Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Chương 3 Ý nghĩa của tính dục con người

Tác giả: 
Trần Mỹ Duyệt

 

 

III. Ý NGHĨA CỦA TÍNH DỤC CON NGƯỜI

 

 

 

Thế giới thiên nhiên, bụi đất, vật chất, hơn kém chỉ là chất liệu hoặc đất sét tạo hình cho ý muốn con người. Công việc tạo dựng là thánh thiện. Nó mang ý nghĩa bí tích. Nó phản ảnh vinh quang của Thiên Chúa. Điều này bao gồm cả thân xác chúng ta. Tính dục của chúng ta có một sức mạnh để truyền sinh và chia sẻ phẩm tính được tạo dựng mang hình ảnh Thiên Chúa. Chúng ta cần sống với ý nghĩa này.

 

Thế giới vật lý tự nhiên dẫn vào sự tốt đẹp tinh thần

 

37. Đức tin Công Giáo luôn luôn là lòng sùng mộ “vật thể” của tôn giáo. Thánh Kinh bắt đầu trong một khu vườn và kết thúc với một bữa tiệc. 33 Thiên Chúa đã tạo thành vũ trụ, gọi nó là tốt đẹp, vào bước vào lịch sử của thế giới này. Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, mặc xác phàm và trở thành một người trong chúng ta. Trong các bí tích, những chất liệu vật chất được thánh hóa và biến thành dấu chỉ hữu hình của ân sủng. Bánh và rượu thông thường, nước, dầu, và sự đụng chạm của bàn tay con người là tất cả những cách thức hiển nhiên trong đó sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên thật và hiệu lực.

 

38. Chúng ta tin vào những hành động từ bi con người. Khi chúng ta cho người đói ăn, cho kẻ khát uống, cho người trần trụi mặc, đón tiếp những kẻ vô gia cư, săn sóc người bệnh tật, thăm viếng tù nhân, hoặc chôn cất kẻ chết, đó chính là phục vụ Chúa Giêsu. (Mt 25:25-40) Chúng ta tin vào sự tốt lành của việc tạo dựng của Thiên Chúa. (Gen 1:4-31) Lòng tin tưởng này lan tỏa vào những tư tưởng Công Giáo. Nó trở nên hữu hình trong nghệ thuật và kiến trúc của chúng ta, nhịp nhàng trong lịch phụng vụ về lễ bái, chay tịnh, những lễ nghi địa phương và các bí tích của chúng ta.

 

Tính dục đàn ông và đàn bà tham dự vào mục đích thần linh

 

39. Tạo vật bùn đất có ý nghĩa thần linh, điều này ứng dụng đối với cách thế chúng ta sống như người nam và người nữ. Tính dục của chúng ta có mục đích của nó. Thân xác của chúng ta không chỉ là một cái vỏ của linh hồn, và cũng không phải là những máy móc giác quan cho khối óc. Nó cũng không phải hoàn toàn vật chất mà chúng ta có thể tự do lạm dụng hoặc xử dụng tùy tiện. Đối với những Kitô hữu, thân xác và linh hồn kết hợp với nhau một cách mật thiết. Mỗi người là một sự hợp nhất của thân xác và linh hồn. Thánh Hildegard thành Bingen đã viết: “Thân xác, chính là đền thờ của linh hồn, hợp tác với linh hồn bằng giác quan như chiếc cánh gió được quay bởi luồng nước.” 34 Thân xác có một phẩm giá thiên phú như là một phần trong công việc sáng tạo của Thiên Chúa. Nó là một phần mật thiết của căn tính và vận mệnh đời đời của chúng ta. Hai giới tính theo nghĩa của nó, thể hiện mục đích Thiên Chúa cho con người tùy thuộc lẫn nhau, chung sống với nhau, và công khai đời sống mới. Chúng ta không thể làm giảm giá trị hoặc lợi dụng thân xác mà không giây tổn thương giá trị tinh thần.

 

40. Dĩ nhiên, chúng ta không phải lúc nào cũng yêu như chúng ta phải yêu. Tính dục là một yếu tố cá biệt mạnh mẽ trong hoạt động con người - tốt và xấu. Và vì thế nếu tính dục bị xử dụng sai hoặc không phù hợp sẽ luôn luôn là đầu mối của tội lỗi và hỗn loạn. Ham muốn tính dục và sự hiểu biết về mình có thể trở nên mặc cảm. Căn tính của chúng ta được mặc khải trong Chúa Giêsu và trong chương trình của Thiên Chúa cho đời sống chúng ta, chứ không phải những đòi hỏi sa ngã của mình.

 

41. Hôn nhân hiện hữu bởi vì truyền sinh và sống chung, sinh vật và giao ước của Thiên Chúa, tự nhiên và siêu nhiên, cùng giúp nhau thăng hoa ý nghĩa “con người” là gì. Hôn nhân hiện hữu vì chúng ta khám phá và chấp nhận, hơn là đầu tư và mà cả, ơn gọi cho đi chính mình mà nó là bản thể người nam và người nữ được tạo dựng từ một giáo ước. Hôn nhân là công việc tạo dựng của Thiên Chúa bởi vì chúng ta là những tạo vật của Ngài, và bởi vì Thiên Chúa tạo dựng người nam và người nữ cho tình thân hữu với Ngài trong giao ước của Ngài.

 

42. Khởi thủy của chúng ta như hai phái tính khác nhau và bổ túc cho nhau, ơn gọi chúng ta để yêu, để hợp nhất, và để sống. 35 là một và cùng một lúc. Theo ngôn ngữ của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Đấy là câu chuyện tình. Câu truyện tình trong tuyệt tác phẩm của tạo dựng.” 36

 

43. Ơn gọi này để yêu, để sống chung, và để sống liên quan đến toàn thể con người nam và nữ, thân xác và linh hồn. Con người, một tạo vật cùng lúc vừa xác thể vừa tinh thần. 37 Thể xác con người, một nghĩa nào đó, cho thấy con người đó. 38  Kết quả là, tính dục con người không chỉ thuần khiết là một tác dụng. Dị đồng tính dục, rõ ràng trong thân xác, đóng góp trực tiếp vào đặc tính của cơ thể người phối ngẫu và khả năng để yêu của một người. 39  Tại tâm điểm của ơn gọi để yêu này là lệnh truyền của Thiên Chúa “hãy sinh sản cho nhiều” (Gen 1:28, NRSV). Vì thế, sự hợp nhất trong thân xác của người phối ngẫu, do bản chất tự nhiên, cũng là một lời mời gọi để sống như người cha và người mẹ. 40

 

44. Vì lý do đó, chúng ta nghe niềm hân hoan qua ngôn ngữ của Adam lần đầu gặp Evà: “Cuối cùng, đây là xương của xương tôi, và thịt của thịt tôi.” (Gen 2:23, NRSV) Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ghi rằng, từ nguyên thủy, “người nam nhìn ra người nữ như cái “tôi” khác chia sẻ cùng nhân tính.” 41 Người nam và người nữ chia sẻ phẩm tính bình đẳng đến từ Thiên Chúa là Tạo Hóa của họ. Trong chương trình của Thiên Chúa, cả hai giống nhau, và cái khác của người nam và người nữ xẩy ra cùng lúc trong tình trạng bổ khuyết sinh lý của họ như giống đực và giống cái. Được tạo dựng với nhau (Gen 1:26-27), người nam và người nữ sẵn sàng cho nhau. 42 Sự khác biệt tính dục là một lời nhắc nhở căn bản rằng việc chúng ta được dựng nên để trao hiến cho nhau đã được hướng dẫn bằng đức hạnh và tình yêu Thiên Chúa.

 

45. Thánh Gioan Phaolô II thường xuyên nói về “ý nghĩa hôn nhân hoặc vợ chồng của thân xác”. 43 Ngài vang vọng lại giáo huấn của Vaticanô II  rằng “Sự phối hợp của người đàn ông và đàn bà cấu tạo nên hình thái đầu tiên của hiệp thông giữa những cá nhân.” 44  Nhưng sự khác biệt về tính dục ghi dấu trên mọi giao tiếp của chúng ta ngay cả đối với những người không lập gia đình, bởi vì chúng ta mỗi người bước vào đời như người con trai hoặc con gái. Chúng ta được mời gọi trở nên anh chị em không phải chỉ với những người trong một nhà, nhưng còn đối với những người đói khổ trong lối xóm, trong cộng đồng, và trong giáo xứ của chúng ta. Căn tính chúng ta như những người nam, người nữ là căn bản của ơn gọi làm cha, làm mẹ của chúng ta, tự nhiên hay tinh thần. Trong cách thế này, sự khác biệt về tính dục mang ý nghĩa bao quát của nó.

 

46. Bởi vì nó là đơn vị căn bản của căn tính chúng ta, tính dục không thể bị biệt lập khỏi ý nghĩa của con người. Sinh lý không bao giờ đơn thuần là một sự rung động cảm tình hoặc thể lý. Nó luôn luôn liên hệ nhiều hơn. Khát vọng sinh lý nói lên rằng chúng ta không bao giờ tự đầy đủ. Chúng ta khao khát sự mật thiết với người khác. Hành động giao hợp, bất kể “tình cờ” như thế nào vẫn không phải là một tác động sinh lý thuần túy. Thực ra, sự thân mật tính dục luôn luôn mang một số ý nghĩa vợ chồng bởi vì nó tạo nên một sự gắn bó của con người, dù không cố ý đi nữa. Hành động vợ chồng thật sự không chỉ đơn thuần là tìm kiếm bên trong và hành động khiêu gợi tự nó. Tính dục của chúng ta tuy cá nhân và mật thiết, nhưng luôn luôn với một chiều kích xã hội và có hậu quả. Bí tích hôn nhân không bao giờ là một quyền sở hữu riêng tư, nhưng là những khám phá tự nó trong sự hiệp thông với giao ước rộng lớn hơn của Thiên Chúa.

 

                                          

Chúng ta có đạo đức sinh lý vì sinh lý mang ý nghĩa tinh thần

 

47. Hai ơn gọi khác nhau làm cho công chính đối với lệnh truyền của con người nam hay nữ trong dự án của Thiên Chúa: hôn nhân và độc thân. Cả hai nguyên tắc này cùng dẫn đến tiền đề được chia sẻ là sự thân mật sinh lý giữa một người nam và một người nữ thuộc về và làm phong phú cho ý nghĩa của một giao ước.  Độc thân là con đường những người không kết hôn xác tín về sự thật và vẻ đẹp của hôn nhân. Độc thân và hôn nhân cả hai tiết chế hành động tính dục để xử dụng nhau trong những chiều hướng điều kiện hoặc tạm thời. Sự tiết dục độc thân vĩnh viễn rõ ràng không phải là một sự khinh bỉ tính dục, nhưng đúng hơn là làm vinh dự tính dục bằng cách nhấn mạnh rằng sự gần gũi tính dục phục vụ và được phục vụ bởi giao ước. Vì sống trong ánh sáng của giao ước, những cặp vợ chồng và những người độc thân giống nhau cùng dâng đời sống tính dục của họ cho cộng đoàn, cho công trình tạo dựng xã hội mà nó không được bao gồm trong ham muốn tình dục và lạm dụng.

 

48. Trong ba chương kế tiếp sẽ trình bày nhiều hơn về chi tiết của hôn nhân (Chương 4 và 5), và đời sống độc thân (Chương 6). Nhưng cả hai lối sống đều bắt nguồn từ huấn lệnh của Thiên Chúa để sống nam tính và nữ tính trong những cách thế quảng đại, và hy sinh chính mình. Cả hai cách sống đều nhìn lên giao ước của Thiên Chúa và tiếp nhận sự thật được tạo dựng như người nam và người nữ như những nguyên nhân đem lại vui mừng. Luật lệ chúng ta áp dụng trong tình yêu của chúng ta - luật lệ của giao ước - một đôi khi cảm thấy nặng nề. Nhưng một cách chắc chắn luật này đem vinh dự và biểu lộ ý nghĩa đúng của tình yêu được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa.

 

49. Việc tạo dựng chúng ta như những người nam và người nữ theo hình ảnh Thiên Chúa là lý do tại sao chúng ta được kêu gọi tới đức khiết tịnh. Khiết tịnh được diễn giải bằng nhiều hình thức, tùy theo chúng ta kết hôn hay không. Nhưng đối với mọi người, khiết tịnh đòi hỏi từ chối dùng thân xác của mình hoặc của người khác như những mục đích giảm giá trị thân thể. Chúng ta lập gia đình hay không thì khiết tịnh là một tập quán sống tính dục của chúng ta với phẩm giá và ân sủng trong ánh sáng của những giới luật Chúa. Thèm khát dục vọng chống lại với khiết tịnh. Sự thèm muốn dục vọng liên quan đến việc nhìn ngắm người khác trong những cách thế xem như thân xác của người ấy tồn tại chỉ để thỏa mãn sự thèm khát. Khiết tịnh thật “không miệt thị thân xác” nhưng coi thân xác trong chiều kích của con người. 45 Khiết tịnh là tiếng “đúng” cao cả đối với sự thật của con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi để sống trong giao ước.

 

50. Hiểu như vậy, khiết tịnh là một điều mọi người được mời gọi để thực hành. “Mọi người đã chịu phép thánh tẩy được kêu gọi để khiết tịnh… Những người đã kết hôn được kêu gọi để sống khiết tịnh trong hôn nhân, những người khác thực hành khiết tịnh trong sự trinh sạch.” 46 Tình yêu khiết tịnh hôn nhân đặt thao thức dục vọng vào cách diễn tả của tình yêu, săn sóc, trung thành, và đón nhận con cái. Khiết tịnh của người độc thân, qua sự trinh tiết của nó, hỗ trợ sự mật thiết sinh lý qua ý nghĩa của yêu thương, săn sóc, và trung thành.

 

51. Những nguồn gốc của giáo huấn Kitô giáo này có từ rất xa xưa. Như Thánh Ambrôsiô đã viết ở thế kỷ thứ 4: “Có ba hình thức của nhân đức khiết tịnh: Trước hết là khiết tịnh trong hôn nhân, thứ đến là những người góa bụa, và thứ ba là những người đồng trinh. Chúng ta không ca tụng bất cứ hình thức nào để loại bỏ những hình thức khác… Đây là những gì làm giầu cho luật lệ của Hội Thánh.” 47

 

52. Làm cách nào để sống giáo huấn này một cách đúng nghĩa mặc dù kết hôn hay độc thân và một đôi khi trong những tình huống khó khăn ngày nay - thách đố này sẽ hướng dẫn chúng ta trong phần còn lại của tập giáo lý này.

 

53. Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới vật chất này do tình yêu của Ngài cho chúng ta. Mọi cái chúng ta có thể nhìn và đụng chạm, bao gồm thân thể nam và nữ của chúng ta, đều được tạo nên nhân danh giao ước của Thiên Chúa. Chúng ta không luôn luôn yêu như chúng ta phải yêu, nhưng khuôn mẫu tình yêu của Thiên Chúa nâng đỡ và kêu gọi chúng ta trở về với bản tính thật của chúng ta. Hôn nhân và độc thân là hai con đường để thuộc về nhau như người nam hoặc người nữ trong ánh sáng của giao ước Thiên Chúa, và vì lý do đó, cả hôn nhân và độc thân chọn lựa những cách thức tiết chết của cuộc sống.      

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN

 

  1. Tại sao người Công Giáo vui mừng và coi trọng thế giới vật chất và hiện hữu này nhiều đến như vậy? Hãy nghĩ đến bất cứ một vẻ đẹp nào, thí dụ thiên nhiên, thân xác, thực phẩm, hoặc nghệ thuật -- tại sao chúng lại quan trọng theo truyền thống Công Giáo?

 

  1. Mục đích của việc tạo dựng là gì? Phải chăng thế giới vật chất là một vật thể rỗng không mà chúng ta tự do xử dụng và lợi dụng tùy ý?

 

  1. Những chuyện như nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, và vẻ đẹp luôn hấp dẫn. Nhưng một đôi khi chúng ta có những ước muốn thầm kín và thèm khát vượt khỏi những gì là tốt cho chúng ta. Làm cách nào để chúng ta biết khi nào một ước muốn là tốt và chính đáng? Làm cách nào chúng ta có thể yêu thích và vui với công trình tạo dựng và thân xác chúng ta trong cuộc sống thường ngày?

 

  1. Tại sao chúng ta nghĩ đến các thực hành Công Giáo một cách truyền thống bao gồm cả lễ hội và chay tịnh? Độc thân và kết hôn?