Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Chương 6 Tất cả tình yêu mang lại hoa trái

Tác giả: 
Trần Mỹ Duyệt

 

 

VI. TẤT CẢ TÌNH YÊU MANG LẠI HOA TRÁI

 

 

 

Không phải mọi người được kêu gọi để kết hôn. Nhưng mọi cuộc sống đều mang ý nghĩa sinh sản. Mỗi cuộc sống có một sức mạnh và nhu cầu để phát sinh một sự sống mới -- nếu không qua việc sinh sản con cái, thì cũng qua những hình thức sống động khác của việc cho đi chính mình, xây dựng, và phục vụ. Giáo hội là một đại gia đình bao gồm nhiều ơn gọi, mỗi ơn gọi đều khác nhau, nhưng cần thiết và hỗ trợ nhau. Ơn gọi linh mục, đời thánh hiến, và ơn gọi giáo dân độc thân làm phong phú, và được phong phú bởi chứng từ của đời sống hôn nhân. Những cách thức thanh tịnh khác nhau và cử hành ngoài hôn nhân là những hình thức dâng hiến cuộc đời cho việc phục vụ Thiên Chúa và cộng đồng nhân loại.

 

Sự sản sinh tinh thần của người độc thân

 

91. Hai bí tích cá biệt của Giáo Hội trong đó cả hai đều dâng hiến “cho sự cứu độ người khác”. Cả hai Bí Tích Truyền Chức và Hôn Phối “ban ân huệ đặc biệt cho một sứ mệnh riêng trong Giáo Hội để phục vụ và xây dựng dân Thiên Chúa.” 91

 

92. Nói một cách khác, không phải mọi người đàn ông và đàn bà cần trở nên cha mẹ để chiếu tỏa tình yêu Thiên Chúa hoặc để thông phần trong “gia đình của các gia đình” mà chúng ta hiểu như Giáo Hội. Ơn gọi linh mục hoặc khấn dòng, có cái vinh quang và hoàn hảo của nó. Giáo Hội luôn luôn cần các linh mục và tu sỹ, và cha mẹ phải giúp con cái họ lắng nghe cho cơ hội mà Thiên Chúa có thể gọi chúng để dâng hiến cuộc đời chúng trong ơn gọi này.

 

93. Hơn nữa, có nhiều người tín hữu độc thân với những vị trí không thể thay thế của họ trong Giáo Hội. Giáo Hội nuôi dưỡng nhiều hình thức thực hành khác nhau đời sống hôn nhân, nhưng tất cả bằng cách này hay cách khác, là một ơn gọi để phục vụ Giáo Hội và nuôi dưỡng sự hiệp thông trong những cách thế mà chúng tương tự với việc cha mẹ nuôi dưỡng con cái.

 

94. Độc thân thực sự - giáo dân, truyền chức, hoặc khấn dòng - đều nhắm tới đời sống xã hội và cộng đoàn. Trở thành một “người cha tinh thần” hoặc “người mẹ tinh thần” - có lẽ như một thành phần của giáo sỹ hoặc tu sỹ, nhưng cũng như một người cha mẹ đỡ đầu, hoặc một người thân được nhận nuôi, hoặc một giáo lý viên, hoặc một thầy cô, hoặc đơn thuần là một người cố vấn và bạn hữu - là ơn gọi căn bản, một điều gì đó cần thiết cho một cộng đoàn Kitô hữu lành mạnh và thăng tiến.

 

95. Thánh Gioan Phaolô II đã có lần phản ảnh về những phẩm tính người mẹ của Mẹ Têrêsa, và bằng sự kéo dài hoa trái và sự sản sinh tinh thần của đòi sống độc thân một cách tổng quát hơn:

 

Không có gì khác thường để gọi một nữ tu là “mẹ”. Nhưng tên gọi này đã có một cường độ đặc biệt đối với Mẹ Têrêsa. Một người mẹ được thừa nhận do khả năng cho đi chính mình. Nhìn thái độ, dáng điệu, cung cách của con người, giúp chúng ta hiểu nó như thế nào đối với mẹ, bên kia tầm kích thuần túy thể lý, là một người mẹ, nó giúp mẹ đi vào căn nguyên tinh thần của vai trò làm mẹ.

 

Chúng ta biết chắc chắn cái bí mật của mẹ là gì: Mẹ được tràn đầy với Chúa Kitô, và vì thế nhìn mọi người với cặp mắt và trái tim của Chúa Kitô. Mẹ đã đón nhận một cách nghiêm chỉnh lời của Ngài: “Ta đói và ngươi đã cho ta ăn…” Vì thế mẹ đã không có vấn đề trong việc “đón tiếp” người nghèo của mẹ như những người con.

 

Tình yêu của mẹ là cụ thể và mạo hiểm: nó khuyến khích mẹ đi tới nơi chỉ có ít người đã có can đảm đi, bất cứ nơi nào nghèo túng lớn lao để sợ hãi.

 

Điều không ngạc nhiên là con người ở thời đại chúng ta đã được mẹ làm cho say mê. Mẹ đã hóa thân tình yêu mà Chúa Giêsu đã nhấn mạnh như điểm đặc biệt của những môn đệ của Ngài: “Thiên hạ sẽ cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.” 92

 

Những đời sống sáng ngời như Chân Phước Têrêsa của Calcutta và Thánh Gioan Phaolô II chứng tỏ rằng độc thân trong nhiều cách thế khác nhau của nó có thể là một con đường rất hứng thú, và đẹp đẽ của đời sống.

 

 

Tình trạng và những cơ hội của độc thân

 

96. Trước đây trong tập giáo lý này, trích dẫn lời Thánh Augustine, chúng ta đã thấy rằng mục đích của việc có con không chỉ thuần túy là tiếp tục nòi giống hoặc xây dựng xã hội dân sự, nhưng để đông đảo trên thành đô thiên quốc với niềm vui của đời sống mới. Sự khác biệt này - giữa mục đích tự nhiên của sinh sản và ơn gọi thần học để chuẩn bị đông đảo dân số cho Vương Quốc của Thiên Chúa - để Giáo Hội tiến tới điểm xa hơn: Đầy tràn phẩm giá của họ như những người đàn ông, đàn bà, tất cả mọi người có thể là hoa trái, nhưng không phải hết mọi người cần kết hôn.

 

97. Giáo Hội trình bày hôn nhân như một ơn gọi, một cơ hội; vì thế nó không thể là một đòi hỏi hoặc luật lệ cho việc thăng hoa đời sống Công Giáo. 93 Theo đó, thì độc thân cần thiết để tồn tại trong đời sống xã hội của Giáo Hội để cho hôn nhân trở nên một vấn đề tự do hơn là bắt buộc. Độc thân là sự chọn lựa nếu thực tế có hơn một con đường đối với thứ tự đời sống sinh lý của con người, nam tính hay nữ tính của con người trên thiên đàng. “Đời sống gia đình là một ơn gọi mà Thiên Chúa phú bẩm vào bản tính người đàn ông và đàn bà, và có một ơn gọi nữa mà nó bổ túc cho hôn nhân: ơn gọi sống độc thân và đồng trinh nhân danh Nước Trời. Nó là ơn gọi mà chính Chúa Giêsu đã sống.” 94

 

98. Độc thân và hôn nhân không xung khắc với nhau. Một lần nữa, như Thánh Ambrôsiô đã dậy: “Chúng ta không ca tụng bất cứ đời sống nào trong đó để loại bỏ những cái khác... Đấy là những gì làm cho phong phú nguyên tắc của Giáo Hội.” 95  Độc thân và hôn nhân là những ơn gọi bổ túc lẫn nhau bởi vì cả hai nói lên rằng sự mật thiết sinh lý không thể là một phân biệt hơn kém. 96  Cả những người độc thân và những người đã kết hôn đều tôn trọng cấu trúc của giao ước tình yêu và tránh “lên án” hoặc thân thiết có điều kiện. 97 Cả độc thân và hôn nhân loại bỏ sinh lý trong ý nghĩa của những gì Đức Thánh Cha Phanxicô đã gọi là “nên văn hóa loại bỏ.” 98 Cả độc thân và hôn nhân loại bỏ những liên hệ tính dục được cho là duy chỉ thỏa mãn ước muốn dục vọng.

 

99. Tuân thủ những luật lệ của độc thân và hôn nhân là hai con đường cho những người đàn ông, đàn bà trở nên liên kết với nhau mà không có sự lợi dụng sinh lý. Độc thân và hôn nhân chỉ là hai cách thế của cuộc sống cùng dẫn đến kết luận rằng hôn nhân là hoàn tất hình thức nhân loại cho những hành động sinh sản dưới ánh sáng của kiểu mẫu Thiên Chúa mà nó lưu truyền trong chúng ta và hình thành đời sống chúng ta. Đời độc thân - bao gồm không chỉ các linh mục, những tu sỹ khấn hứa, nhưng cả đối với những người tiết dục ngoài hôn nhân - là lối sống của nhiều người không kết hôn nhưng là những người tôn trọng những giao ước.

 

100. Tất cả những gì Giáo Hội đã dậy về con người được tạo dựng để vui mừng, về con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, về nhu cầu yêu và được yêu, được áp dụng đồng đều cho những người độc thân và có gia đình. Độc thân có thể được xác nhận và vĩnh viễn, giống như đời sống khấn hứa của các tu sỹ, hoặc một số người không thể kết hôn do bị bất lực hoặc do tình huống, hoặc chỉ vì vĩnh viễn một cách tiềm ẩn, khi một người trẻ tìm hiểu một ơn gọi. Trong tất cả những trường hợp này, người độc thân bước theo dấu chân của Chúa Giêsu, làm thăng hoa bằng cách dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa và tín thác vào dự án của Ngài, và xây dựng một đời sống được cho là yêu thương người khác với lòng xót thương, nhẫn nại, quảng đại và phục vụ.

 

101. Trong bất cứ một xã hội nào, số đông sẽ bị coi thường nếu hôn nhân được coi như bắt buộc,  cũng như nếu người ta cần một người bạn lãng mạn để có đôi. Độc thân trong Giáo Hội chống lại ý tưởng sai lệch này. Chẳng hạn như, những người góa bụa thường xuyên bị bỏ qua một bên trong những xã hội truyền thống, và những người độc thân trong các thành phố tân tiến thường xã hội hóa trong các câu lạc bộ, các tửu quán, và các tiệm rượu ở đó quan hệ tình dục là bình thường. Để thiết lập một khoảng cách lựa chọn, ở đó những người không kết hôn có thể cảm thấy vui mừng và có một sứ vụ, là tinh thần hiếu khách thẳm sâu, một cái gì mà những người Kitô hữu cần làm cho nhau như một hình thức của tự do và đón tiếp.

 

102. Một số người, do những trường hợp vượt ngoài sự kiểm soát của họ, sẽ muốn kết hôn, nhưng không thể tìm được người phối ngẫu. Một đời của hy vọng và chờ mong không có nghĩa tuyệt vọng đối với sự hiện hữu vô sinh. Khi sống trong sự sẵn sàng đón nhận đối với ý Chúa như nó được phơi bày trong lịch sử mỗi cá nhân, làm cho tiếng xin vâng (fiat) của Đức Maria trở nên của mỗi người, 99 những lời chúc phúc có thể từ đó mà ra. Vì mọi người được mời gọi để cho đi và nhận lãnh tình yêu, bởi vì tình yêu Kitô giáo là một cái nhìn từ ngoài, độc thân là một thực hành chung. Khi chúng ta yêu nhau một cách tiết độ ngoài hôn nhân, hoa trái là tình bạn: “Nhân đức của thanh tịnh nở hoa trong tình bạn hữu… Tiết độ là một kinh nghiệm cao cả trong tình bạn với người lối xóm của mình. Dù nó phát triển giữa những cá nhân của người cùng hoặc khác giới tính, tình bạn giới thiệu một điều tốt cao cả đối với tất cả. Nó hướng dẫn tới sự hiệp thông tinh thần.” 100

 

103. Những người độc thân - và một số giới hạn nhưng một cách nào đó giá trị giống nhau, những cặp vợ chồng vô sinh -   cũng có được sự tự do cá biệt, một quyền tự do hấp dẫn đối với những hình thức phục vụ, bạn hữu, và cộng đoàn. Những người độc thân và những người không có con liên quan thuận lợi hơn đối với những kinh nghiệm tiết chế trong cuộc sống cộng đoàn, đối với nghề nghiệp đòi hỏi sự uyển chuyển, đối với việc cầu nguyện và suy niệm. Những người độc thân và những cặp phu thê không con cái, và ngay cả những người cao niên mạnh khỏe (có thể với những con cháu trưởng thành), có những hồng ân của thời gian trong những cách thế mà những cha mẹ tiêu biểu không có. Những người như vậy có thể thích hợp với công việc giảng dậy giáo lý và những mục vụ khác của giáo xứ hoặc ngay những công tác tông đồ và chứng nhân trong những tình huống khó khăn mà nó không thích hợp với những gia đình có con cái. Những người không kết hôn hoặc là không con hài lòng với sự sẵn sàng mà nó mang đến cho họ tự do hành động hơn và sáng tạo về những cơ hội để hiếu khách và cho tình bạn. Khi Thánh Phaolô khuyến cáo về độc thân, ngài nghĩ ngài đang trao tặng một cơ hội mà nó có những thách đố của nó, nhưng nó cũng có những tự do và lợi ích của nó: “Nhưng nếu anh em kết hôn, anh em không có tội, và nếu một trinh nữ kết hôn, nàng không có tội. Những người này kết hôn sẽ kinh nghiệm sự sầu não trong đời sống này, và tôi muốn dành riêng anh em… tôi muốn anh em được tự do khỏi những lo lắng.” (1 Cor 7:28-32a, NRSV)

 

 

Liên kết tinh thần và xã hội giữa độc thân và hôn nhân

 

104. Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dậy: Tất cả những tín hữu Chúa Kitô được kêu gọi để hướng tới đời sống tiết độ trong việc tuân giữ những tình trạng đặc thù của cuộc sống. Ngay từ giây phút Thánh Tẩy, người Kitô hữu được bảo đảm để hướng đời sống tình cảm của mình trong tiết hạnh.” 101 Độc thân vì vậy liên kết với hôn nhân, tạo một nội tâm giống nhau, dâng hiến hoàn toàn chính mình cho Thiên Chúa. Cả người độc thân và người kết hôn, gắn bó cuộc sống của họ với giao ước của Thiên Chúa theo những ơn gọi riêng của họ. Có những điểm khác biệt thực hành trong bất cứ ơn gọi cá nhân nào, nhưng sự chuyển động nội tâm của linh hồn, sự dâng hiến trái tim của chính nó, đều giống nhau ở tâm điểm của nó.  Những người độc thân và những người kết hôn khôn ngoan và trưởng thành như nhau, với nhiều khả năng tinh thần giống nhau.

 

105. Trong trường hợp hôn nhân, khi những người chồng và những người vợ trao thân cho nhau, với tình yêu bắt chước Chúa Giêsu, tặng ân bản thân của mỗi người trao nhau là một phần công trình của Chúa Kitô, tham gia trong cùng chung một tinh thần của hồng ân của chính Chúa Giêsu đối với Giáo Hội. Khi cặp phu thê trao cho nhau lời thề ở thánh đường trong nghi lễ hôn phối, Chúa Kitô nhận lấy tình yêu hôn nhân của họ và làm cho nó thành một phần của hồng ân Thánh Thể của Ngài đối với Giáo Hội và Chúa Cha, Đấng hài lòng vì của lễ của Chúa Con, trao ban Chúa Thánh Thần cho cặp phu thê để đóng dấu sự kết hợp của họ. 102 Vậy hoa quả của hôn nhân, trước hết là hồng ân và trách nhiệm của sự ràng buộc bí tích. Đây chính là tại sao mà Thánh Gioan Phaolô II đã nói một cách đẹp đẽ rằng mối ràng buộc hôn nhân mà những cặp phu thê đã được ban cho để vui mừng và sống làm cho họ “thành lời nhắc nhở vĩnh viễn cho Giáo Hội về những gì đã xẩy ra trên Thánh Giá: Họ là cho nhau và cho những con cái những chứng nhân cho ơn cứu độ trong đó bí tích làm họ trở nên những người chia sẻ.” 103

 

106. Trong trường hợp độc thân, lý do tương tự cũng xảy ra. Tình yêu Chúa Kitô sung mãn bởi vì Ngài làm một tặng vật hoàn toàn của chính Ngài, một xác tín vô điều kiện của người khác: “Người ta sẽ lấy gì để đổi mạng sống mình?” Mt 16:20) Tình yêu Chúa Kitô được diễn tả trong ước muốn của Ngài là chia sẻ tất cả chính mình với các môn đệ của Ngài (Lk 22:15), cho chính mình cho các ông một cách hoàn toàn để mang mọi người về với Chúa Cha hầu thông phần vinh quang Thiên Chúa. 104  Tình yêu hôn là lý do chính của giao ước giải thích chúng ta sinh sản con cái như thế nào; tình yêu độc thân là lý do giao ước đem lại đời sống trong toàn thể cộng đồng.

 

107. Vì hôn nhân và độc thân là những ơn gọi bổ khuyết cho nhau đối với những người Công Giáo trưởng thành, chúng ta cần phải nuôi dưỡng những người trẻ của chúng ta để họ thấy rằng một người bạn lãng mạn không phải là căn bản cho hạnh phúc con người. Nếu hôn nhân tự nó hình thành từ giao ước của Chúa Giêsu với chúng ta, và nếu cũng một giao ước ấy đã làm cho những người độc thân cũng là một thay thế có thể thực hành được, thì đời sống của những người trẻ mà không kết hôn tốt hơn phải được hiểu, không phải trong những từ ngữ sống chung hoặc “bồ bịch”, nhưng là thời gian của tìm hiểu và nuôi dưỡng tình bạn hữu. Những tập quán và khả năng của một tình bạn thật là căn bản ngay cả đời sống trong hôn nhân hoặc cộng đoàn người độc thân. Vấn nạn về ơn gọi mà trẻ em vị thành niên và những người trẻ khác ngày nay phải đối diện cần dấn thân nhiều hơn sự ưa thích lãng mạn. Người trẻ cần làm quen những khả năng nội tâm tinh thần này không nên để ý tới những gì cuộc sống tương lai mang lại.

 

108. Vì lý do này, giáo xứ cần cẩn thận quan tâm đến chiều kích xã hội của sự tiết hạnh và độc thân. Độc thân giới thiệu những thách đố cá biệt, và, như Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo nhận định, học biết tự kiềm chế sinh lý có dáng vóc văn hóa : chúng ta là những con người tùy thuận lẫn nhau, và thực hành tiết độ thì hoặc được giúp đỡ hoặc cản trở do tình trạng xã hội của chúng ta.105 Những cơ hội của dời sống mà những người trẻ tìm gặp có thể hình dung tùy thuộc trên những mẫu gương mà chúng thấy và những câu chuyện chúng nghe.

 

109. Bởi vì độc thân rất khác biệt dòng chính, một nguy cơ xẩy ra ngay trong giáo xứ mà nó có thể không được hiểu biết đầy đủ. Những người độc thân “xứng đáng với cảm tình đặc biệt và sự quan tâm sống động của Giáo Hội, một cách đặc biệt của các linh mục chính xứ.” 106 Không chỉ các chính xứ, nhưng cả các gia đình và những người độc thân, cần có những bước vững chãi để chắc chắn rằng “độc thân” trong một ý nghĩa của Công Giáo rõ ràng không đồng nghĩa với bị cô lập và lẻ loi. Người độc thân cần bạn hữu cho việc chia sẻ những gánh nặng và những buồn phiền của họ, cũng như những cơ hội và hoàn cảnh để phục vụ.” Những cánh cửa của các căn nhà “giáo hội tại gia” và của gia đình rộng lớn là Giáo Hội phải được mở ra cho “những người không kết hôn.” 107

 

110. Viễn ảnh này đòi hỏi một nhu cầu cho hết mọi người để kiểm soát xem họ đóng góp như thế nào vào hoàn cảnh và sự quan trọng của đời sống giáo xứ. Nếu cha mẹ ngăn cản con cái khỏi đời sống linh mục, tu sỹ khấn dòng, hoặc ơn gọi độc thân khác, thì toàn thể cộng đoàn cần xem lại lương tâm. Độc thân thật sự luôn là sự phong phú của xã hội, và nếu độc thân được coi là xa lạ và cô lập, thì một cái gì đó trong thực hành hoặc cơ cấu của đời sống cộng đồng đã bị xiêu vẹo. Những người độc thân nên lấy những sáng kiến để phục vụ và dấn thân, và các gia đình nên có những bước để sẵn sàng đón tiếp, trở nên “người dì”, người “cậu” nuôi, và được kể vào công tác xây dựng mở rộng những căn nhà hoặc mục đích những cộng đồng.        

 

111. Một đời sống xã hội phong phú làm cho mọi hình thức độc thân được thừa nhận hơn đối với thế giới, vì nó làm nhẹ sự phê phán về độc thân, cho rằng một đời sống như thế cô đơn một cách bắt buộc. Để sống tầm nhìn này, để vượt qua quán tính của những thói quen xã hội mà nó tách biệt những người độc thân và bỏ lỡ những cơ hội của cảnh độc thân, đòi hỏi giao ước sáng tạo giống nhau từ giáo dân và giáo sỹ. Chúa Giêsu Chúa chúng ta, và là Chúa nói: “Mọi người sẽ cứ dấu này mà nhận ra anh chị em là các môn đệ thầy, nếu anh chị em thương yêu nhau.” (Jn 13:35, NRSV) Tình yêu nên làm đời sống giáo xứ sống động một cách rõ ràng đối với mọi người.  

            

112. Độc thân không phải là vô sinh, cũng không phải là “độc thân” theo nghĩa bị cô lập hoặc tự động. Trong Giáo Hội, chúng ta tất cả tùy thuộc lẫn nhau, được tạo dựng cho hiệp nhất, được tạo dựng để cho và để nhận tình yêu. Nhãn quan này của đời sống con người nẩy sinh ra một sự khác biệt vô tận của các ơn gọi có tính sáng tạo. Độc thân đặt những đòi hỏi đặc thù trên những ai chấp nhận nó, những người độc thân cũng có những quyền lợi cá biệt và nhiều cơ hội. Những người độc thân tôn trọng tính dục hoặc tiềm lực sinh vật học của hôn nhân, và hành động từ lý lẽ giống nhau và tinh thần tự hiến. Những người độc thân và những cặp phu thê cần có nhau để giúp nhau chịu đựng và vươn lên, “gia đình của những gia đình” đó là tại sao gọi là Giáo Hội.        

 

 

NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN ________________________________

 

  1. Điểm chung giữa độc thân và hôn nhân là gì?

 

  1. Những thử thách và gánh nặng nào mà những người không kết hôn gặp phải trong cộng đoàn của chúng ta? Các bạn hữu, các gia đình, và các giáo xứ có thể giúp như thế nào? Một số những lợi ích của độc thân là gì? Những người không kết hôn có thể phục vụ cộng đoàn như thế nào?

 

  1. Những trẻ em trong giáo xứ bạn có gặp gỡ một cách dễ dàng các linh mục, tu sỹ, và các nữ tu không? Bạn có thể nghĩ về những cách thức để giới thiệu những mẫu gương của đời sống độc thân trong cộng đoàn của bạn không? Bạn đã bao giờ khuyến khích con cái biết để trở thành một linh mục, hoặc tu sỹ? Tại sao có và tại sao không?

 

  1. Một số lý do chính đáng để chọn sống hôn nhân hoặc độc thân là gì? Những lý do không chính đáng là gì? Một người nên suy nghĩ đến ơn gọi của mình như thế nào?