Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Chương 2


CÁC MẦU NHIỆM CỦA ĐỨC KI-TÔ - CÁC MẦU NHIỆM CỦA MẸ NGƯỜI

 

Kinh Mân côi, một bản tóm tắt Tin mừng

 

18. Cách thức duy nhất để tiến tới việc chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô là lắng nghe tiếng nói của Chúa Cha trong Thánh Thần, vì không ai biết rõ người Con trừ Chúa Cha (Mt 11,27). Tại địa hạt Xê-da-rê Phi-lip, Đức Giê-su đã đáp lại lời tuyên tín của Phê-rô bằng cách chỉ cho ông thấy nguồn gốc của trực giác rõ ràng về căn tính của Người: Không phải phàm nhân mạc khải cho anh biết điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời (Mt 16,17). Như vậy, cần có một mạc khải từ trên. Để đón nhận mặc khải ấy, nhất thiết phải chăm chú lắng nghe: Chỉ có kinh nghiệm về sự thinh lặng và cầu nguyện mới tạo ra môi trường thích hợp để cho sự hiểu biết đích thực, trung tín và vững chắc về mầu nhiệm đó được tăng trưởng và phát triển. 27

 

Kinh Mân côi là một trong những con đường truyền thống của lời cầu nguyện ki-tô giáo hướng đến việc chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Ki-tô. Đức Giáo hoàng Phao-lô VI mô tả điều đó bằng những lời sau đây: Vì là một lời kinh dựa theo Tin mừng, tập trung vào mầu nhiệm Nhập thể cứu độ, kinh mân côi là lời kinh mang chiều kích ki-tô một cách rõ nét. Thật thế, yếu tố đặc trưng nhất của kinh mân côi - việc lặp đi lặp lại Kinh kính mừng - là một lời ca ngợi không ngừng dâng lên Đức Ki-tô, Đấng là đối tượng tối hậu của cả lời truyền tin của Thiên thần, lẫn lời chúc mừng của mẹ thánh Gio-an Tẩy Giả: Phúc thay hoa quả của lòng Bà (Lc 1,42). Chúng ta có thể đi xa hơn và nói thêm rằng chuỗi kinh Kính mừng làm thành khung cửi trên đó đan dệt việc chiêm ngưỡng các mầu nhiệm. Đức Giê-su mà mỗi kinh Kính mừng gợi nhớ cũng là Đức Giê-su mà các mầu nhiệm tiếp nối nhau đề nghị cho chúng ta tuần tự như là Con Thiên Chúa, như là Con của Đức Trinh Nữ. 28

 

Đề nghị bổ sung vào hình thức truyền thống

 

19. Trong số các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Giê-su, chỉ một ít mầu nhiệm được suy ngắm qua lời kinh mân côi trong hình thức phổ biến được Giáo hội phê chuẩn. Việc chọn lựa được xác định bởi nguồn gốc của lời kinh, đặt nền tảng trên con số 150, con số thánh vịnh trong tập Thánh vịnh.

 

Thế nhưng, để làm cho kinh Mân côi có chiều kích ki-tô học thâm sâu hơn, tôi nghĩ rằng ta cần bổ sung thêm vào hình thức truyền thống, trong khi vẫn để cho mỗi người và cộng đoàn tự do, để có thể suy gẫm các mầu nhiệm trong cuộc đời công khai của Đức Ki-tô từ khi Người lãnh nhận Phép rửa cho đến cuộc Khổ nạn. Chính trong khung cảnh của các mầu nhiệm ấy mà chúng ta chiêm ngưỡng các khía cạnh quan trọng nơi con người Đức Ki-tô như là mạc khải chung cuộc của Thiên Chúa. Được Chúa Cha tuyên bố là Con Yêu dấu trong biến cố Phép Rửa tại sông Gióc-đan, Đức Ki-tô là Đấng loan báo Nước Trời đang đến, làm chứng cho Nước Trời bằng những việc làm của Người và công bố những đòi hỏi của Nước Trời. Chính qua những năm tháng hoạt động công khai mà mầu nhiệm Đức Ki-tô tỏ ra môt cách hiển nhiên là mầu nhiệm ánh sáng: Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian (Ga 9,5).

 

Bởi thế, để cho kinh Mân côi trở thành bản tóm lược Tin mừng một cách đầy đủ hơn, ta phải bổ sung, tiếp sau phần suy ngắm về mầu nhiệm Nhập thể và cuộc đời ẩn dật của Đức Ki-tô (các sự Vui), và trước khi suy ngắm về các nỗi thống khổ trong cuộc Khổ nạn của Người (các sự Thương) và cuộc vinh thắng Phục sinh (các sự Mừng), thêm phần suy ngắm về các biến cố hết sức quan trọng trong sứ vụ công khai của Đức Ki-tô (các mầu nhiệm ánh sáng). Việc bổ sung thêm những mầu nhiệm mới này, không hề làm phương hại đến khía cạnh chính yếu nào của hình thức cầu nguyện truyền thống, trái lại có mục đích làm cho hình thức cầu nguyện đó có một sức sống tươi mới và khơi dậy một sự quan tâm mới về chỗ đứng của kinh mân côi trong đời sống thiêng liêng của người ki-tô hữu như một con đường đúng đắn để đi vào Trái tim của Đức Ki-tô, đại dương của niềm vui và ánh sáng, đau khổ và vinh quang.

 

Các mầu nhiệm vui

 

20. Năm mươi kinh mân côi đầu tiên, năm sự vui, mang dấu ấn của niềm vui toả chiếu từ biến cố Nhập thể. Điều này quả là rõ ràng ngay từ mầu nhiệm đầu tiên, biến cố Truyền tin, nơi đó lời sứ thần Ga-bri-en chào Trinh nữ làng Na-da-rét nối liền với lời mời gọi vui hưởng niềm vui thiên sai: Mừng vui lên, hỡi bà Ma-ri-a. Toàn thể lịch sử cứu độ, theo một nghĩa nào đó, toàn thể lịch sử thế giới quy về lời chào đó. Nếu kế hoạch của Chúa Cha là quy tụ mọi sự trong Đức Ki-tô (x. Ep 1,10), thì một cách nào đó, toàn thể vũ trụ cũng được tác động bởi ân huệ thần linh, với ơn huệ đó Chúa Cha đoái nhìn Đức Ma-ri-a và biến ngài thành Thân mẫu của Con Người. Đến lượt mình, toàn thể nhân loại như được bao bọc trong lời Xin vâng, qua đó Mẹ sẵn lòng chấp thuận Thánh ý Thiên Chúa.

 

Niềm vui là nét chính yếu trong cuộc hội ngộ với bà chị Ê-li-da-bét, nơi đó tiếng nói của Đức Ma-ri-a và sự hiện diện của Đức Ki-tô trong cung lòng ngài đã khiến cho Gio-an nhảy lên vui sướng (x. Lc 1,44). Niềm vui cũng tràn ngập hoạt cảnh tại Bê-lem, khi Hài nhi thánh, Đấng Cứu độ trần gian ra đời, được loan tin qua tiếng hát của các thiên thần và được loan báo cho các mục đồng như là tin của một niềm vui lớn (Lc 2,10).

 

Hai mầu nhiệm sau cùng, tuy vẫn duy trì bầu khí vui mừng, nhưng đã hướng đến bi kịch sắp đến. Trình thuật Dâng Chúa Giê-su trong Đền thánh không chỉ biểu lộ niềm vui vì Hài nhi được thánh hiến và sự xuất thần của cụ Xi-mê-ông, nhưng còn ghi lại lời tiên báo Đức Ki-tô sẽ trở nên một dấu hiệu chống báng cho dân Ít-ra-en và một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Mẹ (x Lc 2,34-35). Niềm vui xen lẫn với bi kịch ấn dấu trên mầu nhiệm thứ năm, tìm thấy Đức Giê-su trong Đền thánh, khi Người lên 12 tuổi. Tại nơi đây, Người đã tỏ ra như Đấng dạy dỗ với sự khôn ngoan thần linh khi Người lắng nghe và đặt câu hỏi. Sự mạc khải về mầu nhiệm của Người, trong tư cách là người Con hiến thân trọn vẹn cho công việc của Chúa Cha, cho thấy tính triệt để của Tin mừng, ngay cả tương quan nhân loại thân thiết nhất cũng cũng bị thách thức bởi những đòi hỏi tuyệt đối của Nước Thiên Chúa. Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se, sợ hãi và lo âu, không hiểu lời Người (Lc 2:50).

 

Như vậy, suy ngắm các mầu nhiệm năm sự vui là đi vào các động cơ tối hậu và ý nghĩa thâm sâu của niềm vui ki-tô giáo. Đó là tập trung vào thực tại của mầu nhiệp Nhập thể và điềm báo khó hiểu của mầu nhiệm Khổ nạn cứu độ. Đức Ma-ri-a đẫn dắt chúng ta khám phá bí mật của niềm vui ki-tô giáo, khi nhắc nhở chúng ta rằng Ki-tô giáo tiên vàn là euangelion, Tin mừng, mà trung tâm và toàn bộ nội dung của Tin mừng là con người Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, Đấng Cứu độ duy nhất của thế giới.

 

Các Mầu nhiệm Ánh sáng

 

21. Đi từ cuộc đời thơ ấu và ẩn dật tại làng Na-da-rét đến cuộc đời công khai của Đức Giê-su, việc chiêm ngưỡng dẫn chúng ta đến những mầu nhiệm có thể được gọi một cách đặc biệt là các mầu nhiệm ánh sáng. Dĩ nhiên, toàn thể các mầu nhiệm Đức Ki-tô là một mầu nhiệm ánh sáng. Người là ánh sáng thế gian (Ga 8,12). Tuy nhiên, chân lý này tỏ hiện một cách đặc biệt qua những năm tháng của cuộc đời công khai, khi Người công bố Tin mừng Nước Thiên Chúa. Để đề nghị cho cộng đoàn ki-tô hữu năm thời điểm quan trọng - các mầu nhiệm chói sáng - trong giai đoạn này của cuộc đời Đức Ki-tô, tôi nghĩ nên chọn ra những mầu nhiệm sau đây: (1) Chịu phép rửa tại sông Gióc-đan (2) Tỏ mình ra tại tiệc cưới Ca-na (3) Công bố Nước Thiên Chúa và kêu mời sám hối (4) Hiển Dung, và cuối cùng (5) Thiết lập Bí tích Thánh thể như là một biểu hiện có tính bí tích của Mầu nhiệm Vượt qua.

 

Mỗi mầu nhiệm trên là một mạc khải về Nước Thiên Chúa đang hiện diện trong chính bản thân Đức Giê-su. Phép rửa tại sông Gióc-đan tiên vàn là một mầu nhiệm ánh sáng. Tại đây, khi Người bước xuống sông Gióc-đan, Đấng vô tội đã trở thành tội vì chúng ta (x. 2 Cr 5,21), thì cửa trời rộng mở và có tiếng Chúa Cha tuyên nhận Người là Con yêu dấu (x. Mt 3,17 và song song), trong khi đó, Thánh Thần ngự xuống trên Người và trao cho Người sứ mạng mà Người phải thi hành. Một mầu nhiệm ánh sáng khác là dấu chỉ đầu tiên tại Ca-na (x. Ga 2,1- 12), khi Người biến nước thành rượu và mở rộng tâm hồn các môn đệ để đón nhận đức tin, nhờ sự can thiệp của Đức Ma-ri-a, người tín hữu đầu tiên. Một mầu nhiệm ánh sáng khác là lời giảng dạy, qua đó Đức Giê-su loan báo Nước Thiên Chúa đang đến, kêu mời sám hối (x. Mc 1,15) và tha thứ tội lỗi cho tất cả những ai đến với Người trong tâm tình tin tưởng khiêm hạ (x. Mc 2,3-13; Lc 7,47-48): đó là khởi đầu của tác vụ bày tỏ lòng thương xót mà Người tiếp tục thi hành cho đến ngày tận thế, nhất là qua Bí tích Hoà giải mà Người uỷ thác cho Giáo hội (x. Ga 20,22-23). Mầu nhiệm ánh sáng trổi vượt hơn cả là biến cố Hiển dung, mà truyền thống tin là đã xảy ra trên núi Ta-bo. Vinh quang Thiên Chúa chói ngời trên dung nhan Đức Ki-tô trong khi Chúa Cha truyền lệnh cho các tông đồ đang kinh hãi phải nghe lời Người (x. Lc 9,35 và song song) và chuẩn bị cho họ cùng với Người kinh nghiệm nỗi thống khổ trong cuộc Khổ nạn, để đến với Người trong niềm vui phục sinh và trong cuộc sống được biến hình nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm ánh sáng cuối cùng là việc thiết lập bí tích Thánh thể, qua đó Đức Ki-tô trao ban mình và máu Người dưới hình bánh và rượu, và khẳng định Người yêu thương nhân loại cho đến cùng (Ga 13,1), Người sẽ hi sinh hiến mình để cứu chuộc nhân loại.

 

Trong các mầu nhiệm này, ngoại trừ phép lạ Ca-na, sự hiện diện của Đức Ma-ri-a là ở hậu cảnh. Các sách Tin mừng chỉ nhắc đến sự hiện hiện tình cờ của Đức Ma-ri-a lúc này lúc nọ trong cuộc đời rao giảng của Đức Giê-su (x. Mc 3,31-35; Ga 2,12), và không đưa ra chỉ dẫn nào cho thấy Mẹ hiện diện trong Bữa Tiệc Ly hay trong thời điểm thiết lập bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, vai trò Mẹ đảm nhận trong tiệc cưới Ca-na cách nào đó đã đồng hành với Đức Ki-tô suốt sứ vụ của Người. Mặc khải do Chúa Cha ban trực tiếp trong biến cố Phép rửa tại sông Gióc-đan và được Gio-an Tẩy giả làm vang vọng, được đặt trên môi miệng của Đức Ma-ri-a tại tiệc cưới Ca-na, và nó trở thành lời khuyên từ mẫu quan trọng nhất mà Đức Ma-ri-a gởi đến Giáo hội ở mọi thời đại: Hãy làm điều Người dạy bảo (Ga 2,5). Lời khuyên này là một lời giới thiệu rất thích hợp về những lời và dấu chỉ trong sứ vụ công khai của Đức Ki-tô và hình thành nền tảng thánh mẫu học của mỗi một mầu nhiệm ánh sáng.

 

Các Mầu nhiệm thương

 

22. Các sách Tin mừng đặt để một tầm quan trọng lớn cho các mầu nhiệm thương khó của Đức Ki-tô. Từ khởi đầu, lòng đạo đức ki-tô giáo, đặc biệt trong mùa Chay qua việc thực hành Đường Thánh giá, đã dừng lại ở mỗi giai đoạn của cuộc khổ nạn, nhận thức rằng cao điểm của mặc khải về tình yêu Thiên Chúa và nguồn mạch ơn cứu độ được tìm thấy nơi đó. Kinh mân côi chọn lựa một vài giai đoạn của cuộc khổ nạn, để mời gọi các tín hữu chiêm ngưỡng trong tâm hồn và sống lại thời điểm ấy. Giòng suy niệm mở đầu với biến cố vườn Cây dầu, nơi đó Đức Ki-tô kinh nghiệm sự sầu não khi đối diện với thánh ý Thiên Chúa, khi mà tính yếu đuối của xác thịt bị cám dỗ muốn chống lại. Nơi đó Đức Giê-su gặp phải mọi cơn cám dỗ và đối diện với mọi thứ tội của nhân loại, để thốt lên với Chúa Cha: Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha (Lc 22,42 và song song). Tiếng Xin vâng của Đức Ki-tô đối lại với tiếng Không của tổ tiên chúng ta trong vườn Địa đàng. Và cái giá của sự trung thành với thánh ý Chúa Cha tỏ lộ trong các mầu nhiệm tiếp theo; qua việc đánh đòn, đội mão gai, vác thập giá và chết trên thập giá, Chúa đã bị gục ngã trong những đau khổ hèn hạ nhất: Ecce homo!

 

Sự đau khổ hèn hạ đó mặc khải không những tình yêu Thiên Chúa nhưng còn ý nghĩa của chính con người nữa.

 

Ecce homo: ý nghĩa, nguồn gốc và sự hoàn thành của con người được tìm thấy trong Đức Ki-tô, vị Thiên Chúa vì yêu thương đã hạ mình cho đến chết, chết trên thập giá (Pl 2,8). Các sự thương giúp người tín hữu sống lại cái chết của Đức Giê-su, đứng dưới chân Thánh giá bên cạnh Đức Ma-ri-a, cùng với Mẹ tiến vào chiều sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa đối với loài người và kinh nghiệm năng lực trao ban sự sống của nó.

 

Các Mầu nhiệm mừng

 

23. Việc chiêm ngưỡng dung nhan của Đức Ki-tô không thể dừng lại ở hình ảnh của Đấng chịu đóng đinh. Người là Đấng đã sống lại!29 Kinh mân côi đã luôn diễn tả sự hiểu biết phát sinh từ đức tin này và mời gọi người tín hữu vượt lên trên bóng tối của cuộc khổ nạn để chiêm ngắm vinh quang của Đức Ki-tô trong mầu nhiệm sống lại và lên trời. Khi chiêm ngưỡng Đấng phục sinh, người ki-tô hữu tái khám phá lý do của niềm tin (x. 1 Cr 15,14) và sống lại niềm vui không chỉ của những người được Đức Ki-tô hiện ra -Các Tông đồ, Bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na và các môn đệ trên đường về làng Em-mau- nhưng cả niềm vui của Đức Ma-ri-a nữa, đấng đã có một kinh nghiệm không kém mãnh liệt về đời sống mới của người Con vinh quang của ngài. Trong mầu nhiệm lên trời, Đức Ki-tô đã được nâng lên ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang, trong khi chính Đức Ma-ri-a sẽ được nâng lên trong cùng một vinh quang ấy qua biến cố mông triệu, để hưởng trước, do bởi một đặc ân duy nhất, định mệnh được dành cho mọi người công chính khi sống lại từ cõi chết. Đội mão triều thiên trong vinh quang - như Mẹ xuất hiện trong mầu nhiệm vinh quang cuối cùng - Đức Ma-ri-a toả sáng như Nữ hoàng của các Thiên thần và các Thánh, sự hưởng trước và sự thực hiện hoàn hảo nhất của trạng thái cánh chung của Giáo hội.

 

Ở trung tâm của chuỗi biến cố vinh quang của người Con và người Mẹ, Kinh mân côi đặt trước chúng ta mầu nhiệm vinh quang thứ ba, lễ Hiện xuống, nó tỏ lộ dung nhan của Giáo hội như một gia đình tụ họp cùng với Đức Ma-ri-a, tràn đầy sức sống nhờ sự tuôn đổ sức mạnh của Thần Khí và sẵn sàng chu toàn sứ vụ truyền giáo. Việc chiêm ngưỡng hoạt cảnh này, cũng như các sự mừng khác, phải dẫn đưa các tín hữu đến việc quý trọng hơn nữa đời sống mới trong Đức Ki-tô, được sống trong lòng Giáo hội, một đời sống mà hoạt cảnh Hiện xuống là hình tượng tuyệt vời nhất. Vì thế, các sự mừng dẫn đưa các tín hữu đến niềm hi vọng mạnh mẽ hơn về mục tiêu cánh chung, họ hành trình tiến về đó như thành viên của Dân Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử. Điều đó không thể không thúc đẩy họ can đảm làm chứng về Tin mừng đã đem lại ý nghĩa cho toàn thể cuộc đời họ.

 

Từ các mầu nhiệm đến Mầu nhiệm: con đường của Đức Ma-ri-a

 

24. Chu kỳ suy niệm mà Kinh rất thánh mân côi đề nghị không thể nào bao gồm hết mọi khía cạnh, nhưng nó nhắc lại những điều cốt yếu và gợi lên trong linh hồn một sự khao khát Đức Ki-tô luôn được nuôi dưỡng từ nguồn mạch tinh trong của Tin mừng. Mọi biến cố riêng lẻ trong cuộc đời Đức Ki-tô, như được các tác giả sách Tin mừng tường thuật lại, đều chói lọi với Mầu nhiệm vượt quá mọi hiểu biết (x. Ep 3,19): Mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, nơi Người tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể (Cl 2,9). Vì lý do ấy, sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo nhấn mạnh nhiều đến các mầu nhiệm Đức Ki-tô, khi nhắc lại rằng mọi sự trong cuộc đời Đức Giê-su đều là dấu chỉ của Mầu nhiệm của Người.30 Việc chèo ra chỗ sâu của Giáo hội của ngàn năm thứ ba sẽ được đánh giá bởi khả năng của người ki-tô-hữu tiến vào sự thông hiểu phong phú và đầy đủ, khiến họ nhận biết mầu nhiệm của Thiên Chúa, tức là Đức Kitô, trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết (Cl 2,2-3). Thư gởi tín hữu Ê-phê-sô dâng lời cầu nguyện chân thành này cho mọi người chịu phép Thánh Tẩy: Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Kitô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức nhận biết tình thương của Đức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa (3,17-19).

 

Kinh mân côi nhắm phục vụ lý tưởng ấy; nó trao ban bí mật dễ thực hiện để dẫn đến một sự hiểu biết sâu xa và nội tâm về Đức Ki-tô. Chúng ta có thể gọi đó là con đường của Đức Ma-ri-a. Đó là con đường của mẫu gương Đức Nữ Trinh Na-da-rét, một người phụ nữ của lòng tin, của thinh lặng, của lắng nghe chăm chú. Đó cũng là con đường của lòng sùng kính Đức Ma-ri-a, được khiến hứng bởi sự hiểu biết về mối giây không thể phân ly giữa Đức Ki-tô và Mẹ thánh Người: các mầu nhiệm của Đức Ki-tô theo một nghĩa nào đó cũng là các mầu nhiệm của Mẹ Người, ngay cả khi chúng không dính dáng Mẹ cách trực tiếp, bởi vì Mẹ sống bởi Người và qua Người. Khi xem những lời của Thiên thần Ga-bri-en và Bà Ê-li-sa-bét trong Kinh Kính mừng như của chúng ta, chúng ta cảm thấy luôn bị lôi kéo tìm kiếm cách luôn mới mẻ nơi Đức Ma-ri-a, trong vòng tay và trong con tim của Mẹ, hoa quả được chúc phúc của lòng Bà (x Lc 1,42).

 

Mầu nhiệm của Đức Ki-tô, mầu nhiệm của con người

 

25. Trong chứng từ của tôi năm 1978 được nhắc lại ở trên, khi tôi nói Kinh mân côi là lời kinh ưa thích của tôi, tôi đã sử dụng một ý mà tôi muốn đề cập lại. Tôi đã nói rằng lời kinh đơn sơ của Kinh mân côi đánh dấu nhịp sống của con người.31

 

Dưới ánh sáng của những suy tư cho tới nay về các mầu nhiệm của Đức Ki-tô, đi sâu vào ý nghĩa nhân học của Kinh mân côi thì không phải là điều khó, nó sâu xa hơn cái dáng vẻ thấy lần đầu. Bất cứ ai chiêm ngưỡng Đức Ki-tô qua những giai đoạn khác nhau của cuộc đời Người không thể không nhận ra trong Người chân lý về con người. Đó là khẳng định quan trọng của Công đồng Va-ti-ca-nô II mà tôi thường bàn luận trong các giáo huấn của tôi kể từ Thông điệp Redemptor Hominis: Chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập thể mà mầu nhiệm của con người được xem thấy trong ánh sáng đích thực của nó.32 Kinh mân côi giúp mở ra con đường hướng về ánh sáng này. Khi đi theo con đường của Đức Ki-tô, con đường của con người được tóm kết, 33 mặc khải và cứu chuộc trong Người, người tín hữu đi đến việc trực diện với hình ảnh của con người đích thực. Chiêm ngưỡng việc Đức Ki-tô hạ sinh, họ học biết tính cách thánh thiêng của sự sống; khi nhìn vào gia đình Na-da-rét, họ học biết chân lý nguyên thủy của gia đình theo như kế hoạch của Thiên Chúa; khi lắng nghe Thầy trong các mầu nhiệm của sứ vụ công khai, họ tìm thấy ánh sáng dẫn đưa họ vào Nước Trời; và khi bước theo Người tiến đến Núi Sọ, họ học biết ý nghĩa của đau khổ đem lại ơn cứu độ. Cuối cùng, chiêm ngưỡng Đức Ki-tô và Mẹ rất thánh Người trong vinh quang, họ thấy được cùng đích mà mỗi người trong chúng ta được mời gọi hướng về, nếu chúng ta để cho Chúa Thánh Thần chữa trị và biến đổi chúng ta. Ta có thể nói rằng mỗi mầu nhiệm của Kinh mân côi, một khi được suy niệm thấu đáo, chiếu toả ánh sáng trên mầu nhiệm của con người.

 

Đồng thời, sẽ là việc tự nhiên khi ta mang theo, trong cuộc gặp gỡ này với nhân tính thánh thiện của Đấng Cứu chuộc, mọi vấn đề, lo lắng, lao công và nỗ lực dệt nên cuộc sống chúng ta. Hãy trút mọi gánh lo vào tay Chúa và Người sẽ đỡ đần cho (Tv 55,23). Cầu nguyện bằng Kinh mân côi là trút bỏ mọi gánh nặng của chúng ta vào trong trái tim thương xót của Đức Ki-tô và Mẹ Người. Sau 25 năm, khi nhìn lại các khó khăn gặp phải khi thi hành chức vụ giáo hoàng, tôi cảm thấy cần phải nói thêm, như một lời mời gọi nồng nhiệt gởi đến mọi người để họ đích thân cảm nghiệm: quả thực Kinh mân côi đánh dấu nhịp sống của con người, khi làm cho nó hoà hợp với nhịp sống của Thiên Chúa, trong sự thông hiệp hân hoan với Thiên Chúa Ba Ngôi, định mệnh của cuộc sống chúng ta và khát vọng sâu xa nhất.