Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Hơn cả ước mơ, Không bao giờ là của con

Tác giả: 
Lm Minh Anh

KHÔNG BAO GIỜ LÀ CỦA CON

 

“Của Chúa, trả cho Chúa”.

 

Kính thưa Anh Chị em,

Trở lại mùa thường niên, chúng ta dõi theo Chúa Giêsu trên bước đường rao giảng của Ngài. Qua những nẻo đường, Ngài gặp gỡ con người, rao giảng Nước Trời, tỏ lòng thương xót và chữa lành họ khỏi mọi tật nguyền xác hồn; ở đó, cũng sẽ có bao kẻ chống đối Ngài.

 

Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Ngài với những người biệt phái và người thuộc nhóm Hêrôđê. Họ đặt cho Ngài một vấn đề gai góc, có nên nộp thuế cho hoàng đế không và Ngài kết luận, “Của César trả cho César; của Chúa, trả cho Chúa”.

 

Thời Chúa Giêsu, mỗi người Palestine phải nộp thuế cho hoàng đế; nhưng lập trường của các phe thì khác nhau, người đồng ý, kẻ bất đồng. Những kẻ chống đối đặt cho Ngài một câu hỏi đầy mưu mô vì nếu Ngài bảo, cứ nộp thuế, họ coi Ngài là ủng hộ đế quốc để bóc lột dân; nếu bảo đừng, Ngài bị lên án là kẻ chống hoàng đế. Vậy mà Ngài vẫn bình tĩnh trả lời và vận dụng câu hỏi của họ để đưa ra một giáo huấn quan trọng, vượt trên sự tranh cãi của các bên. Ngài nói, “Đưa tôi xem một đồng tiền”; họ đưa cho Ngài một đồng xu và nhìn vào đó, Ngài hỏi, “Hình tượng và danh hiệu này là của ai?”. Họ chỉ có thể trả lời, “Của César”. Từ đó, Ngài tóm tắt, “Vậy thì, cái gì của César, trả cho César; cái gì của Chúa, trả cho Chúa”. Thật tuyệt vời.

 

Khi khôi phục lại cho hoàng đế những gì thuộc về ông, Chúa Giêsu muốn nói việc trả thuế không phải là một việc thuộc về ngẫu tượng, nhưng là một việc đúng với thẩm quyền trần thế; quan trọng hơn, Ngài nhắc lại chiều kích tối thượng của Thiên Chúa, yêu cầu con người trả lại cho Chúa những gì thuộc về Người. Không quy về Chúa, con người sẽ chạy theo ngẫu tượng.

 

Về mặt biểu tưởng, Ngài giúp họ nghĩ về một hình ảnh khác được khắc ghi nơi con người, đó là hình ảnh Thiên Chúa; trước hết, con người thuộc về Thiên Chúa. Thánh Phêrô nói, “Anh em không biết sao, anh em là dòng dõi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, chủng tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa”. Từ câu hỏi nền tảng, “Tôi thuộc về ai?” dẫn đến bao câu hỏi quan trọng khác. Linh hồn tôi, thân xác tôi, trí khôn tôi, thời giờ của tôi và những gì tôi có từ con cái cho đến của cải… tất cả thuộc về ai? Dĩ nhiên, thuộc về Chúa.

 

Một người kia sắp từ giã cõi đời, mơ thấy Thượng Đế đến gần, trong tay Ngài có một chiếc valise. Thượng Đế bảo, “Nầy con, đã đến lúc đi rồi”. Ngạc nhiên, người ấy hỏi, “Bây giờ sao? Sớm quá? Con có nhiều dự định”; “Rất tiếc nhưng đã đến giờ đi rồi”. Người ấy hỏi, “Ngài có gì trong chiếc valise vậy?”; “Những gì thuộc về con”. “Những gì thuộc về con? Ý Ngài muốn nói đồ đạc, tiền bạc của con?”; “Những cái đó đã không phải của con, chúng thuộc trần gian”. “Có phải nó là ký ức của con?”; “Ký ức đã không bao giờ thuộc về con, chúng thuộc vào thời gian”. “Những tài năng của con?”; “Tài năng đã không bao giờ là của con, chúng tuỳ thuộc vào những tình huống”. “Bạn bè và gia đình con?”; “Rất tiếc, họ đã không bao giờ là của con, họ thuộc vào con đường con đã đi qua”. “Có phải là thân xác con?”; “Thân xác đã không bao giờ là của con, nó thuộc vào cát bụi”. “Có phải là linh hồn con?”; “Không, linh hồn là của Ta”. Đầy sợ hãi, ngươi ấy nhận chiếc valise từ Thượng Đế, mở ra và thấy nó trống trơn. Một giọt nước mắt lăn dài trên má, người ấy thốt lên, “Con đã chẳng có gì cả sao?”; Thượng Đế trả lời, “Đúng, chỉ một chút thời gian ngắn ngủi con đã sống là của con”.

 

Anh Chị em,

Ngày hôm qua là lịch sử, ngày mai là mầu nhiệm nhưng ngày hôm nay là một quà tặng. Đó là lý do tại sao “present” trong tiếng Anh vừa có nghĩa là quà tặng, vừa có nghĩa là hiện tại.

 

Chúng ta có thể cầu nguyện,

 

“Lạy Chúa, con tưởng con giàu, hoá ra con quá nghèo; xin cho con biết, không có Chúa, con sẽ nghèo hơn và có Chúa, con có tất cả”, Amen.

 

(Lm. Minh Anh, Gp. Huế)

 

HƠN CẢ ƯỚC MƠ

 

Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống”.

 

Kính thưa Anh Chị em,

 

Tin Mừng hôm nay tường thuật một thách thức khác người ta đặt ra cho Chúa Giêsu. Từ sách Ngũ Thư, người Sađốc không đọc thấy một câu nào nói đến sự sống lại, nên dựa vào một khoản luật Môisen, họ đặt ra một câu chuyện lố bịch nhằm đặt bẫy hại Ngài. Khoản luật đó nói nếu một người đàn ông chết không có con nối dòng, thì một trong các anh em trai của y phải cưới lấy người vợ goá đó; và họ đặt vấn đề ngày sau sống lại, người đó sẽ là vợ của ai?

 

Mỉa mai thay, Chúa Giêsu lại cao cơ trích Ngũ Thư để giải thích sự sống lại bằng chính shema họ đọc mỗi ngày, “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob” là Thiên Chúa hằng sống cũng là lời kinh tuyên xưng niềm tin độc thần của người Hồi Giáo.

 

Ngài khôn khéo giải thích cho họ hiểu rằng, tình trạng của kẻ sống lại là tình trạng của một cuộc sống khác hẳn cuộc sống dương thế, không còn cưới vợ lấy chồng; cuộc sống ấy thánh thiện như các thiên thần. Ngài cũng chứng minh sống lại là điều hợp lý, vì Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống và chỉ kẻ sống mới hưởng được tình yêu Người. Để có thể hiểu những gì Chúa Giêsu nói, chúng ta được mời gọi “Hãy thả mình vào trong cung lòng của Thiên Chúa” một cách vô điều kiện như cha Karl Rahner nói.

 

Theo Chúa Giêsu, niềm tin vào sự sống lại của chúng ta được đính, được móc… tận chóp đỉnh trên chính bản tính hằng sống của Thiên Chúa; vì Người hằng sống, đời đời, nên tình yêu của Người cũng sẽ đời đời như Người, “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” như Thánh Vịnh đã tuyên xưng. Vì thế, chính tình yêu đời đời của Thiên Chúa hằng sống làm cho chúng ta được sống lại và sống mãi cho dù phải chết. Người yêu thương chúng ta, đang yêu thương và sẽ yêu thương chúng ta mãi mãi. Từ đó chúng ta hiểu được những lời mạnh mẽ đầy thuyết phục của Chúa Giêsu hôm nay, “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống”.

 

Một bà mẹ mang thai đôi, một gái, một trai. Ngày tháng trôi mau, chúng lớn dần. Càng lớn, chúng càng vui mừng hát ca, “Có được sự sống thật là tuyệt vời”. Thám hiểm lòng mẹ, chúng tìm thấy chiếc nhau nên sung sướng la lên, “Mẹ thương chúng ta biết bao đến nỗi đã thông chia cho chúng ta sự sống”. Không lâu, hai đứa bắt đầu đặt vấn đề. Đứa trai hỏi, “Chúng ta có thể ở mãi đây được không?”; “Chắc không, cuộc sống này hẳn sẽ chấm dứt”, đứa gái trả lời. “Nhưng mình không muốn rời lòng mẹ, mình muốn ở đây mãi”; “Mình đâu có lựa chọn, biết đâu sẽ có đời sống sau khi sinh”, đứa gái trả lời. “Làm sao tách khỏi cái nhau của mẹ mà sống nổi? Hơn nữa, có những chứng cớ rõ ràng là có những đứa đã sống ở đây trước mình và chưa đứa nào trở lại đây nói cho mình biết là có sự sống sau khi sinh. Không được đâu, đến đây là chấm dứt” và đứa trai tuyệt vọng… “Ôi, nếu đời sống trong bụng mẹ chấm dứt bằng cái chết, thì mục đích và ý nghĩa của đời sống đó là gì? Có lẽ mình không có mẹ, có lẽ mình chỉ bịa ra người mẹ để cảm thấy an tâm”. Đứa gái bình tĩnh nói, “Phải có mẹ, vì làm thế nào chúng ta vào đây được? Làm thế nào chúng ta sống được?”. Những ngày sau hết trong dạ mẹ là những ngày chúng đầy thắc mắc và lo sợ. Sau cùng, giây phút chào đời đã đến. Hai đứa mở mắt nhìn, chúng oà khóc vì sung sướng. Những gì chúng thấy còn hơn cả ước mơ.

 

Anh Chị em,

Câu chuyện của hai hài nhi cũng là câu chuyện của chúng ta hôm nay khi nghĩ đến đời sau.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

 

“Lạy Chúa, xin đừng để ai bảo rằng, con duy vật. Xin cho con sống làm sao để ai gặp con, họ không chỉ biết có Chúa nhưng còn biết rằng, có cả đời sau”, Amen.

 

(Lm. Minh Anh, Gp. Huế)