêu, thì Ngài không thể chấp nhận và để cho con cái của ngài gieo sợ hãi và chết chóc cho nhân loại như thế, và người ta cũng không thể nhân danh Đức Ala để làm điều ác như vậy.

 

          Các Thánh Tử Đạo nói chung hay các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam hoàn toàn khác. Các Ngài không tử vì đạo theo kiều Hồi giáo, nhưng ngược lại, vì niềm tin vào Chúa Kitô và giới răn lề luật của Ngài, và để bảo vệ trọn vẹn đức tin của mình, họ đã chấp nhận cả cái chết để giữ lòng tín trung với Chúa. Chữ Tín và chữ Trung là hai đức tính của bậc anh hùng mà chúng ta có thể thấy rõ nét nới các vị tử đạo cha ông của chúng ta.

 

          Chữ Tín hay còn gọi là tin, là nét đẹp được thể hiện nới các vị tử đạo. Ngay từ ngày đầu khi Tin Mừng vào Việt Nam, thì cha ông chúng ta đã mở rộng tâm hồn để đón nhận hạt giống đức tin, và với một tấm lòng đơn sơ chân thành hoàn toàn tin tưởng và phó thác, tâm hồn các Ngài đã trở nên như mảnh đất màu mỡ cho hạt giống đức tin nảy mầm và sinh hoa kết qủa.

 

          Dẫu rằng chưa được học biết nhiều về giáo lý của Chúa, nhưng với một đức tin chân thành, tin vào Thiên Chúa là Đấng quyền năng tạo dựng và điều khiền vũ trụ, an bài và xếp đặt mọi sự, Đấng thấu suốt tâm hồn mọi người và Ngài sẽ trả lại cho mỗi người cuộc sống hạnh phúc đích thực, mà tổ tiên của chúng ta đã kiên trì sống với niềm tin ấy và dám chết vì niềm tin ấy.

 

          Niềm tin đơn sơ của cha ông chúng ta cũng giống như câu chuyện thuật lại trong sách Macabe. Lúc bấy giờ người Hy lạp cai trị đất Do Thái, họ đem theo nhiều tập tục lối sống nghịch với lề luật của cha ông và nhất là họ đem vào đất Do Thái nhiều thứ thần linh và đòi buộc người Do Thái phải cúng tế các thần linh này.

 

          Ta thấy trong khi có nhiều người Do Thái đã gục ngã trước một lối sống mới, thì ngược lại cũng có nhiều người can đảm từ chối lối sống đó để được trung thành với giới răn của Thiên Chúa dù có phải chết. Câu chuyện cho thấy, một bà mẹ đã can đảm giáo dục con cái trung thành với Chúa và chấp nhận mọi cực hình. Bà chứng kiến cái chết của bảy người con, mà không một chút xiêu lòng.

 

          Trái lại bà vẫn dùng những lời lẽ khôn ngoan để chỉ cho con cái biết chọn lựa Thiên Chuá là nguồn hạnh phúc thật, thay vì chọn lựa lối sống xa lạ vô luân của người Hy lạp. Cuối cùng tất cả họ đã chấp nhận cái chết. Cũng vậy trong số những người tín hữu Việt nam, bị bắt bớ lúc bấy giờ, cũng đã có không ít người ham sống sợ chết, thích sống dễ dãi hơn là khó khăn, thích những lời hứa hẹn tiền của danh vọng mà vua quan đưa ra, để rồi họ chà đạp lên thập giá Chúa. Nhưng ngược lại có cả hàng trăm ngàn người đã chấp nhận sự thiệt thòi và cái chết đau đớn về phần mình để bảo vệ nguyên vẹn gia tài đức tin, và lối sống của người Công giáo. Những người này đã thực sự là những vị anh hùng, có những người chết nơi pháp trường, có những người chết nơi tù ngục vì đòn roi, và có biết bao người chết vì phải trốn nơi rừng thiêng nước độc để chỉ vì giữ trọn chữ tín, chữ trung.

 

          Các thánh tử đạo Việt Nam đã rất anh dũng bước theo đường lối Chúa Giêsu, theo đạo yêu thương của Chúa Giêsu. Dù ngục tù, gươm đao, dù bị róc xương xẻ thịt cũng vẫn không làm cho các ngài từ bỏ đạo Chúa. Chúng ta là con cháu các ngài, mang dòng máu bất khuất anh dũng của các ngài trong huyết quản mình, thì chúng ta cũng kiên quyết đi theo đạo yêu thương của Chúa như các ngài, để mai ngày đáng được hưởng triều thiên vinh hiển với các ngài trên thiên quốc.       

 

          Vậy trung thành với Đức Kitô, là trung thành với con đường thập giá, không ham sống sợ chết, không ngại khó khăn gian khổ, không ngại cực hình, mà dám vác thập giá mình để theo Ngài. Các vị tử đạo và người Công giáo không đi tìm đau khổ, nhưng trong đau khổ khó khăn thường ngày, họ nhận ra đó là thập giá cuộc đời của mình, và họ can đảm vui vẻ chấp nhận thập giá, và cuối đường thập giá là cái chết và phục sinh. Song khác với cái chết của các tên tử tội, cái chết của các vị tử đạo đã gây ra không biết bao kinh ngạc cho những người chứng kiến, vì họ thấy các ngài đón nhận cái chết trong vui vẻ và hân hoan, vì họ dám đánh liều đổi mạng sống mình để được Đức Giêsu, như Chúa Giêsu đã hứa: Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất và ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy.

 

          Các Ngài trung thành với tổ quốc, với chính quyền nhà vua. Trước mặt các vua quan, nhiều vị thánh đã công khai nói lên điều đó: Tôi không chống lại nhà vua, tôi không phản bội tổ quốc, nhưng tôi cam lòng chịu chết vì tôi trung thành với Chúa Kitô là Chúa của tôi (Thánh Phaolo Khoan). Trung thành với tổ quốc với nhà vua, là làm cho cuộc sống của mọi người và của đất nước thêm tốt đẹp, cuộc sống của dân chúng thêm an vui.

 

          Tuy nhiên do sự nghi ngờ, các vua quan chính quyền đã không nhận ra sự thiện chí của các tín hữu, họ nghi ngờ khi thấy người tín hữu tụ tập đọc kinh cầu nguyện, họ ghen tỵ khi thấy những người tín hữu dám xả thân vì bác ái, họ khó chịu khi những người Công giáo loan truyền một giáo lý về tình yêu thương tha thứ. Các vua quan và nhà cầm quyền không tin vào lòng nhiệt thành với đất nước của người công giáo, vì nghĩ rằng họ sẽ làm ảnh hương và thiệt hại đến quyền lợi và địa vị của nhà cầm quyền.

 

          Trong khi đó, người công giáo được mời gọi tham gia và mọi hoạt động của xã hội để đem tinh thần yêu thương tha thứ vào trong xã hội, đem yêu thương vào nơi oán thù, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

 

          Khi sống trọn hai chữ tín trung với Chúa và với đất nước như thế, các Ngài trở thành những vị anh hùng, dám mạnh dạn nói và làm chứng về Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài cho đồng bào và cho cả vua quan chính quyền. Theo gương của Đức Kitô, các Ngài đã chấp nhận cái chết về phần mình, chấp nhận trở nên hạt lúa gieo vào lòng đất, để ngày hôm nay, Hội Thánh Việt nam thu lượm được mùa lúa dồi dào; hạt giống đức tin được tưới gội từ dòng máu của các vị tử đạo đang ngày càng bám rễ sâu và lớn mạnh trên quê hương Việt Nam này. Tuy nhiên với thời đại mới với làn sóng mới của các lối sống mới đang tràn vào Việt Nam, nó đang làm xói mòn mảnh đất đức tin trong tâm hồn nhiều người, và nó đang là một thứ sâu bệnh nguy hiểm đang hủy hoại đời sống đức tin của nhiều tín hữu.

 

          Hội Thánh thời nào cũng cần những người dám sống vì đức tin,dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời.Sống đức tin là một loại tử đạo không đổ máu,không đòi hy sinh mạng sống,nhưng lại đòi hy sinh cả tương lai vững vàng ổn định.

 

          Ngày mỗi ngày, ta thường bị đặt trước những chọn lựa,trước thập giá của Chúa Giêsu,y hệt như các vị tử đạo ngày xưa.Có khi chúng ta đã bước qua thập giá, khi chọn mình,đã chối Chúa bằng chính cuộc sống.Càng có tự do, ta lại càng dễ sa sút đức tin.Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc vẫn là những thụ tạo gây ra những cuộc bách hại êm ả và khủng khiếpmà cuối cùng chúng ta cũng phải đối diện.Ước gì chúng ta không để mất đức tinđược mua bằng giá máu của bao vị tử đạo,và ước gì chúng ta không ngừng chuyển giao đức tin ấycho hơn 90 triệu đồng bào trên quê hương.