Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Tông thư Năm Thánh Thể 2005

 

MANE NOBISCUM DOMINE
LẠY CHÚA, XIN Ở LẠI VỚI CHÚNG CON

CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II -

GỬI CHO CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC VÀ GIÁO DÂN VỀ NĂM THÁNH THỂ - 10/2004 - 10/2005

VietCatholic (Thứ Tư 13/10/2004)

 

DẪN NHẬP


1. “Xin Ngài ở lại với chúng tôi vì trời đã tối” (xem Lc 24:29). Đó là lời van nài của hai môn đệ trên đường về Emmaus vào chiều ngày phục sinh. Trên đoạn đường đó, Chúa đã hiện ra đồng hành với hai ông. Tâm hồn các ông nặng trĩu buồn phiền và các ông không hề nghĩ rằng kẻ lạ mặt này chính là Thầy mình, Người đã phục sinh từ cõi chết. Chẳng vậy mà lòng các ông cảm thấy bừng cháy (xem câu 32) khi nghe người khách lạ đó nói và giảng giải cho các ông nghe về Thánh Kinh. Ánh sáng Lời Chúa đã soi sáng sự u mê của tâm hồn hai ông và “mở mắt hai ông (xem câu 31). Giữa những buồn đau chán chường của những ngày qua làm tâm hồn các ông trĩu nặng, thì người khách lạ đã đem lại niềm hy vọng và nhóm lên trong tâm lòng các ông nguồn sáng tròn đầy. Các ông khẩn khoản người khách lạ “Xin Ngài ở lại với chúng tôi”. Và Người đã đồng ý. Vừa khi mắt các ông mở ra nhận biết là Chúa thì Chúa Giêsu biến mất; tuy nhiên Vị Thầy, Vị Chúa đó vẫn “ở lại” với các ông, nhưng ẩn náu trong việc “bẻ bánh” vì chính qua việc bẻ bánh mà mắt các ông được mở ra và các ông nhận ra Thầy mình.

 

2. Hình ảnh hai môn đệ trên đường Emmaus được dùng trong Năm Thánh Thể này thật là thích hợp, vì Giáo Hội được mời gọi sống Bí Tích Thánh Thể. Giữa những nhiễu nhương và khó khăn, ngay cả trong những buồn đau đắng cay, Vị khách Thần Linh đó vẫn tiếp tục đồng hành với chúng ta, Ngài khai mở và hướng dẫn chúng ta thấu hiểu sâu xa hơn các mầu nhiệm Thiên Chúa. Khi chúng ta gặp gỡ toàn diện với Ngài, chúng ta được đưa dẫn từ ánh sáng Lời Chúa tới bàn tiệc “Bánh sự sống”, cao điểm của lời hứa của Chúa “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho tới tận thế” (xem Mathêu 28:20).

 

3. “Bẻ bánh” - danh xưng của Thánh Thể trong những thời buổi sơ khai của Giáo Hội - luôn là trọng tâm của đời sống của Giáo Hội. Qua Thánh Thể, mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Đức Kitô được hiện thực trong thời gian. Trong Thánh Thể, Người được tiếp nhận như là “bánh trường sinh từ trời ban xuống” (Gioan 6:51), và với Ngài chúng ta tiếp nhận lời hứa sự sống trường sinh và nếm cảm yến tiệc hằng sống của Giêrusalem trên trời. Theo những huấn dụ của các giáo phụ, của các thánh Công Đồng và của các vị tiền nhiệm của Cha, Cha cũng thường mời gọi Giáo Hội suy niệm về Thánh Thể, gần đây nhất trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia . Ở dây Cha không muốn lặp lại những lời giảng giải này nhưng Cha tin tưởng chúng con sẽ học hỏi và tìm hiểu sâu xa hơn. Chính vì mục đích ấy mà Cha quyết định dành trọn năm nay là năm dành cho Bí Tích Cực Trọng Thánh Thể.

 

4. Năm Thánh Thể được khởi đầu từ tháng 10/2004 tới tháng 10/2005. Ý muốn khởi đầu vào tháng 10 vì chính trong những ngày 10-17/10/04 này, Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế được tổ chức tại thủ đô Guadalajara, Mexico, và ngày kết thúc năm Thánh Thể sẽ là dịp Đại Hội Đồng Các Giám Mục sẽ nhóm họp tại Vatican từ ngày mùng 2 tới ngày 29 tháng 10 năm 2005 với chủ đề: “Thánh Thể: Suối nguồn và Tuyệt đỉnh của Đời sống và Sứ mệnh của Giáo Hội”. Một biến cố khác cũng được cha nhắm tới là Ngày Giới Trẻ Thế Giới sẽ được tổ chức ở Cologne từ ngày 16-21/8/2005. Cha mong ước giới trẻ quy tụ quanh Thánh Thể như nguồn sống dưỡng nuôi đức tin và lòng nhiệt thành của chúng con. Sáng kiến tôn kính Thánh Thể Chúa tương tự luôn trong tâm trí cha: sáng kiến đó được khởi phát từ nhiệt tâm mục vụ mà Cha cống hiến cho Giáo Hội, nhất là trong những năm sửa soạn cho Năm Đại Thánh và các năm kế tiếp đó.

 

5. Trong Tông thư này Cha muốn tái xác quyết lại sự tiếp tục mục vụ này hầu giúp mỗi người đạt tới lợi ích thiêng liêng. Đặc biệt trong Năm Thánh Thể Cha mong muốn tiếp tục vai trò mục vụ các nhân của Cha tới các hiền huynh giám mục đang trông coi các giáo phận, hầu những sáng kiến của các hiền huynh với Bí tích cực thánh này thích hợp với không thời gian của từng địa phương. Cha tin tưởng thế vì tiếp nối Năm Mân Côi, sáng kiến của các hiền huynh có một chiều kích thiêng liêng sâu xa hơn trong mọi chương trình và kế hoạch mục vụ của từng giáo phận. Cha mời gọi từng giáo phận hãy tập trung vào chiều kích Thánh Thể trong đời sống Kitô hữu. Về phần Cha, với Tông thư này Cha mong muốn cống hiến một số những hướng dẫn căn bản mà Cha tin tưởng rằng Dân Thánh Chúa thuộc mọi tầng lớp sẽ đón nhận đề nghị của Cha với một tình yêu hăng nồng và nhiệt thành.

 

CHƯƠNG I

TRONG ĐỢT SÓNG CỦA CÔNG ĐỒNG & NĂM ĐẠI THÁNH

 

Hướng nhìn về Chúa Kitô

 

6. Mười năm trước đây vào ngày 10/11/1994, Cha đã công bố Văn kiện Tertio Millennio Adveniente (Bước vào thiên Niên Kỷ) trong đó Cha đã đề ra một chương trình sửa soạn mừng Năm Đại Thánh năm 2000 cho toàn thể Giáo Hội. Đối với Cha thời điểm lịch sử ấy đã là một hồng ân vĩ đại. Đương nhiên Cha ý thức rằng biến cố thời gian đơn thuần dù rất đặc biệt đi nữa tự nó cũng không thể làm nên những đổi thay lớn. Bất hạnh thay thiên niên kỷ mới đã khởi đầu bằng những biến cố thảm khốc tiếp diễn từ qúa khứ và còn tệ hại hơn qúa khứ nữa! Nhưng từ những thảm cảnh đổ máu đó vẫn loé lên những tia hy vọng! Nên khi Cha kêu mời Giáo hội hãy mừng kỷ niệm năm Đại thánh, đánh dấu 2000 năm Con Thiên Chúa Nhập thể, Cha tin tưởng và xác tín - Cha vẫn xác tín và còn xác tín mãnh liệt hơn - rằng việc mừng biến cố này đã mang lại lợi ích “lâu dài” cho nhân loại.

 

Chúa Giêsu Kitô không chỉ là trung tâm của lịch sử Giáo Hội, mà còn là trung tâm điểm của lịch sử nhân loại nữa. Trong Người, hội tụ muôn vật muôn loài. (xem Eph 1:10; Col 1:15-20). Làm sao chúng ta quên được sự vui mừng phấn kích của Thánh Công Đồng chung Vaticanô II mà Cha xin trích lại lời của Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI nói về Chúa Kitô chính là “cùng đích của lịch sử nhân loại, là điểm hội tụ của mọi khát vọng lịch sử và văn hóa, trung tâm của nhân loại, là niềm vui của mọi tâm hồn, và là sự thành toàn của mọi khát vọng”?(1) Lời dậy bảo của Thánh Công Đồng giúp chúng ta thấu hiểu sâu xa hơn về bản chất của Giáo Hội và giúp các tín hữu có được một cảm nhận rõ rệt hơn không chỉ về các mầu nhiệm của Thiên chúa mà còn về thực tại trần thế, được nhìn dưới ánh sáng của Đức Kitô. Trong Ngôi Lời Nhập Thể, cả mầu nhiệm Thiên Chúa và mầu nhiệm con người được tỏ lộ.(2) Trong Ngài, nhân tính tìm được sự giải thoát và thành toàn.

 

7. Trong Thông Điệp Redemptor Hominis, (Đấng cứu độ của con người) là thông điệp đầu tiên của triều đại giáo hoàng của Cha, Cha đã triển khai tư tưởng cứu độ mà Cha thường lặp đi lặp lại trong nhiều trường hợp. Mừng kỷ niệm ơn cứu độ là thời điểm thuận lợi mời gọi tín hữu trở về học hỏi và tìm hiểu chân lý nền tảng này. Mọi sự sửa soạn cho biến cố trọng đại này đều tập trung trọn vẹn vào Chúa Ba Ngôi và vào Đức Kitô. Chắc chắn trong chương trình đó, Thánh Thể chiếm một chỗ đứng quan yếu. Khởi đầu năm Thánh Thể, Cha xin lặp lại những lời Cha đã viết trong Văn kiện Tertio Millennio Adveniente (Bước sang ngưỡng cửa năm ba ngàn) “Năm 2000 được tập trung vào Thánh Thể; trong Bí tích cực trọng Thánh Thể của Chúa Cứu Thế, Đấng mặc lấy thân xác con người trong cung lòng Đức Maria hai ngàn năm trước đây, tiếp tục hiến tế chính Ngài làm lương thực thần linh cho nhân loại”.(3) Đại Hội Thánh Thể Thế Giới năm đó được nhóm họp tại Roma cũng tập trung vào chủ đề Năm Đại Thánh. Tưởng cũng nên nhắc là Tông thư Dies Domini (Ngày của Chúa) do Cha viết trong dịp sửa soạn Năm Thánh, Cha đã mời gọi mọi tín hữu hãy coi ngày Chúa Nhật như ngày Chúa Sống Lại, một ngày đặc biệt của Giáo Hội. Đồng thời Cha cũng khẩn thiết kêu mời mỗi người hãy tái khám khá lại việc cử hành Thánh Thể như tâm điểm của ngày Chúa Nhật.(4)

 

Cùng với Đức Maria chiêm ngưỡng gương mặt Đức Kitô

 

8. Hoa qủa của Năm Đại thánh được thu gọn trong Tông Thư Novo Millennio Ineunte (Thiên Niên Kỷ Mới). Trong văn kiện rất thực tế này Cha đã đề ra một chương trình mục vụ lớn lao cho Giáo Hội. Chương trình đó là chiêm ngưỡng diện mạo Đức Kitô, như một phần của phương pháp giáo dục nhắm tới một cấp bậc thánh thiện cao cả hơn qua chính việc cầu nguyện.(5) Làm thế nào kế hoạch này có thể hoàn thành nếu không có các lễ nghi phụng vụ, nhất là một lòng tôn kính phép Thánh Thể Chúa? Như Cha đã nói lúc đó: “Trong thế kỷ 20 này, nhất là sau Công đồng, một bước tiến lớn về việc cư hành các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể được các cộng đoàn Kitô giáo nỗ lực thực hiện. Chiều hướng đó cần được tiếp tục phát huy nhất là trong việc cử hành Thánh lễ ngày Chúa Nhật, hầu cảm nghiệm được Chúa nhật là một ngày đức tin, một ngày của Chúa phục sinh, một ngày hồng ân của Thánh Linh và khởi đầu cho một tuần lễ Phúc Sinh mới.(6) Trong bối cảnh ấy, Cha khích lệ chúng con hãy đọc kinh Thần vụ, một kinh nguyện chính thức của Giáo Hội được dàn trải qua nhiều khoảng khắc trong ngày, theo chu kỳ của năm phụng vụ.

 

9. Tiếp nối năm Mân Côi, và tông thư Rosarium Virginis Mariae (Tràng Chuỗi Mân Côi của Đức trinh Nữ Maria) Cha lại trở lại chủ đề chiêm ngắm diện mạo Đức Kitô, nhưng qua lăng kiếng của Đức Maria, Cha mời gọi chúng con một lần nữa hãy lần hạt Mân Côi. Truyền thống kinh Mân Côi được Giáo huấn của Giáo Hội coi trọng và Dân Chúa hết mực sùng kính, Kinh Mân Côi suy niệm các biến cố cuộc đời Chúa được ghi trong Thánh Kinh và chiêm ngưỡng diện mạo Đức Kitô mỗi khi ngắm các mầu nhiệm và đọc các kinh Kính Mừng. Lần chuỗi là một phương pháp giáo dục tình yêu, nhằm kiến tạo trong trái tim chúng ta một tình yêu mà Đức Maria đã cưu mang Chúa Cứu Thế, Con Mẹ. Chính vì lý lẽ ấy mà Cha thêm vào kinh Mân Côi truyền thống năm sự sáng hầu gói trọn “bản tóm lược Tin mừng” đầy đủ hơn.(7) Trong năm mầu nhiệm sự sáng đó, mầu nhiệm Thánh Thể lại chẳng là chóp đỉnh sao?

 

Từ năm Mân Côi bước qua Năm Thánh Thể

 

10. Giữa năm Mân Côi, Cha đã công bố một Văn Thư về Thánh Thể Ecclesia de Eucharistia nhằm mục đích chứng minh mầu nhiệm Thánh Thể gắn liền vơí Giáo Hội và Thánh Thể là sự sống còn của Giáo Hội. Cha đã mời gọi mọi tín hữu hãy cử hành hy tế Thánh Thể với lòng tôn kính, dâng lên Chúa Giêsu đang hiện diện trong bí tích Thánh Thể với lòng tôn thờ mầu nhiệm cao cả này trong cũng như ngoài thánh lễ. Trên hết Cha nhắc lại lần nữa, Thánh Thể là một nhu cầu tối hảo cho đời sống Giáo Hội và Cha xin giới thiệu Mẹ Maria như mẫu gương vì Mẹ là một “người nữ của bí tích Thánh Thể”.(8)

 

Với bối cảnh đó, Cha hy vọng năm Thánh Thể sẽ mang lại nhiều lợi ích, thâu gặt nhiều thanh qủa phong phú như nhiều năm qua bằng chính việc đào sâu chủ đề Đức Kitô và chiêm ngưỡng diện mạo của Ngài. Nói cách khác, năm Thánh Thể sẽ là năm thăng tiến, đạt tới đỉnh cao của cuộc hành trình niềm tin. Làm thế nào để cử hành năm Thánh Thể cho thật hiệu năng? Ở đây, Cha chỉ đơn thuần đề nghị một số phương thế hầu giúp cho mỗi người cảm nghiệm được một cách sâu xa và hiệu qủa hơn.

 

CHƯƠNG II

THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM SỰ SÁNG

 

“Người cắt nghĩa cho các ông mọi điều Sách Thánh đã nói về Người” (Lc 24:27)

 

11. Tường thuật về Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmaus giúp chúng ta tập trung trước tiên vào mầu nhiệm Thánh Thể, một nhiệm tích được Dân Chúa tôn thờ: Thánh Thể là một mầu nhiệm của ánh sáng! Điều ấy có ý nghĩa gì và đâu là những liên hệ của bí tích này trong đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu?

Chính Chúa tự xưng mình là “ánh sáng trần gian” (Gioan 8:12), điều ấy được tỏ hiện nhiều lần trong cuộc đời của Chúa như lúc Biến hình và Phục sinh, là những lúc thiên tính của Người được chiếu sáng. Vinh quang đó cũng được tỏ hiện trong bí tích Thánh Thể. Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin. Thiên Chúa hòan toàn ẩn dấu trong mầu nhiệm này, Chúng ta tạ ơn Chúa Kitô, Người đã trở nên một mầu nhiệm ánh sáng soi dẫn chúng ta đi sâu vào thân tình của sự sống Thiên Chúa. Trong một trực cảm Rublev đã họa nên bức tranh bữa tiệc của Ba ngôi Thiên Chúa mà Thánh Thể được coi là trọng tâm của đời sống của Chúa Ba Ngôi.

 

12. Thánh Thể là ánh sáng của tất cả vì trong mỗi thánh lễ, phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể được liên kết hòa hợp cả hai bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Bánh Thánh. Sự liên tục ấy được Phúc âm thánh Gioan trong phần diễn từ về Thánh Thể, lúc Chúa giảng dậy về mầu nhiệm con người của Ngài để dẫn tới chiều kích Thánh Thể: “Thịt Ta thật là của ăn, Máu ta thật là của uống” (Gioan 6:55). Chúng ta biết lơi ấy đã làm chướng tai hầu hết những người hiện diện nghe Ngài giảng dậy nên đã bỏ Ngài. Lại chính giờ phút ấy trở thành phút giây cho Phêrô tuyên tín niềm tin thay cho các Tông đồ và thay cho Giáo hội qua mọi thời đại: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Vì Thầy có lời ban sự sống” (Gioan 6:68). Trong tường thuật của hai môn đệ trên đường Emmaus, chính Đức Kitô đã can dự vào bằng việc trưng dẫn, “khởi đầu từ Môisê qua các tiên tri”, để minh chứng “tất cả những gì Sách Thánh nói về Người” đã được ứng nghiệm (xem Lc 24:27). Lời của Ngài đã làm cho tâm hồn hai môn cảm thấy “bừng cháy”, giải thoát các ông khỏi sự u mê sầu muộn và thức tỉnh hai ông để khẩn khoản nài xin Chúa ở lại với hai ông: “Lạy Thầy, xin ở lại với chúng con” (xem câu 29).

 

13. Các nghị phụ tham dự Công đồng Vatican II trong hiến chế Sacrosanctum Concilium, đã làm cho “bàn tiệc Lời Chúa” được phong phú bằng cách trình bày toàn bộ kho tàng Kinh Thánh cho tín hữu. (9) Hiệu qủa là các bài đọc Kinh Thánh dùng trong phụng vụ được công bố bằng các ngôn ngữ địa phương hầu cho những người tham dự hiểu thấu được. Đó chính là Đức Kitô nói với các tín hữu khi Lời Chúa được công bố.(10) Các nghị phụ của Công đồng cũng mời gọi các linh m?c hay chủ tế ý thức rằng bài giảng cũng là một phần của phụng vụ và bài giảng nhằm cắt nghĩa Lời Chúa hầu rút tỉa ra những ứng dụng cho cuộc sống thường nhật.(11) 40 năm sau Công đồng và đặc biệt trong Năm Thánh Thể thì đây là một cơ hội quan trọng cho mọi cộng đoàn định gía bước tiến của mình trước Lời Chúa. Không đủ chỉ công bố Lời Chúa trên bục đọc mà việc đó đòi hỏi phải được sửa soạn bằng suy niệm trong thinh lặng để Lời Chúa được thấm nhiễm vào tâm lòng của những người tham dự.

 

“Các ngài nhận ra Chúa lúc Chúa bẻ bánh” (xem Lc 24:35)

 

14. Thật là ý nghĩa tiến trình hai môn sinh trên đường Emmaus được sửa soạn bằng những dẫn giải của Chúa để rồi nhận ra Ngài lúc Ngài bẻ bánh; chúng ta cũng được bàn tiệc Lời Chúa sửa soạn để dẫn vào bàn tiệc Thánh Thể. Khi tâm trí được soi dẫn thì tâm hồn cũng được rộng mở để nghe tiếng nói của các dấu chỉ. Thánh Thể được cử hành với nhiều dấu chỉ và biểu tượng phong phú hầu diễn đạt được phần nào mầu nhiệm tiềm ẩn trong đó cho các tín hữu.

 

Như Cha đã nhấn mạnh trong Văn kiện Ecclesia de Eucharistia, rằng mọi chiều kích của bí tích Thánh Thể đều quan trọng nên không được coi thường hoặc bỏ qua một nghi thức nào! Chúng ta không ngừng đem Thánh Thể vào cuộc sống tư riêng của chúng ta, nhưng đồng thời cũng biết tan hòa chính mình vào các chiều kích của mầu nhiệm bí tích này. “Thánh Thể là một hồng ân vô gía...”.(12)

 

15. Một chiều kích hiển nhiên không thể chối từ: Thánh Thể là một bữa tiệc. Bí tích Thánh Thể đã được khai sinh từ bữa tiệc ly chiều thứ năm tuần thánh. Là bữa tiệc nên có hình thức rất rõ rệt như: “Hãy lãnh nhận mà ăn.... Sau đó Người cầm lấy chén rượu và đọc lời chúc tụng trao cho các môn đệ mà nói: Tất cả các con hãy lãnh nhận mà uống” (Mathêu 26:26, 27). Điều ấy muốn nói cho mọi kẻ tin là Chúa đã muốn thiết lập Thánh Thể cho chúng ta và mời gọi chúng ta tiếp tục cử hành Thánh Thể.

 

Nhưng tiên quyết và trước tiên, tiệc Thánh Thể là một hy lễ. (13) Trong Thánh Thể, Đức Kitô hiện thân và làm sống động lại hy tế mà Ngài hiến tế một lần cho tất cả trên đồi Golgotha. Hiện diện trong bí tích Thánh Thể như một vì Chúa phục sinh nên Ngài không còn mang thương tích nữa. Chính vì vậy mỗi thánh lễ dâng là một cuộc “tưởng niệm” như lời tuyên xưng trong Thánh lễ chúng ta tuyên xưng: “Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại...”. Đồng thời khi cử hành Thánh Thể cũng là lúc làm hiện tại hóa cuộc thương khó đã qua và phóng tới tương lai cho tới khi Chúa lại đến trong ngày cánh chung. Chiều kích “lữ hành” này làm cho Bí tích Thánh Thể thành một biến cố cuốn hút chúng ta và đem lại cho cuộc lữ hành trần thế của chúng ta dồi dào niềm hy vọng.

 

“Thầy ở cùng chúng con luôn mãi...” (Mathêu 28:20)

 

16. Tất cả các chiều kích Thánh Thể được thâu tóm vào một khía cạch nền tảng đức tin của chúng ta là: mầu nhiệm Chúa “thực sự” hiện diện trong Thánh Thể. Theo truyền thống của Giáo Hội chúng ta tin Chúa hiện diện dưới hình bánh cũng như hình rượu, toàn diện con người Chúa Kitô, thân xác và máu huyết hiện diện trong Thánh Thể.(14) Niềm tin này giúp chúng ta ý thức rằng khi chúng ta tới với Thánh Thể là lúc chúng ta tới với chính Chúa Kitô. Nên Thánh Thể là một bữa tiệc, là cuộc tưởng nhớ tới cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa, là một cuộc lữ hành, nó siêu vượt lên trên mọi dấu chỉ và biểu tượng. Thánh Thể là một mầu nhiệm của sự hiện của Chúa như lời Người đã hứa, sẽ ở cùng chúng sinh cho tới tận thế.

 

Cử hành, thờ lạy, chiêm ngắm

 

17. Thánh Thể là một mầu nhiệm cao cả! Và là một mầu nhiệm trên tất cả các mầu nhiệm mà chúng ta phải cử hành sốt sắng. Thánh lễ phải là trung tâm điểm của đời sống Kitô hữu và được cả cộng đoàn cử hành trọng thể, tuân theo các luật đã được ấn định, trước sự hiện diện của cộng đoàn và của các thừa tác viên có trách nhiệm, các bài hát và nhạc phụng vụ phải thích hợp cho việc cử hành “thánh”. Một chương trình đặc biệt cho năm Thánh Thể này là học hỏi những quy luật phụng vụ trong sách lễ Roma. Đó là cách thế tốt đẹp nhất đi vào mầu nhiệm cứu độ hiện diện trong các dấu chỉ thánh, đồng thời bền bỉ trung thành tuân theo năm phụng vụ. Các chủ chăn nên tìm hiểu cặn kẽ giáo lý của các Giáo phụ trong Giáo Hội, để giúp các tín hữu hiểu rõ hơn về lời đọc và các lễ nghi trong phụng vụ, để chuyển nhượng qua các dấu chỉ phụng vụ nói lên mầu nhiệm đang được cử hành, nhờ đó mà cả cuộc đời của họ được thấm nhuần trong các mầu nhiệm.

 

18. Cần giáo dục và vun xới ý thức xác tín về sự hiện diện thật sự của Chúa trong bí tích Thánh Thể, trong thánh lễ cũng như tôn thờ Thánh Thể ngoài thánh lễ. Ý thức đó được biểu tỏ qua giọng nói, cử chỉ, dáng điệu cũng như tác phong. Về điểm này, luật phụng vụ dậy - và gần đây Cha cũng nhấn mạnh tới (15) - tầm quan trọng của những lúc thinh lặng trong thánh lễ cũng như khi chầu Thánh Thể Chúa. Các thừa tác viên cũng như tín hữu phải có một lòng tôn kính sâu xa dành cho Thánh Thể Chúa. (16) Sự hiện diện của Chúa trong nhà tạm phải trở thành trụ nam châm thu hút các linh hồn say mê Chúa, Đấng hằng kiên tâm sẵn sàng lắng nghe lời tâm sự cũng như nhịp đập con tim của họ. “Hãy nếm thử và nhìn coi Chúa thiện hảo dường bao!” (TV 34:8).

 

Trong năm Thánh Thể này mỗi giáo xứ cũng như các cộng đoàn tu sĩ nên có những giờ chầu Thánh Thể ngoài thánh lễ. Hãy dành thời giờ qùi trước Thánh Thể, Chúa Giêsu đang hiện diện trong đó, hầu đền tạ thay cho những kẻ vô ơn bội nghĩa cùng Chúa và cho những kẻ phản nghịch cùng Chúa trên khắp thế giới. Cá nhân cũng như cộng đoàn hãy thờ lạy Chúa. hãy dùng Sách Thánh, các kinh nghiệm huyền bí của các thánh xưa và nay mà cầu nguyện trước Thánh Thể Chúa. Chính tràng chuỗi Mân Côi cũng bắt nguồn sâu xa từ Sách Thánh mà Cha đã đề cập tới trong Tông huấn về Kinh Mân Côi. Cùng với Mẹ chúng ta chiêm ngưỡng Thánh Thể Chúa.(17)

 

Trong năm thánh này chúng ta hãy cử hành lễ Mình và Máu Chúa Kitô một cách trọng thể đặc biệt, nên tổ chức cuộc rước Thánh Thể theo truyền thống. Niềm tin của chúng ta vào một vì Thiên chúa đã mặc lấy xác phàm chúng ta để trở thành bạn đồng hành với chúng ta trong mọi nhu cầu, ở mọi nơi; thì chúng ta cũng phải đưa Ngài về nhà, trong gia đình,ngoài phố xá của chúng ta như một diễn tả lòng biết ơn và tình yêu chúng ta trước nguồn ơn thánh chẳng bao giờ cạn kiệt.

 

CHƯƠNG III

THÁNH THỂ - SUỐI NGUỒN VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA TÌNH HIỆP THÔNG

 

“Các con hãy ở lại trong Thầy, cũng như Thầy ở trong các con” (Gioan 15:4)

 

19. Trên đường Emmaus khi hai môn sinh nài nỉ Chúa ở lại “với” các ông, Chúa đã đáp lại và trao tặng cho các ông một món quà to lớn hơn đó là qua Thánh Thể, Ngài ở lại “trong” các ông. Tiếp rước Thánh Thể là đi sâu vào thân tình hiệp nhất với Chúa Giêsu. “Các con hãy ở lại trong Thầy, cũng như Thầy ở trong các con” (Gioan 15:4). Mối giao hảo này “liên kết” chúng ta lại với Chúa một cách sâu xa và hỗ tương khiến chúng ta có thể nếm cảm được hạnh phúc thiên đàng ngay tại thế. Đó lại chẳng là khát vọng lớn lao nhất của con người trần thế sao? Và đó lại chẳng phải là điều mà Chúa mong muốn khi Ngài đem ơn cứu độ vào trong hoàn vũ này sao? Thiên Chúa đã đặt để vào tâm hồn con người “khát vọng” lời Ngài (Am 8:11), một khát vọng chỉ được no thỏa khi kết hợp với Ngài. Thánh Thể được ban cho chúng ta hầu chúng ta có thể nếm cảm được sự “no phỉ” với Chúa trong khi chờ đợi ngày kết hợp trọn vẹn với Ngài trên nước trời.

 

Một tấm bánh, một thân thể

 

20. Sự kết hợp mật thiết qua bí tích Thánh Thể không thể thấu hiểu trọn vẹn được và cũng không thể tiến đạt nếu không thông hiệp với Giáo Hội. Cha đã không ngừng nhấn mạnh về điểm này trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Giáo Hội là Thân thể Chúa Kitô: chúng ta cùng tiến bước “với Chúa Kitô”, nghĩa là chúng ta là “phần thân thể của Người”. Chúa Kitô đã ban Thần Khí của Người đến giúp các loài thụ tạo thăng tiến và thăng tiếng cho tới tình trạng hiệp nhất nên một với Ngài. Và Chúa cũng không ngừng hiện diện trong Thánh Thể để nên một với chúng sinh. Trong Thánh Thể chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể, như thánh Phaolô đã xác quyết: “Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm bánh ấy, nên tuy nhiều người chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cor 10:17). Trong mầu nhiệm Thánh Thể Chúa Giêsu hiệp nhất với Giáo Hội thân thể Ngài như lời nguyện hiến tế của Ngài: “Lạy Cha, Cha ở trong con để chúng cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Gioan 17:21).

 

21. Thánh Thể là nguồn sự hiệp nhất cho Giáo Hội và là biểu tượng vĩ đại nhất của Giáo Hội. Thánh Thể là một sự biểu tỏ hiệp thông. Vì lý do ấy mà Giáo Hội đề ra những điều kiện và quy tắc cho việc cử hành bí tích Thánh Thể.(18) Chúng ta phải ý thức rằng đó là những gì Chúa làm khi lập phép Thánh Thể và Ngài truyền cho chúng ta thi hành. Đó chính là sự hiệp thông các phẩm trật, theo đó thì có nhiều vai trò và tác vụ khác nhau như trong Kinh Nguyện Thánh Thể đã nhắc tới: Đức thánh cha, giám mục giáo phận v.v... Đây là sự hiệp thông huynh đệ được rộng mở để yêu thương, cảm thông và tha thứ cho nhau.(19)

 

“... một trái tim một tâm hồn” (TĐCV 4:32)

 

22. Trong mỗi thánh lễ chúng ta được mời gọi xét mình để xem mình đã đạt tới một sự hiệp thông lý tưởng mà sách Tông Đồ Công Vụ đã viết khi đề cập tới một cộng đoàn lý tưởng cho Giáo Hội của mọi thời chưa? Một cộng đoàn Giáo Hội được quy tụ quanh các Tông đồ, để lắng nghe Lời Chúa, để chia sẻ mọi sự từ tinh thần tới vật chất (xem Acts 2:42-47; 4:32-35). Trong năm Thánh Thể này, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy tiến đạt tới lý tưởng đó bao có thể. Mỗi người hãy nỗ lực để cảm nghiệm được lý tưởng này khi hiệp thông với giám mục giáo phận trong những dịp cử hành thánh lễ với các linh mục, phó tế và toàn Dân thánh Chúa tại nhà thờ chính tòa.(20) Cảm nghiệm này cũng có thể tìm đạt tại các giáo xứ trong các thánh lễ đặc biệt, nối kết mọi thành phần trong giáo xứ và canh tân lại lòng mến yêu dành cho bí tích Thánh Thể Chúa.

 

Ngày của Chúa

 

23. Một cách đặc biệt Cha mời gọi tất cả hãy cố gắng trong năm Thánh Thể này hãy cử hành thánh lễ Chúa Nhật một cách trọng thể, biến ngày đó thành ngày của Chúa và ngày của Giáo hội. Cha ước mong chúng con hãy đọc lại Tông thư Dies Domini (Ngày của Chúa) mà cha đã ban hành trước đây.“Trong Thánh lê Chúa Nhật, các tín hữu sống lại cảm nghiệm vô cùng sốt mến của các Tông Đồ vào chiều ngày Chúa sống lại, khi Đấng phục sinh hiện ra với các ông lúc các ông đang nhóm họp để cầu nguyện (xem Gioan 20:19). Trong cùng một ý nghĩa ấy, Dân Chúa trong mọi thời cũng họp nhau lại thành những nhóm nhỏ, đó là thành quả đầu tiên của Giáo Hội”.(21) Trong năm ân thánh này, các linh mục và các thừa tác viên hãy chú tâm vào việc cử hành thánh lễ ngày Chúa Nhật hầu việc cử hành phụng vụ thánh này lôi kéo mọi thành phần, mọi nhóm, mọi hội đoàn đoàn thể trong cộng đoàn lại với nhau.

 

CHƯƠNG IV

THÁNH THỂ, NGUYÊN TẮC VÀ KẾ HOẠCH “TRUYỀN GIÁO”

 

“Các ngài trỗi dậy trở về Giêrusalem ngay lập tức” (xem Lc 24:33)

 

24. Hai môn đệ trên đường Emmaus đã “lên đường trở lại Giêrusalem ngay tức khắc”, khi hai ông nhận ra Thầy mình” (xem Lc 24:33), hầu có thể tường thuật cho các tông đồ khác những gì mình đã nghe và thấy. Cũng thế khi chúng ta gặp gỡ Đức Kitô thực sự, khi rước Mình và Máu thánh Chúa, chúng ta không thể cầm giữ niềm vui mà lại không chia sẻ. Tiếp xúc với Đức Kitô, và không ngừng được kiên vững và hòa nhập trong bí tích Thánh Thể, đòi hỏi Giáo Hội cũng như mỗi người chúng ta cấp thiết làm chứng tá rao truyền Tin mừng Chúa. Cha dựa vào lời thánh Phaolô “mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này là mỗi lần anh em loan truyền sự chết của Chúa cho tới khi Chúa lại đến (1 Cor 11:26) Cha cũng đã nhấn mạnh điểm này trong bài giảng khi Cha công bố năm Thánh Thể. Thánh Phaolô liên kết tiệc Thánh Thể với việc rao giảng, nghĩa là khi ta đi vào thông hiệp cuộc nạn với Chúa Kitô thì chúng ta cũng lãnh trọng trách trở thành người truyền bá điều mà nghi thức ấy cử hành.(22) Nghi thức giải tán giáo dân sau thánh lễ đã nhắn gửi sứ mệnh mời gọi hãy loan truyền Phúc âm và những giá trị Kitô hữu làm thấm nhuần vào xã hội chúng ta đang sinh sống.

 

25. Thánh Thể không chỉ cung cấp sức mạnh nội tâm cần thiết để thể hiện sứ mệnh truyền giáo này mà còn là chương trình và kế hoạch cho việc truyền giáo nữa. Vì Thánh Thể là một mốt sống được Đức Giêsu chuyển đạt cho chúng ta là tín hữu của Người qua sứ điệp của Người để chúng ta đưa vào văn hóa xã hội chúng ta đang sống. Chính vì thế mà mỗi người tín hữu cũng như mỗi cộng đoàn cần thấm nhiễm những giá trị và sứ mệnh mà bí tích Thánh Thể muốn chúng ta truyền giảng. Làm sao chúng ta có thể không nhìn nhận ra những thúc bách ấy trong năm Thánh Thể này được?

 

Dâng lời tạ ơn

 

26. Một yếu tố nền tảng cho kế hoạch năm Thánh Thể được tìm thấy trong ý nghĩa danh từ “Thánh Thể”. Thánh Thể có nghĩa là tạ ơn. Trong Chúa Giêsu, trong hy tế của Ngài, qua lời “xin vâng” vô điều kiện trước thánh ý Chúa Cha đã hàm chứa lời “xin vâng”, “cám ơn” và lời “amen” cho toàn thể nhân loại. Sứ mệnh của Giáo Hội là nhắc nhớ cho người thế này sự thật lớn lao ấy, đặc biệt giữa một thế giới trần tục ngày nay, một thế giới cố tình quên sự hiện hữu của Thiên Chúa, tự cho mình là cùng đích và tự mãn. Kế hoạch Thánh Thể hóa công ăn việc làm cho cuộc sống thường nhật, trong gia đình, trường lớp, công xưởng và trong mọi cảnh sống của chúng ta để chứng minh rằng loài người thụ tạo chúng ta không thể tồn vững nếu không có Đấng Hóa Công: “Không có Chúa mọi loài sẽ bị hủy diệt”.(23) Điểm siêu việt này không ngừng nhắc nhở chúng ta cảm tạ Chúa về mọi sự chúng ta có và hiện hữu - nói khác đi, chúng ta có thái độ “Thánh Thể” là thái độ tạ ơn trước mọi thực tại trần thế hữu hình và giới hạn này.(24)

 

Trong năm Thánh Thể này mọi người cần phải dấn thân làm chứng nhân cho Chúa trong xã hội trần thế. Các con đừng ngại nói về Chúa và làm chứng cho niềm tin của chúng con. “Văn hóa Thánh Thể” cần phải được đưa ra đối thoại và cổ súy hầu mang lại sức mạnh và nên của ăn nuôi dưỡng chúng ta. Thật là sai lầm khi nghĩ rằng việc tôn kính công khai thuộc lãnh vực tôn giáo lại chạm tới quyền bính trần thế hoặc gây ra những thái độ chống đối. Nếu trong lịch sử có những vết nhọ gây ra bởi các tín hữu thì như Cha đã giảng giải trong dịp mừng Năm Đại Thánh là những biến cố đó không phải do Kitô giáo gây nên! Một người biết nói lời “cám ơn” như Đức Kitô bị đóng đinh trên Thập tự thì đều bị kết liễu đời mình bằng một sự tử đạo chứ không phải là một kẻ gây rối!

 

Con đường huynh đệ

 

27. Thánh Thể không chỉ biểu lộ một sự hiệp thông trong đời sống của Giáo Hội mà còn là một kế hoạch của tình huynh đệ đại đồng của gia đình nhân loại. Trong việc cử hành bí tích Thánh Thể Giáo hội không ngừng canh tân lại vai trò trở thành “dấu chỉ và khí cụ” của mình, không chỉ kết hợp với Thiên Chúa mà thôi mà còn kết liên toàn thể nhân loại.(25) Mỗi thánh lễ, dù dâng riêng hay thầm kín đều mang chiều kích hoàn vũ này. Người Kitô hữu tham dự vào bí tích Thánh Thể là học đòi để trở thành người cổ súy hiệp thông, hòa bình và huynh đệ trong mọi hoàn cảnh. Hơn bao giờ hết giữa một thế giới đầy nhiễu nhương ngày nay, vì khởi đầu thiên niên kỷ mới này đã dẫy đầy những cảnh bạo tàn khủng bố và chiến tranh, chúng ta hãy cầu xin Thánh Thể Chúa là trường dậy hòa bình, uốn lòng của con người nam cũng như nữ thuộc mọi tầng lớp hãy ý thức trách nhiệm của mình với xã hội, với văn hóa và chính trị để trở thành những người cổ súy cho hòa giải và hòa hợp.

 

Phục vụ những kẻ thấp hèn

 

28. Một điểm khác mà Cha muốn nhấn mạnh tới và đó cũng là kết quả thiết thực khi thông hiệp với bí tích Thánh Thể. Đó chính là sự thúc bách mà Chúa Giêsu Thánh Thể ban cho Giáo hội, là xây dựng một cộng đoàn yêu thương huynh đệ. Chính trong Thánh Thể Chúa Giêsu đã bầy tỏ cho chúng ta tình yêu vô bờ bến của Người mà trong liên hệ bình thường con người không tìm thấy được như tiêu chuẩn Chúa đã đề ra: “Ai trong các con muốn làm kẻ cầm đầu, thì phải làm kẻ rốt hết, và làm người phục vụ cho mọi người” (Mc 9:35). Chúng ta không tìm thấy trong Phúc âm thánh Gioan tường thuật Chúa lập phép Thánh Thể, nhưng thay vào đó là hoạt cảnh “rửa chân” (xem Gioan 13:1-20): qua việc cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu giảng giải cho các ông ý nghĩa của Thánh Thể. Thánh Phaolô đã khẳng khái quả quyết rằng việc cử hành Thánh Thể sẽ thiếu xót nếu không thực thi việc chia cơm sẻ áo cho những người túng nghèo (xem1Cor 11:17-22, 27-34).

 

Làm thế nào chúng ta có thể cử hành năm Thánh Thể trong giáo phận cũng như tại các giáo xứ mà lại không dấn thân xây dựng tình huynh đệ đối với những người cô thế cô thân và những người nghèo đói trong xã hội? Cha nghĩ tới hàng trăm triệu người chết vì những thiên tại, bệnh tật, tới nhưữg người già lão cô đơn, tới những người nhân công thất nghiệp vì không công ăn việc làm, tới những người tỵ nạn bơ vơ... Đó là sự dữ đang hiện diện - dù dưới góc độ khác nhau - hiện diện ngay cả những nơi văn minh vật chất dư thừa nữa! Chúng ta đừng lừa dối mình nếu chúng ta biết yêu thương nhau và quảng đại chia sẻ giúp đáp những người túng quẫn, vì có làm thế chúng ta mới được gọi thực sự là những người môn sinh theo Chúa (xem Gioan 13:35; Mathêu 25:31-46). Đó cũng là tiêu chuẩn xét xử chúng ta có sống bí tích Thánh Thể thực sự hay không.

 

KẾT LUẬN

 

29. O Sacrum Convivium, in quo Christus sumitur! Năm Thánh Thể bắt nguồn từ sự chiêm ngưỡng điều mà Giáo Hội gọi là một mầu nhiệm vĩ đại, điều mà Cha không ngừng chiêm ngưỡng và suy niệm. Cha đã nói trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Khi nhìn tới năm thứ 27 của triều đại giáo hoàng của Cha, Cha coi đó là một hồng ân lớn lao và Cha kêu mời toàn thể Giáo Hội hãy chiêm ngắm, tán tạ và thờ lạy bí tích Thánh Thể cực cao cực trọng. Ước mong năm Thánh Thể sẽ là cơ hội quí báu cho mỗi người thăng tiến trong việc ý thức kho tàng vô giá mà Chúa Kitô đã lại cho Giáo Hội. Ước chi năm Thánh Thể thúc đẩy mỗi người hãy tham dự thánh lễ một cách sống động, sốt mến hầu đời sống Kitô hữu của chúng con được biến đổi trong tình yêu.

 

Chắc chắn các giáo xứ tùy sẽ đón nhận được từ cha xứ và các thừa tác viên những sáng kiến để mừng năm Thánh Thể. Ủy Ban Phụng Tự và Bí Tích sẽ đề nghị những chương trình và kế hoạch khác nhau. Cha không đòi hỏi chúng con sẽ làm những điều qúa đặc biệt bề ngoài cho bằng những sáng kiến làm thay đổi nội tâm. Nếu thành qủa đạt được giúp các cộng đoàn cử hành thánh lễ các ngày Chúa Nhật cách sốt sắng cũng như thực hiện được các giờ chầu Thánh Thể sau các thánh lễ thì quả là năm Thánh Thể thành công mỹ mãn và là hồng ân lớn lao. Chắc chắn đó là cái đích chúng ta nhắm tới, nhưng chúng ta cũng đừng tự cao tự đại, vì chúng ta luôn trông cậy vào ơn Chúa giúp.

 

30. Cùng các hiền huynh giám mục, Hiền đệ tin tưởng trao phó năm Thánh Thể cho các hiền huynh và Hiền đệ tin tưởng các hiền huynh sẽ đón nhận lời mời gọi của Hiền đệ với một nhiệt huyết tông đồ.

 

Cùng các linh mục thân mến, các con không ngừng lặp lại lời truyền phép hàng ngày; các con là những chứng nhân và là những người loan tin phép lạ tình yêu xảy ra ngay trên tay các con: hãy cố gắng cử hành thánh lễ hàng ngày trong suốt năm nay với niềm vui và lòng sốt mến như thánh lễ đầu đời linh mục của các con, các con cũng cố gắng dành thời giờ để chầu Thánh Thể Chúa đang ngự trong nhà tạm.

 

Cùng các phó tế, Cha mong uớc năm nay là năm hồng ân cho các con, vì các con là những thừa tác viên của Lời Chúa và tiếp cận phụng vụ bàn thánh. Cha kêu mời các con, những thừa viên viên đọc sách và giúp lễ cũng như các thừa tác viên Thánh Thể đặc biệt, các con hãy ý thức trách vụ mà các con nhận lãnh là một món qùa qúi gía mà Thánh Thể Chúa ban tặng.

 

Đặc biệt với các chủng sinh, các linh m?c tương lai, Cha mời gọi các con hãy lợi dụng những giây phút tại chủng viện để làm cho thánh lễ mỗi ngày là những kỷ niệm hồng. Mỗi ngày chúng con phải có thời giờ dành cho Chúa và tâm sự với Ngài trong phép Thánh Thể.

 

Với các tu sĩ nam nữ chúng con được mời gọi sống tận hiến và chiêm niệm: đừng bao giờ chúng con quên Chúa Giêsu đang trong nhà tạm, Ngài mơ ước chúng con đến bên Ngài hầu Ngài có thể đong đầy trái tim tâm hồn chúng con tình bạn chí thân, vì chính tình nghĩa thiết này làm cho đời chúng con có ý nghĩa và nên trọn hảo.

 

Đối các tín hữu, ước mong chúng con tái khám phá ra món qùa Thánh Thể là ánh sáng và sức mạnh cho mỗi ngày sống của chúng con. Giữa trăm cảnh ngộ khác nhau, chúng con tái khám phá lại nét đẹp tròn đầy và sứ mệnh của gia đình chúng con.

 

Còn chung con giới trẻ, Cha kỳ vọng nơi chúng con, Cha mong gặp chúng con trong những ngày Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne. Với chủ đề “chúng ta hãy đến thờ lạy Người” gợi lên cho chúng con kinh nghiệm tốt đẹp nhất trong năm Thánh Thể này. Các con hãy dâng cho Chúa khi gặp gỡ Ngài đang ẩn náu trong phép Thánh Thể, tất cả nhiệt huyết tuổi trẻ của chúng con, những hy vọng và cả những khát vọng yêu thương của chúng con.

 

31. Chúng ta có các thánh là những mẫu gương, các Ngài đã tìm được của ăn dưỡng nuôi các Ngài trên con đường tiến tới sự thánh thiện. Biết bao lần các Ngài đã rơi lệ cảm động trước sự hiện diện của bí tích cực thánh này, hoặc trải qua hàng giờ ngất trí và say mến niềm vui không diễn đạt được trước nhà tạm Chúa. “Giáo Hội nhìn lên Đức Maria như mẫu gương, để bắt chước tình yêu Mẹ dành cho mầu nhiệm cực thánh này”.(26) Thánh Thể mà chúng ta rước lấy là Thiên Chúa nhập thể, Con của Mẹ: Kính chào thân xác đã được Đức Nữ trinh sinh ra - Ave verum corpus natum de Maria Virgine. Trong năm hồng ân này, nhờ Mẹ phù trì, xin cho Giáo Hội khám phá ra niềm phấn kích mới cho sứ mệnh truyền giáo và được thấu triệt trọn vẹn Thánh Thể Chúa chính là nguồn và cùng đích cho cuộc sống của Giáo Hội.

 

Cha gửi tới tất cả chúng con phép lành của Cha như bảo chứng ân sủng và niềm vui.

 

Từ điện Vatican, ngày 7/10/2004 nhân ngày Lễ Mân Côi và là 26 năm triều đại giáo hoàng của Cha.

Đức Gioan Phaolô II

Lm Anthony Nguyễn Hữu Quảng sdb dịch

 

___________________________________________________________________

(1) Hiến Chế Mục Vụ: Gaudium Et Spes, 45.

(2) Ibid., 22.

(3) No. 55: AAS 87 (1995), 38.

(4) Nos. 32-34: AAS 90 (1998), 732-734.

(5) Nos. 30-32: AAS 93 (2001), 287-289.

(6) Ibid., 35: loc. cit., 290-291.

(7) Xem Tông huấn Rosarium Virginis Mariae (16 October 2002), 19-21: AAS 95 (2003), 18-20.

(8) Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 53: AAS 95 (2003), 469.

(9) No. 51.

(10) Ibid., 7.

(11) Ibid., 52.

(12) Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 10: AAS 95 (2003), 439.

(13) Xem John Paul II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/4/ 2003), 10: AAS 95 (2003), 439. Ủy Ban Phụng Tự và Bí tích, Hướng dẫn Redemptionis Sacramentum về một số điều phải giữ hoạc tánh khi cử hành Bí tích Thánh Thể (25/3/ 2004), 38: Báo L'Osservatore Romano, 28/4/2004, Số đặc biệt, trang 3.

(14) Xem Thông điệp Mysterium Fidei (3/9/1965), 39: AAS 57 (1965), 764; Ủy Ban về nghi Lễ, Hướng dẫn Eucharisticum Mysterium việc tôn thờ Thánh Thể (25/5/1967), 9: AAS 59 (1967), 547.

(15) Xem Văn thư Spiritus et Sponsa, nhân kỷ niệm 40 Hiến Chế Sacrosanctum Concilium (4/12/ 2003), 13: AAS 96 (2004), 425.

(16) Xem Congregation Ủy Ban Phụng Tự và Bí tích, Hướng dẫn Redemptionis Sacramentum về một số điều phải giữ hoạc tánh khi cử hành Bí tích Thánh Thể (25/3/ 2004): Báo L'Osservatore Romano, 28/4/2004, Số đặc biệt,

(17) Ibid., 137, loc. cit., p.11.

(18) Xem John Paul II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/4/ 2003), 44: AAS 95 (2003), 462; Giáo luật, số 908; Luật Giáo Hội Đông Phương số 702; Uỷ ban Đại kết, Directorium Oecumenicum (25/3/1993), 122-125, 129-131: AAS 85 (1993), 1086-1089; Ủy Ban Tín Lý, Thư Ad Exsequendam (18 May 2001): AAS 93 (2001), 786.

(19) Xem Đức Gioan Phaolô II, Tông thư Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 43: AAS 93 (2001), 297.

(20) Xem CĐ Vatican Hiến Chế Phụng Vụ Sacrosanctum Concilium, 41.

(21) No. 33: AAS 90 (1998), 733.

(22) Xem Bài giảng của ĐTC ngày Lễ Mình Và Máu Thánhchúa (10/6/2004): Báo L'Osservatore Romano, 11-12/6/2004, trang 6.

(23) Vatican II về Đai Kết, Hiến Chế Gaudium et Spes, 36.

(24) Ibid.

(25) Xem Vatican II về Đai Kết, Hiến Chế Giáo Hội - Lumen Gentium, 1.

(26) Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/4/2003), 53: AAS 95 (2003), 469.

 

____________________________________________________________________

Apostolic Letter for the Year of the Eucharist

"Mane Nobiscum Domine"

APOSTOLIC LETTER
MANE NOBISCUM DOMINE
OF THE HOLY FATHER JOHN PAUL II
TO THE BISHOPS, CLERGY
AND FAITHFUL FOR THE YEAR OF THE EUCHARIST

OCTOBER 2004–OCTOBER 2005

 

INTRODUCTION

 

1. “Stay with us, Lord, for it is almost evening” (cf. Lk 24:29). This was the insistent invitation that the two disciples journeying to Emmaus on the evening of the day of the resurrection addressed to the Wayfarer who had accompanied them on their journey. Weighed down with sadness, they never imagined that this stranger was none other than their Master, risen from the dead. Yet they felt their hearts burning within them (cf. v. 32) as he spoke to them and “explained” the Scriptures. The light of the Word unlocked the hardness of their hearts and “opened their eyes” (cf. v. 31). Amid the shadows of the passing day and the darkness that clouded their spirit, the Wayfarer brought a ray of light which rekindled their hope and led their hearts to yearn for the fullness of light. “Stay with us”, they pleaded. And he agreed. Soon afterwards, Jesus' face would disappear, yet the Master would “stay” with them, hidden in the “breaking of the bread” which had opened their eyes to recognize him.

 

2. The image of the disciples on the way to Emmaus can serve as a fitting guide for a Year when the Church will be particularly engaged in living out the mystery of the Holy Eucharist. Amid our questions and difficulties, and even our bitter disappointments, the divine Wayfarer continues to walk at our side, opening to us the Scriptures and leading us to a deeper understanding of the mysteries of God. When we meet him fully, we will pass from the light of the Word to the light streaming from the “Bread of life”, the supreme fulfilment of his promise to “be with us always, to the end of the age” (cf. Mt 28:20).

 

3. The “breaking of bread”—as the Eucharist was called in earliest times—has always been at the centre of the Church's life. Through it Christ makes present within time the mystery of his death and resurrection. In it he is received in person as the “living bread come down from heaven” (Jn 6:51), and with him we receive the pledge of eternal life and a foretaste of the eternal banquet of the heavenly Jerusalem. Following the teaching of the Fathers, the Ecumenical Councils and my own Predecessors, I have frequently urged the Church to reflect upon the Eucharist, most recently in the Encyclical Ecclesia de Eucharistia. Here I do not intend to repeat this teaching, which I trust will be more deeply studied and understood. At the same time I thought it helpful for this purposeto dedicate an entire Year to this wonderful sacrament.

 

4. As is known, the Year of the Eucharist will be celebrated from October 2004 to October 2005. The idea for this celebration came from two events which will serve to mark its beginning and end: the International Eucharistic Congress, which will take place from 10-17 October 2004 in Guadalajara, Mexico, and the Ordinary Assembly of the Synod of Bishops, which will be held in the Vatican from 2-29 October 2005 on the theme: “The Eucharist: Source and Summit of the Life and Mission of the Church”. I was also guided by another consideration: this year's World Youth Day will take place in Cologne from 16-21 August 2005. I would like the young people to gather around the Eucharist as the vital source which nourishes their faith and enthusiasm. A Eucharistic initiative of this kind had been on my mind for some time: it is a natural development of the pastoral impulse which I wanted to give to the Church, particularly during the years of preparation for the Jubilee and in the years that followed it.

 

5. In the present Apostolic Letter, I wish to reaffirm this pastoral continuity and to help everyone to grasp its spiritual significance. As for the particular form which the Year of the Eucharist will take, I am counting on the personal involvement of the Pastors of the particular Churches, whose devotion to this great Mystery will not fail to suggest suitable approaches. My Brother Bishops will certainly understand that this initiative, coming as it does so soon after the celebration of the Year of the Rosary, is meant to take place on a deeply spiritual level, so that it will in no way interfere with the pastoral programmes of the individual Churches. Rather, it can shed light upon those programmes, anchoring them, so to speak, in the very Mystery which nourishes the spiritual life of the faithful and the initiatives of each local Church. I am not asking the individual Churches to alter their pastoral programmes, but to emphasize the Eucharistic dimension which is part of the whole Christian life. For my part, I would like in this Letter to offer some basic guidelines; and I am confident that the People of God, at every level, will welcome my proposal with enthusiasm and fervent love.

 

I

IN THE WAKE OF THE COUNCIL
AND THE GREAT JUBILEE

 

Looking towards Christ

 

6. Ten years ago, in Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), I had the joy of proposing to the Church a programme of preparation for the Great Jubilee of the Year 2000. It seemed to me that this historic moment presented itself as a great grace. I realized, of course, that a simple chronological event, however evocative, could not by itself bring about great changes. Unfortunately the Millennium began with events which were in tragic continuity with the past, and often with its worst aspects. A scenario emerged which, despite certain positive elements, is marred by acts of violence and bloodshed which cause continued concern. Even so, in inviting the Church to celebrate the Jubilee of the two-thousandth anniversary of the Incarnation, I was convinced—and I still am, more than ever!—that this celebration would be of benefit to humanity in the “long term”.

 

Jesus Christ stands at the centre not just of the history of the Church, but also the history of humanity. In him, all things are drawn together (cf. Eph1:10; Col 1:15-20). How could we forget the enthusiasm with which the Second Vatican Council, quoting Pope Paul VI, proclaimed that Christ is “the goal of human history, the focal point of the desires of history and civilization, the centre of mankind, the joy of all hearts, and the fulfilment of all aspirations”?(1) The Council's teaching gave added depth to our understanding of the nature of the Church, and gave believers a clearer insight not only into the mysteries of faith but also into earthly realities, seen in the light of Christ. In the Incarnate Word, both the mystery of God and the mystery of man are revealed.(2) In him, humanity finds redemption and fulfilment.

 

7. In the EncyclicalRedemptor Hominis, at the beginning of my Pontificate, I developed this idea, and I have frequently returned to it on other occasions. The Jubilee was a fitting time to invite believers once again to consider this fundamental truth. The preparation for the great event was fully Trinitarian and Christocentric. Within this plan, there clearly had to be a place for the Eucharist. At the start of this Year of the Eucharist, I repeat the words which I wrote inTertio Millennio Adveniente: “The Year 2000 will be intensely Eucharistic; in the Sacrament of the Eucharist the Saviour, who took flesh in Mary's womb twenty centuries ago, continues to offer himself to humanity as the source of divine life”.(3) The International Eucharistic Congress, held that year in Rome, also helped to focus attention on this aspect of the Great Jubilee. It is also worth recalling that my Apostolic Letter Dies Domini, written in preparation for the Jubilee, invited believers to meditate on Sunday as the day of the Risen Lord and the special day of the Church. At that time I urged everyone to rediscover the celebration of the Eucharist as the heart of Sunday.(4)

 

Contemplating with Mary the face of Christ

 

8. The fruits of the Great Jubilee were collected in the Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte. In this programmatic document, I suggested an ever greater pastoral engagement based on the contemplation of the face of Christ, as part of an ecclesial pedagogy aimed at “the high standard” of holiness and carried out especially through the art of prayer.(5) How could such a programme be complete without a commitment to the liturgy and in particular to the cultivation of Eucharistic life? As I said at the time: “In the twentieth century, especially since the Council, there has been a great development in the way the Christian community celebrates the Sacraments, especially the Eucharist. It is necessary to continue in this direction, and to stress particularly the Sunday Eucharist and Sunday itself, experienced as a special day of faith, the day of the Risen Lord and of the gift of the Spirit, the true weekly Easter”.(6) In this context of a training in prayer, I recommended the celebration of the Liturgy of the Hours, by which the Church sanctifies the different hours of the day and the passage of time through the liturgical year.

 

9. Subsequently, with the proclamation of the Year of the Rosary and the publication of the Apostolic LetterRosarium Virginis Mariae, I returned to the theme of contemplating the face of Christ, now from a Marian perspective, by encouraging once more the recitation of the Rosary. This traditional prayer, so highly recommended by the Magisterium and so dear to the People of God, has a markedly biblical and evangelical character, focused on the name and the face of Jesus as contemplated in the mysteries and by the repetition of the “Hail Mary”. In its flow of repetitions, it represents a kind of pedagogy of love, aimed at evoking within our hearts the same love that Mary bore for her Son. For this reason, developing a centuries-old tradition by the addition of the mysteries of light, I sought to make this privileged form of contemplation an even more complete “compendium of the Gospel”.(7) And how could the mysteries of light not culminate in the Holy Eucharist?

 

From the Year of the Rosary to the Year of the Eucharist

 

10. In the midst of the Year of the Rosary, I issued the Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia, with the intention of shedding light on the mystery of the Eucharist in its inseparable and vital relation to the Church. I urged all the faithful to celebrate the Eucharistic sacrifice with due reverence, offering to Jesus present in the Eucharist, both within and outside Mass, the worship demanded by so great a Mystery. Above all, I suggested once again the need for a Eucharistic spirituality and pointed to Mary, “woman of the Eucharist”,(8) as its model.

 

The Year of the Eucharist takes place against a background which has been enriched by the passage of the years, while remaining ever rooted in the theme of Christ and the contemplation of his face. In a certain sense, it is meant to be a year of synthesis, the high-point of a journey in progress. Much could be said about how to celebrate this year. I would simply offer some reflections intended to help us all to experience it in a deeper and more fruitful way.

 

II

THE EUCHARIST, A MYSTERY OF LIGHT

 

“He interpreted to them in all the Scriptures the things concerning himself” (Lk 24:27)

 

11. The account of the Risen Jesus appearing to the two disciples on the road to Emmaus helps us to focus on a primary aspect of the Eucharistic mystery, one which should always be present in the devotion of the People of God: The Eucharist is a mystery of light! What does this mean, and what are its implications for Christian life and spirituality?

 

Jesus described himself as the “light of the world” (Jn 8:12), and this quality clearly appears at those moments in his life, like the Transfiguration and the Resurrection, in which his divine glory shines forth brightly. Yet in the Eucharist the glory of Christ remains veiled. The Eucharist is pre-eminently a mysterium fidei. Through the mystery of his complete hiddenness, Christ becomes a mystery of light, thanks to which believers are led into the depths of the divine life. By a happy intuition, Rublëv's celebrated icon of the Trinity clearly places the Eucharist at the centre of the life of the Trinity.

 

12. The Eucharist is light above all because at every Mass the liturgy of the Word of God precedes the liturgy of the Eucharist in the unity of the two “tables”, the table of the Word and the table of the Bread. This continuity is expressed in the Eucharistic discourse of Saint John's Gospel, where Jesus begins his teaching by speaking of the mystery of his person and then goes on to draw out its Eucharistic dimension: “My flesh is food indeed, and my blood is drink indeed” (Jn 6:55). We know that this was troubling for most of his listeners, which led Peter to express the faith of the other Apostles and of the Church throughout history: “Lord, to whom can we go? You have the words of eternal life” (Jn 6:68). In the account of the disciples on the road to Emmaus, Christ himself intervenes to show, “beginning with Moses and all the prophets”, how “all the Scriptures” point to the mystery of his person (cf. Lk 24:27). His words make the hearts of the disciples “burn” within them, drawing them out of the darkness of sorrow and despair, and awakening in them a desire to remain with him: “Stay with us, Lord” (cf. v. 29).

 

13. The Fathers of the Second Vatican Council, in the ConstitutionSacrosanctum Concilium, sought to make “the table of the word” offer the treasures of Scripture more fully to the faithful.(9) Consequently they allowed the biblical readings of the liturgy to be proclaimed in a language understood by all. It is Christ himself who speaks when the Holy Scriptures are read in the Church.(10) The Council Fathers also urged the celebrant to treat the homily as part of the liturgy, aimed at explaining the word of God and drawing out its meaning for the Christian life.(11) Forty years after the Council, the Year of the Eucharist can serve as an important opportunity for Christian communities to evaluate their progress in this area. It is not enough that the biblical passages are read in the vernacular, if they are not also proclaimed with the care, preparation, devout attention and meditative silence that enable the word of God to touch people's minds and hearts.

 

“They recognized him in the breaking of bread”(cf. Lk 24:35)

 

14. It is significant that the two disciples on the road to Emmaus, duly prepared by our Lord's words, recognized him at table through the simple gesture of the “breaking of bread”. When minds are enlightened and hearts are enkindled, signs begin to “speak”. The Eucharist unfolds in a dynamic context of signs containing a rich and luminous message. Through these signs the mystery in some way opens up before the eyes of the believer.

 

As I emphasized in my EncyclicalEcclesia de Eucharistia, it is important that no dimension of this sacrament should be neglected. We are constantly tempted to reduce the Eucharist to our own dimensions, while in reality it is we who must open ourselves up to the dimensions of the Mystery. “The Eucharist is too great a gift to tolerate ambiguity and depreciation”.(12)

 

15. There is no doubt that the most evident dimension of the Eucharist is that it is a meal. The Eucharist was born, on the evening of Holy Thursday, in the setting of the Passover meal. Being a meal is part of its very structure. “Take, eat... Then he took a cup and... gave it to them, saying: Drink from it, all of you” (Mt 26:26, 27). As such, it expresses the fellowship which God wishes to establish with us and which we ourselves must build with one another.

 

Yet it must not be forgotten that the Eucharistic meal also has a profoundly and primarily sacrificial meaning.(13) In the Eucharist, Christ makes present to us anew the sacrifice offered once for all on Golgotha. Present in the Eucharist as the Risen Lord, he nonetheless bears the marks of his passion, of which every Mass is a “memorial”, as the Liturgy reminds us in the acclamation following the consecration: “We announce your death, Lord, we proclaim your resurrection...”. At the same time, while the Eucharist makes present what occurred in the past, it also impels us towards the future, when Christ will come again at the end of history. This “eschatological” aspect makes the Sacrament of the Eucharist an event which draws us into itself and fills our Christian journey with hope.

 

“I am with you always...” (Mt 28:20)

 

16. All these dimensions of the Eucharist come together in one aspect which more than any other makes a demand on our faith: the mystery of the “real” presence. With the entire tradition of the Church, we believe that Jesus is truly present under the Eucharistic species. This presence—as Pope Paul VI rightly explained—is called “real” not in an exclusive way, as if to suggest that other forms of Christ's presence are not real, but par excellence, because Christ thereby becomes substantially present, whole and entire, in the reality of his body and blood.(14) Faith demands that we approach the Eucharist fully aware that we are approaching Christ himself. It is precisely his presence which gives the other aspects of the Eucharist — as meal, as memorial of the Paschal Mystery, as eschatological anticipation — a significance which goes far beyond mere symbol- ism. The Eucharist is a mystery of presence, the perfect fulfilment of Jesus' promise to remain with us until the end of the world.

 

Celebrating, worshiping, contemplating

 

17. The Eucharist is a great mystery! And it is one which above all must be well celebrated. Holy Mass needs to be set at the centre of the Christian life and celebrated in a dignified manner by every community, in accordance with established norms, with the participation of the assembly, with the presence of ministers who carry out their assigned tasks, and with a serious concern that singing and liturgical music be suitably “sacred”. One specific project of this Year of the Eucharist might be for each parish community to study the General Instruction of the Roman Missal. The best way to enter into the mystery of salvation made present in the sacred “signs” remains that of following faithfully the unfolding of the liturgical year. Pastors should be committed to that “mystagogical” catechesis so dear to the Fathers of the Church, by which the faithful are helped to understand the meaning of the liturgy's words and actions, to pass from its signs to the mystery which they contain, and to enter into that mystery in every aspect of their lives.

 

18. There is a particular need to cultivate a lively awareness of Christ's real presence, both in the celebration of Mass and in the worship of the Eucharist outside Mass. Care should be taken to show that awareness through tone of voice, gestures, posture and bearing. In this regard, liturgical law recalls—and I myself have recently reaffirmed(15)—the importance of moments of silence both in the celebration of Mass and in Eucharistic adoration. The way that the ministers and the faithful treat the Eucharist should be marked by profound respect.(16) The presence of Jesus in the tabernacle must be a kind of magnetic pole attracting an ever greater number of souls enamoured of him, ready to wait patiently to hear his voice and, as it were, to sense the beating of his heart. “O taste and see that the Lord is good!” (Ps 34:8).

 

During this year Eucharistic adoration outside Mass should become a particular commitment for individual parish and religious communities. Let us take the time to kneel before Jesus present in the Eucharist, in order to make reparation by our faith and love for the acts of carelessness and neglect, and even the insults which our Saviour must endure in many parts of the world. Let us deepen through adoration our personal and communal contemplation, drawing upon aids to prayer inspired by the word of God and the experience of so many mystics, old and new. The Rosary itself, when it is profoundly understood in the biblical and christocentric form which I recommended in the Apostolic LetterRosarium Virginis Mariae, will prove a particularly fitting introduction to Eucharistic contemplation, a contemplation carried out with Mary as our companion and guide.(17)

 

This year let us also celebrate with particular devotion the Solemnity of Corpus Christi, with its traditional procession. Our faith in the God who took flesh in order to become our companion along the way needs to be everywhere proclaimed, especially in our streets and homes, as an expression of our grateful love and as an inexhaustible source of blessings.

 

III

THE EUCHARIST
SOURCE AND MANIFESTATION
OF COMMUNION

 

“Abide in me, and I in you” (Jn 15:4)

 

19. When the disciples on the way to Emmaus asked Jesus to stay “with” them, he responded by giving them a much greater gift: through the Sacrament of the Eucharist he found a way to stay “in” them. Receiving the Eucharist means entering into a profound communion with Jesus. “Abide in me, and I in you” (Jn15:4). This relationship of profound and mutual “abiding” enables us to have a certain foretaste of heaven on earth. Is this not the greatest of human yearnings? Is this not what God had in mind when he brought about in history his plan of salvation? God has placed in human hearts a “hunger” for his word (cf. Am 8:11), a hunger which will be satisfied only by full union with him. Eucharistic communion was given so that we might be “sated” with God here on earth, in expectation of our complete fulfilment in heaven.

 

One bread, one body

 

20. This special closeness which comes about in Eucharistic “communion” cannot be adequately understood or fully experienced apart from ecclesial communion. I emphasized this repeatedly in my EncyclicalEcclesia de Eucharistia. The Church is the Body of Christ: we walk “with Christ” to the extent that we are in relationship “with his body”. Christ provided for the creation and growth of this unity by the outpouring of his Holy Spirit. And he himself constantly builds it up by his Eucharistic presence. It is the one Eucharistic bread which makes us one body. As the Apostle Paul states: “Because there is one bread, we who are many are one body, for we all partake of the one bread” (1Cor 10:17). In the mystery of the Eucharist Jesus builds up the Church as a communion, in accordance with the supreme model evoked in his priestly prayer: “Even as you, Father, are in me, and I in you, that they may also be in us, so that the world may believe that you have sent me” (Jn 17:21).

 

21. The Eucharist is both the source of ecclesial unity and its greatest manifestation. The Eucharist is an epiphany of communion. For this reason the Church sets conditions for full participation in the celebration of the Eucharist.(18) These various limitations ought to make us ever more conscious of the demands made by the communion which Jesus asks of us. It is a hierarchical communion, based on the awareness of a variety of roles and ministries, as is seen by the reference to the Pope and the Diocesan Bishop in the Eucharistic Prayer. It is a fraternal communion, cultivated by a “spirituality of communion” which fosters reciprocal openness, affection, understanding and forgiveness.(19)

 

“... of one heart and soul” (Acts 4:32)

 

22. At each Holy Mass we are called to measure ourselves against the ideal of communion which the Acts of the Apostles paints as a model for the Church in every age. It is the Church gathered around the Apostles, called by the word of God, capable of sharing in spiritual goods but in material goods as well (cf.Acts 2:42-47; 4:32-35). In this Year of the Eucharist the Lord invites us to draw as closely as possible to this ideal. Every effort should be made to experience fully those occasions mentioned in the liturgy for the Bishop's “Stational Mass”, which he celebrates in the cathedral together with his presbyters and deacons, with the participation of the whole People of God. Here we see the principal “manifestation” of the Church.(20) It would be praiseworthy to specify other significant occasions, also on the parochial level, which would increase a sense of communion and find in the Eucharistic celebration a source of renewed fervour.

 

The Lord's Day

 

23. In a particular way I ask that every effort be made this year to experience Sunday as the day of the Lord and the day of the Church. I would be happy if everyone would reflect once more on my words in the Apostolic Letter Dies Domini. “At Sunday Mass, Christians relive with particular intensity the experience of the Apostles on the evening of Easter, when the Risen Lord appeared to them as they were gathered together (cf. Jn 20:19). In a sense, the People of God of all times were present in that small nucleus of disciples, the first-fruits of the Church”.(21) During this year of grace, priests in their pastoral ministry should be even more attentive to Sunday Mass as the celebration which brings together the entire parish community, with the participation of different groups, movements and associations.

 

IV

THE EUCHARIST, PRINCIPLE AND PLAN OF “MISSION”

 

“They set out immediately” (cf. Lk 24:33)

 

24. The two disciples of Emmaus, upon recognizing the Lord, “set out immediately” (cf. Lk 24:33), in order to report what they had seen and heard. Once we have truly met the Risen One by partaking of his body and blood, we cannot keep to ourselves the joy we have experienced. The encounter with Christ, constantly intensified and deepened in the Eucharist, issues in the Church and in every Christian an urgent summons to testimony and evangelization. I wished to emphasize this in my homily announcing the Year of the Eucharist, based on the words of Saint Paul: “As often as you eat this bread and drink the cup, you proclaim the Lord's death until he comes” (1 Cor 11:26). The Apostle closely relates meal and proclamation: entering into communion with Christ in the memorial of his Pasch also means sensing the duty to be a missionary of the event made present in that rite.(22) The dismissal at the end of each Mass is a charge given to Christians, inviting them to work for the spread of the Gospel and the imbuing of society with Christian values.

 

25. The Eucharist not only provides the interior strength needed for this mission, but is also —in some sense—its plan. For the Eucharist is a mode of being, which passes from Jesus into each Christian, through whose testimony it is meant to spread throughout society and culture. For this to happen, each member of the faithful must assimilate, through personal and communal meditation, the values which the Eucharist expresses, the attitudes it inspires, the resolutions to which it gives rise. Can we not see here a special charge which could emerge from this Year of the Eucharist?

 

Giving thanks

 

26. One fundamental element of this plan is found in the very meaning of the word “Eucharist”: thanksgiving. In Jesus, in his sacrifice, in his unconditional “yes” to the will of the Father, is contained the “yes”, the “thank you” and the “amen” of all humanity. The Church is called to remind men and women of this great truth. This is especially urgent in the context of our secularized culture, characterized as it is by a forgetfulness of God and a vain pursuit of human self-sufficiency. Incarnating the Eucharistic “plan” in daily life, wherever people live and work—in families, schools, the workplace, in all of life's settings—means bearing witness that human reality cannot be justified without reference to the Creator: “Without the Creator the creature would disappear”.(23) This transcendent point of reference, which commits us constantly to give thanks for all that we have and are—in other words, to a “Eucharistic” attitude—in no way detracts from the legitimate autonomy of earthly realities,(24) but grounds that autonomy more firmly by setting it within its proper limits.

 

In this Year of the Eucharist Christians ought to be committed to bearing more forceful witness to God's presence in the world. We should not be afraid to speak about God and to bear proud witness to our faith. The “culture of the Eucharist” promotes a culture of dialogue, which here finds strength and nourishment. It is a mistake to think that any public reference to faith will somehow undermine the rightful autonomy of the State and civil institutions, or that it can even encourage attitudes of intolerance. If history demonstrates that mistakes have also been made in this area by believers, as I acknowledged on the occasion of the Jubilee, this must be attributed not to “Christian roots”, but to the failure of Christians to be faithful to those roots. One who learns to say “thank you” in the manner of the crucified Christ might end up as a martyr, but never as a persecutor.

 

The way of solidarity

 

27. The Eucharist is not merely an expression of communion in the Church's life; it is also a project of solidarity for all of humanity. In the celebration of the Eucharist the Church constantly renews her awareness of being a “sign and instrument” not only of intimate union with God but also of the unity of the whole human race.(25) Each Mass, even when celebrated in obscurity or in isolation, always has a universal character. The Christian who takes part in the Eucharist learns to become a promotor of communion, peace and solidarity in every situation. More than ever, our troubled world, which began the new Millennium with the spectre of terrorism and the tragedy of war, demands that Christians learn to experience the Eucharist as a great school of peace, forming men and women who, at various levels of responsibility in social, cultural and political life, can become promotors of dialogue and communion.

 

At the service of the least

 

28. There is one other point which I would like to emphasize, since it significantly affects the authenticity of our communal sharing in the Eucharist. It is the impulse which the Eucharist gives to the community for a practical commitment to building a more just and fraternal society. In the Eucharist our God has shown love in the extreme, overturning all those criteria of power which too often govern human relations and radically affirming the criterion of service: “If anyone would be first, he must be last of all and servant of all” (Mc 9:35). It is not by chance that the Gospel of John contains no account of the institution of the Eucharist, but instead relates the “washing of feet” (cf. Jn 13:1-20): by bending down to wash the feet of his disciples, Jesus explains the meaning of the Eucharist unequivocally. Saint Paul vigorously reaffirms the impropriety of a Eucharistic celebration lacking charity expressed by practical sharing with the poor (cf.1Cor 11:17-22, 27-34).

 

Can we not make this Year of the Eucharist an occasion for diocesan and parish communities to commit themselves in a particular way to responding with fraternal solicitude to one of the many forms of poverty present in our world? I think for example of the tragedy of hunger which plagues hundreds of millions of human beings, the diseases which afflict developing countries, the loneliness of the elderly, the hardships faced by the unemployed, the struggles of immigrants. These are evils which are present—albeit to a different degree—even in areas of immense wealth. We cannot delude ourselves: by our mutual love and, in particular, by our concern for those in need we will be recognized as true followers of Christ (cf. Jn 13:35; Mt 25:31-46). This will be the criterion by which the authenticity of our Eucharistic celebrations is judged.

 

CONCLUSION

 

29. O Sacrum Convivium, in quo Christus sumitur! The Year of the Eucharist has its source in the amazement with which the Church contemplates this great Mystery. It is an amazement which I myself constantly experience. It prompted my EncyclicalEcclesia de Eucharistia. As I look forward to the twenty-seventh year of my Petrine ministry, I consider it a great grace to be able to call the whole Church to contemplate, praise, and adore in a special way this ineffable Sacrament. May the Year of the Eucharist be for everyone a precious opportunity to grow in awareness of the incomparable treasure which Christ has entrusted to his Church. May it encourage a more lively and fervent celebration of the Eucharist, leading to a Christian life transformed by love.

 

There is room here for any number of initiatives, according to the judgement of the Pastors of the particular Churches. The Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments will not fail to provide some helpful suggestions and proposals. I do not ask, however, for anything extraordinary, but rather that every initiative be marked by a profound interiority. If the only result of this Year were the revival in all Christian communities of the celebration of Sunday Mass and an increase in Eucharistic worship outside Mass, this Year of grace would be abundantly successful. At the same time, it is good to aim high, and not to be content with mediocrity, since we know we can always count on God's help.

 

30. To you, dear Brother Bishops, I commend this Year, confident that you will welcome my invitation with full apostolic zeal.

 

Dear priests, who repeat the words of consecration each day, and are witnesses and heralds of the great miracle of love which takes place at your hands: be challenged by the grace of this special Year; celebrate Holy Mass each day with the same joy and fervour with which you celebrated your first Mass, and willingly spend time in prayer before the tabernacle.

 

May this be a Year of grace also for you, deacons, who are so closely engaged in the ministry of the word and the service of the altar. I ask you, lectors, acolytes and extraordinary ministers of holy communion, to become ever more aware of the gift you have received in the service entrusted to you for a more worthy celebration of the Eucharist.

 

In particular I appeal to you, the priests of the future. During your time in the seminary make every effort to experience the beauty not only of taking part daily in Holy Mass, but also of spending a certain amount of time in dialogue with the Eucharistic Lord.

 

Consecrated men and women, called by that very consecration to more prolonged contemplation: never forget that Jesus in the tabernacle wants you to be at his side, so that he can fill your hearts with the experience of his friendship, which alone gives meaning and fulfilment to your lives.

 

May all of you, the Christian faithful, rediscover the gift of the Eucharist as light and strength for your daily lives in the world, in the exercise of your respective professions amid so many different situations. Rediscover this above all in order to experience fully the beauty and the mission of the family.

 

I have great expectations of you, young people, as I look forward to our meeting at the next World Youth Day in Cologne. The theme of our meeting—“We have come to worship him”—suggests how you can best experience this Eucharistic year. Bring to your encounter with Jesus, hidden in the Eucharist, all the enthusiasm of your age, all your hopes, all your desire to love.

 

31. We have before us the example of the Saints, who in the Eucharist found nourishment on their journey towards perfection. How many times did they shed tears of profound emotion in the presence of this great mystery, or experience hours of inexpressible “spousal” joy before the sacrament of the altar! May we be helped above all by the Blessed Virgin Mary, whose whole life incarnated the meaning of the Eucharist. “The Church, which looks to Mary as a model, is also called to imitate her in her relationship with this most holy mystery”.(26) The Eucharistic Bread which we receive is the spotless flesh of her Son: Ave verum corpus natum de Maria Virgine. In this Year of grace, sustained by Mary, may the Church discover new enthusiasm for her mission and come to acknowledge ever more fully that the Eucharist is the source and summit of her entire life.

 

To all of you I impart my Blessing as a pledge of grace and joy.

 

From the Vatican, on 7 October, the Memorial of Our Lady of the Rosary, in the year 2004, the twenty-sixth of my Pontificate.

IOANNES PAULUS PP.II

 

_________________________________________________________________________

 

 

(1) Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 45.

(2) Cf. ibid., 22.

(3) No. 55: AAS 87 (1995), 38.

(4) Cf. Nos. 32-34: AAS 90 (1998), 732-734.

(5) Cf. Nos. 30-32: AAS 93 (2001), 287-289.

(6) Ibid., 35: loc. cit., 290-291.

(7) Cf. Apostolic Letter Rosarium Virginis Mariae (16 October 2002), 19-21:AAS 95 (2003), 18-20.

(8) Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 53: AAS 95 (2003), 469.

(9) Cf. No. 51.

(10) Ibid., 7.

(11) Cf ibid., 52.

(12) Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 10: AAS 95 (2003), 439.

(13) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 10: AAS 95 (2003), 439. Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, Instruction Redemptionis Sacramentum on certain matters to be observed or to be avoided regarding the Most Holy Eucharist (25 March 2004), 38: L'Osservatore Romano, Weekly Edition in English, 28 April 2004, Special Insert, p.3.

(14) Cf. Encyclical Letter Mysterium Fidei (3 September 1965), 39: AAS 57 (1965), 764; Sacred Congregation of Rites, Instruction Eucharisticum Mysterium on the Worship of the Eucharistic Mystery (25 May 1967), 9: AAS59 (1967), 547.

(15) Cf. Message Spiritus et Sponsa, for the fortieth anniversary of the Constitution on the Sacred Liturgy Sacrosanctum Concilium (4 December 2003), 13: AAS 96 (2004), 425.

(16) Cf. Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, Instruction Redemptionis Sacramentum on certain matters to be observed or to be avoided regarding the Most Holy Eucharist (25 March 2004): L'Osservatore Romano, Weekly Edition in English, 28 April 2004, Special Insert.

(17) Cf. ibid., 137, loc. cit., p.11.

(18) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 44: AAS 95 (2003), 462; Code of Canon Law, canon 908; Code of Canons of the Eastern Churches, canon 702; Pontifical Council for Promoting Christian Unity, Directorium Oecumenicum (25 March 1993), 122-125, 129-131: AAS 85 (1993), 1086-1089; Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter Ad Exsequendam (18 May 2001): AAS 93 (2001), 786.

(19) Cf. John Paul II, Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 43: AAS 93 (2001), 297.

(20) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Constitution on the Sacred Liturgy Sacrosanctum Concilium, 41.

(21) No. 33: AAS 90 (1998), 733.

(22) Cf. Homily for the Solemnity of the Body and Blood of Christ (10 June 2004): L'Osservatore Romano, 11-12 June 2004, p.6.

(23) Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 36.

(24) Ibid.

(25) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church Lumen Gentium, 1.

(26) John Paul II, Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 53: AAS 95 (2003), 469.