Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XX Thường Niên

Tác giả: 
Cao Tấn Tĩnh
 
 
Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XX Thường Niên 
 
16-22/8/2015
 
 
 
 
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
 
 
(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
 
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html)
 
 

 
 

Chúa Nhật

 

sự sống huyết nhục

 

Bài Đọc I: Cn 9, 1-6

Đáp Ca: Tv 33, 2-3. 10-11. 12-13. 14-15

Bài Đọc II: Ep 5, 15-20

Phúc Âm: Ga 6, 51-59

 

Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh vẫn tiếp tục với Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XX Thường Niên Năm B hôm nay, qua đoạn 6 Phúc Âm của Thánh ký Gioan về Bánh Hằng Sống.

 

Thật vậy, nếu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước, Chúa Giêsu đã khẳng định ở câu cuối cùng cũng là câu đầu của bài Phúc Âm hômn nay, rằng "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Tôi sẽ ban, chính là thịt Tôi cho thế gian được sống", thì trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu còn khẳng định hơn nữa về tác dụng của Bánh Hằng Sống này, như sau:

 

"Thật, Tôi bảo thật quí vị: Nếu quí vị không ăn thịt Con Người và uống máu Người, quí vị sẽ không có sự sống trong quí vị. Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời, và TôiTôi sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống. Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì ở trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy".

 

Trong bài suy niệm cho Chúa Nhật tuần trước, chúng ta đã suy diễn câu khẳng định của Chúa Kitô "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Tôi sẽ ban, chính là thịt Tôi cho thế gian được sống" như sau: 

 

1- "Bánh hằng sống từ trời xuống" đây trước hết và trên hết là chính bản thân Chúa Kitô; 2- "ai ăn bánh này sẽ sống đời đời" nghĩa là ai nhận biết và tin tưởng Chúa Kitô thì được sự sống đời đời (xem Gioan 17:3); 3- "bánh Tôi sẽ ban chính là thịt Tôi cho thế gian được sống" ám chỉ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô và việc Người thiết lập Bí Tích Thánh Thể là hy tế hiện thực Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, một biến cố mang lại sự sống đời đời cho trần gian qua thừa tác vụ thánh của Giáo Hội. 

 

Nếu "bánh Tôi sẽ ban chính là thịt Tôi cho thế gian được sống", mà "bánh Tôi sẽ ban" đây ám chỉ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, được hiện thực nơi Bí Tích Thánh Thể trong Phụng Vụ của Giáo Hội thì quả thực "thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống". Ở chỗ, "Này là mình Thày sẽ bị nộp vì các con" (Luca 22:19) và "Này là máu Thày sẽ đổ ra cho nhiều người(Mathêu 26:28; Marcô 14:24).

 

Đúng thế, Chúa Giêsu Kitô là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), như "Bánh hằng sống từ trời xuống" để "ai tin ("ăn") Người thì được sống đời đời" (xem Gioan 6:40 và 51 / Gioan 3:16), và "Lời đã hóa thành nhục thể" đây đã "ban sự sống" cho riêng các môn đệ cũng như qua trung gian Giáo Hội Nhiệm Thể Người cho chung thế gian, bằng cuộc Vượt Qua của Người, một biến cố nhờ đó các vị đã tin vào Người mà được sự sống đời đời (xem Gioan 17:19,3), một sự sống làm cho họ nên một với Chúa Kitô: "Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì ở trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy".

 

Và chính vì được hiệp nhất nên một với Chúa Kitô mà họ cũng được nên một với Cha để thế gian cũng được thông phần vào sự sống thần linh hiệp nhất nên một này: "Con sống trong họ, Cha sống trong Con - để mối hiệp nhất của họ được nên trọn. Nhờ đó thế gian sẽ nhận biết rằng Cha đã sai Con, và Cha yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con" (Gioan 17:23).  

 

Tuy nhiên, Cuộc Vượt Qua ban sự sống đời đời của Chúa Kitô là một mầu nhiệm siêu việt, trí khôn tự nhiên của loài người không thể nào nắm bắt được, thấu hiểu nổi, như phản ứng trong bài Phúc Âm cho thấy: "Vậy người Do-thái tranh luận với nhau rằng: 'Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?'".

 

Đó là lý do, trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô mới khuyên Kitô hữu Thành Êphêsô về cả 2 phương diện tiêu cực và tích cực như sau: "Anh em chớ ăn ở bất cẩn, nhưng hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên Chúa. Anh em chớ say sưa rượu chè, vì rượu sinh ra dâm dục, nhưng hãy tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần". Về tiêu cực: "chớ ăn ở bất cẩn" và "chớ say sưa rượu chè", về tích cực: "hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên Chúa"  "hãy tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần". Có thế họ mới có thể "ở trong Tôi và Tôi ở trong (họ)".

 

Theo chiều hướng của Bài Đọc 2, về việc sống khôn ngoan hơn là khờ dại, ở chỗ tìm kiếm những thứ lương thực ăn uống làm cho mình được sống trường sinh bất tử, Sách Cách Ngôn trong Bài Đọc 1 hôm nay cũng kêu gọi "những kẻ mê muội rằng: 'Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi. Các ngươi hãy bỏ sự ngây dại đi, thì sẽ được sống, và hãy bước theo đường lối khôn ngoan'".

 

Chiều hướng sống khôn ngoan của Bài Đọc 1 và 2 để được sự sống chân thật còn phản ảnh nơi Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca chất chứa tâm tình chúc tụng ngợi khen Chúa (câu 1), cùng với lời kêu gọi tôn sợ Chúa (câu 2), nhờ đó mà được sống trường sinh phúc lộc (câu 3), và cũng nhờ đó mới có thể làm lành lánh dữ mà bình an vui sống (câu 4). 

 

1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. 

 

2) Các thánh nhân của Chúa hãy tôn sợ Chúa, vì người tôn sợ Chúa chẳng thiếu thốn chi; bọn sang giàu đã sa cơ nghèo đói, nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo. 

 

3) Các đệ tử ơi, hãy lại đây, hãy nghe ta, ta sẽ dạy cho các con biết tôn sợ Chúa. Ai là người yêu quý cuộc đời, mong sống lâu để hưởng nhiều phúc lộc. 

 

4) Hãy giữ lưỡi đừng nói ra điều ác, và ngậm môi cho khỏi thốt ra lời gian ngoa. Hãy lo tránh ác và hành thiện, hãy tìm kiếm và theo đuổi bình an. 

 

  

 

Thứ Hai

 

sự sống thiếu sót

 

Bài Đọc I: (Năm I) Tl 2, 11-19

Đáp Ca: Tv 105, 34-35. 36-37. 39-40. 43ab và 44

Phúc Âm: Mt 19, 16-22

 

Bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần XX Thường Niên hôm nay tiếp theo ngay sau bài Phúc Âm của Thứ Bảy tuần trước, bài Phúc Âm về "Nước Trời thuộc về những người" sống tinh thần khiêm hạ như trẻ nhỏ.

 

Về nội dung, có thể nói bài Phúc Âm hôm nay tiếp nối bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước. Vì trong bài Phúc Âm hôm nay Nước Trời dường như không thuộc về thành phần giầu có như người giầu có trong bài Phúc Âm, cho dù người giầu có này sống đạo đàng hoàng chứ không vì giầu mà bê bối. 

 

Trước hết, người giầu trong bài Phúc Âm sống đạo đàng hoàng, đến độ dường như vẫn còn cảm thấy thiếu một cái gì đó cho dù về vật chất giầu sang phú quí, nên mới lên tiếng hỏi Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm việc lành gì để được sống đời đời?" 

 

Sau nữa, "người thanh niên" này không vì giầu mà sống bê bối, như lời anh ta đã thưa cùng Chúa Giêsu, Đấng đã liệt kê các giới răn căn bản trong Thập Giới để được cứu rỗi hay "để được sống đời đời", những giới răn "chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối. Hãy thảo kính cha mẹ, và yêu thương kẻ khác như chính mình", những giới răn mà anh ta đã tự thú với Người rằng"Tất cả những điều đó tôi đã giữ từ khi còn niên thiếu, vậy tôi còn thiếu sót gì nữa chăng?" 

 

Đúng thế, con người được dựng nên theo hình ảnh và tương tự như Thiên Chúa nên lòng luôn khắc khoải cho tới khi được nghỉ yên trong Ngài mà cho dù giầu sang phú quí về vật chất họ vẫn cảm thấy xao xuyến bất an làm sao ấy. Thái độ của người thanh niên giầu sang trong bài Phúc Âm đã cho thấy rõ tâm trạng này, chẳng những ở vấn nạn được anh ta đặt ra hỏi Chúa Giêsu: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm việc lành gì để được sống đời đời?", mà còn ở hành động cuối cùng của anh ta được Phúc Âm thuật lại rằng: "Khi người thanh niên nghe lời đó thì buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều sản nghiệp".

 

Tuy nhiên, tâm trạng vẫn còn "thiếu sót" này của chàng thanh niên giầu có trong bài Phúc Âm hôm nay cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì, ơn gọi nên trọn lành không phải ai cũng có thể theo đuổi, hễ muốn là được, mà cần phải được kêu gọi và tuyển chọn như các vị tông đồ. Mà muốn nên trọn lành thì điều kiện tiên quyết đó là từ bỏ tất cả những gì con người sở hữu, nhờ đó họ mới có thể tiến đến chỗ bỏ mình và vác thập giá mà theo Chúa Kitô Vượt Qua được, như chính Người đã kêu gọi trong bài Phúc Âm hôm nay: "Nếu anh muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải anh có và bố thí cho người nghèo khó, thì anh sẽ được kho tàng trên trời, rồi đến mà theo Tôi".

 

Dấu hiệu còn cảm thấy "thiếu sót" và "buồn rầu" của người thanh niên giầu có trong bài Phúc Âm dầu sao cũng đáng mừng, vì chúng chứng tỏ người thanh niên giầu có này vẫn còn ý thức đức tin, vẫn còn khao khát nên trọn lành, tuy chưa thể thực hiện ngay được, hơn là những con người tham lam làm giầu đến độ bỏ Chúa, bỏ lễ Chúa Nhật, cho đến khi Chúa để cho thất bại, tan gia bại sản thì đâm ra trách Chúa, hận Chúa, tại sao Chúa để cho họ bị khốn khó như vậy v.v. Tại sao họ không tự trách mình bỏ Chúa mà lại trách Chúa bỏ họ nhỉ?! Thật là đáng thương...

 

Trường hợp của dân Do Thái trong Bài Đọc Một cho Năm Lẻ hôm nay cho thấy số phận của dân Do Thái cho dù được Chúa thương tuyển chọn và tỏ mình ra cho vẫn luôn có khuynh hướng bỏ Chúa mỗi khi họ được bình an và giầu thịnh, khiến họ vì thế đã bao nhiêu lần phải gánh chịu hậu quả của tình trạng bỏ Chúa của họ, ở chỗ họ bị Chúa để cho các quyền lực ngoại bang thống trị và hành khổ họ, cho dù sau đó họ được Thiên Chúa giải cứu, họ lại quên Ngài và bỏ Ngài.

 

"Chúa khiến các vị thủ lãnh đứng ra giải thoát chúng khỏi tay những người bóc lột, nhưng chúng cũng chẳng muốn nghe theo các vị thủ lãnh. Chúng hướng lòng về các thần ngoại và thờ lạy các thần ấy. Chúng đã vội bỏ đường lối các tổ tiên chúng đã đi, dù chúng có nghe biết các điều răn của Chúa, nhưng chúng vẫn làm mọi điều trái nghịch. Khi Chúa khiến các vị thủ lãnh đứng ra, Người tỏ lòng thương xót chúng, nghe lời những kẻ khốn cực kêu van, và giải thoát chúng khỏi tay những người bóc lột sát hại. Nhưng sau khi vị thủ lãnh chết, chúng lại đổi lòng, làm những điều xấu xa hơn cha ông chúng đã làm, theo các thần ngoại, phụng sự và thờ lạy các thần ấy. Chúng không từ bỏ những điều chúng bày đặt ra và đường lối quá ương ngạnh chúng quen đi".

 

Bài Đáp Ca hôm nay cho thấy nhận thức về dân Do Thái trong lịch sử cứu độ của họ, một lịch sử bao gồm toàn là chuyện họ trắng trọn và liên lỉ bất trung với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, Vị Thiên Chúa khoi6ng phải vị thế mà bỏ họ, trái lại, Ngài đã lợi dụng chính những yếu hèn của họ, lợi dụng chính cái bất trung của họ để tỏ danh thánh của Ngài là Đấng thủy chung của Ngài, Đấng luôn hiện diện với họ và cứu giúp họ cho đến cùng. 

 

1) Họ không chịu tiêu diệt những dân mà Chúa đã có lệnh truyền cho họ. Họ đã hoà mình với người chư dân, và học theo công việc chúng làm. 

 

2) Họ sùng bái tà thần của chúng, những tà thần đã hoá thành lưới dò hại họ. Họ đã giết những người con trai và con gái, để làm lễ cúng tế quỷ thần. 

 

3) Bởi những việc đó, họ tự làm ô uế bản thân, và do hành động tội lỗi, họ đã ngoại tình. Chúa đã bừng cơn thịnh nộ với dân tộc, và tởm ghét phần gia nghiệp của Người. 

 

4) Nhiều lần Chúa đã thương giải phóng nhưng họ manh tâm chống lại Người. Nhưng Người đã nhìn đến cảnh gian truân của họ, khi Người nghe lời họ kêu xin.

 

 

 

Thứ Ba

 

sự sống tăng bội

 

Bài Đọc I: (Năm I) Tl 6, 11-24a

Đáp Ca: Tv 84, 9. 11-12. 13-14

Phúc Âm: Mt 19, 23-30

 

 
Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XX Thường Niên tiếp tục bài Phúc Âm hôm qua là bài phúc âm về người thanh niên giầu có chưa thể nên trọn lành được vì còn ham của cải trần gian tuy vẫn sống đạo đàng hoàng.
 
 
Bài Phúc Âm hôm nay, trước hết, liên quan đến tình trạng người giầu có khó vào Nước Trời, ngoại trừ có ơn đặc biệt của Thiên Chúa, như chính Chúa Giêsu khẳng định:
 
 
"'Thầy bảo thật các con: Người giàu có thật khó mà vào Nước Trời. Thầy còn bảo các con rằng: Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời'. Các môn đệ nghe vậy thì bỡ ngỡ quá mà thưa rằng: 'Vậy thì ai có thể được cứu độ?' Chúa Giêsu nhìn các ông mà phán rằng: 'Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được'". 
 
Bài Phúc Âm hôm nay còn liên quan đến thành phần đã bỏ mọi sự mà theo Chúa, thành phần đã được bù đắp bằng những thứ về cả đời này lẫn đời sau như thế này:

 

"Bấy giờ Phêrô thưa Người rằng: 'Này đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?' Chúa Giêsu bảo các ông rằng: 'Thầy bảo thật các con: Các con đã theo Thầy, thì trong ngày tái sinh, khi Con Người ngự trên toà vinh hiển, các con cũng sẽ ngồi trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel. Và tất cả những ai bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, vợ con, ruộng nương vì danh Thầy, thì sẽ được gấp trăm và được sự sống đời đời. Nhưng có nhiều kẻ trước hết sẽ nên sau hết, và kẻ sau hết sẽ nên trước hết'".

 

Trước hết, thành phần "bỏ mọi sự mà theo Thày" - "sẽ ngồi trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel": Nghĩa là nhân loại sẽ được xét xử căn cứ vào chứng từ của thành phần theo Chúa, một chứng từ cho thấy "đức tin hoạt động qua đức ái" (Galata 5:6), một chứng từ nhờ đó họ có thể nhận biết Thiên Chúa mà được sống. 

 

Đó là lý do trong cuộc cung thẩm, Vị Thẩm Phán Tối Cao đã phân loại chiên dê theo tiêu chuẩn "đức tin hoạt động qua đức ái" này, khi Người phán xét cả hai về đức bác ái theo bề ngoài nhưng thật ra phán xét đức tin của họ, ở chỗ dê không thấy người nơi thành phần anh chị em hèn mọn nhất của Người nên không thương giúp bởi đó bị loại trừ, còn chiên dù không thấy vẫn ra tay bác ái cứu trợ nên được cứu độ (xem Mathêu 25:31-46). 

 

Sau nữa, thành phần "bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, vợ con, ruộng nương vì danh Thầy" - "sẽ được gấp trăm và được sự sống đời đời": Theo Phúc Âm Thánh Marco đoạn 10 câu 30 thì câu nói của Chúa Kitô đây còn được xác định rõ ràng "đời này" và "đời sau" nữa: "sẽ được gấp trăm" ngay "ở đời này" và "được sự sống trường sinh" "ở đời sau". Mà nếu thành phần môn đệ theo Chúa Kitô mà quả thực "được gấp trăm" ngay "ở đời này" thì chắc chắn họ sẽ "được sự sống trường sinh" "ở đời sau". 

 

Đúng thế, ngay "ở đời này" thành phần môn đệ theo Chúa Kitô không phải là thành phần "có tinh thần nghèo khó" nên đã được "Nước Đức Chúa Trời làm của mình vậy" (Mathêu 5:3) hay sao, và họ cũng không phải là thành phần "hiền lành" nên đã "được đất làm của mình vậy" (Mathêu 5:5) hay sao, một thứ "đất" biểu hiệu cho thế gian hay nhân loại. Nghĩa là họ dám đánh đổi tất cả mọi sự họ có để tậu cho bằng được thửa ruộng thế gian là nơi kho tàng Chúa Kitô được chôn giấu (xem Mathêu 13:44). Như thế không phải là họ đã thực sự được "gấp trăm" ngay "ở đời này" hay sao, là được cả Chúa Kitô lẫn ơn cứu chuộc thế gian của Người?

 

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, một nhân vật đã được Thiên Chúa tuyển chọn, một nhân vật cảm thấy mình thấp hèn trước sứ vụ cao cả Chúa trao cho: ""Ngươi hãy mạnh mẽ tiến đi mà giải thoát Israel khỏi tay quân Mađian: chính Ta sai ngươi đó'... 'Thôi, xin Chúa, con dựa vào đâu mà giải thoát Israel? Đây gia đình con là gia đình rốt hết trong chi tộc Manassê, và con là con út trong nhà cha con'".

 

Nhưng Thiên Chúa đã trấn an nhân vật mang tên Gideon này, vì Ngài muốn tỏ mình ra qua tình trạng thấp hèn của ông, tức muốn biến tình trạng thấp hèn của chàng thành quyền năng vô địch của Ngài, nhờ đó chàng được tăng bội "gấp trăm" ngay "ở đời này", như lời Chúa hứa với chàng trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Ta sẽ ở cùng ngươi: ngươi sẽ đánh ngã quân Mađian như đánh một người vậy". 

 

Ngay trong lời tuyên phán của Thiên Chúa với Quan Án Gideon ở đây chúng ta cũng thấy ẩn chứa tính cách "gấp trăm", nếu không muốn nói là gấp ngàn, gấp vạn lần qua câu: "ngươi sẽ đánh ngã quân Mađian như đánh một người vậy", như chúng ta thấy cuộc chiến diễn ra quả đúng như thế (xem Sách Quan Án nguyên Đoạn 7): ở chỗ, chỉ với 300 tinh binh, vị quan án này đã oanh liệt chiến thắng đạo binh nhiều như châu chấu và lạc đà nhiều như cát biển của đạo quân quá hùng hậu của dân Midian, Amaleck và Kedemite (câu 7 và 12). 

 

Bài Đáp Ca hôm nay như phản ảnh tâm trạng của một Quan Án Gideon khi được Thiên Chúa kêu gọi và trao sứ mệnh giải thoát dân của Ngài, và khi thấy được việc Ngài tỏ mình ra qua tình trạng thấp hèn của mình thì nhận biết lòng nhân hậu của Ngài qua việc Ngài tiếp tục ở với dân của Ngài và ra tay giải cứu dân của Ngài khi tới thời điểm của Ngài và theo cách thế của Ngài;

 

1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an, bình an cho dân tộc và các tín đồ của Chúa, và cho những ai thành tâm trở lại với Người. 

 

2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống. 

 

3) Vâng Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất Nước chúng tôi sẽ sinh bông trái. Đức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Ngài. 

 

 

 

 

Thứ Tư

 

sự sống đảo ngược

 

Bài Đọc I: (Năm I) Tl 9, 6-15

Đáp Ca: Tv 20, 2-3. 4-5. 6-7

Phúc Âm: Mt 20, 1-16a

 

Lời Chúa cho Thứ Tư Tuần XX Thường Niên hôm nay được tiếp tục trước hết với Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu với 16 cầu đầu ở đoạn 20 về dụ ngôn thuê thợ làm vườn nho và trả công đồng đều cho họ bao gồm cả người làm nhiều giờ nhất, từ "giờ thứ ba" trong ngày đến người ít giờ nhất, từ "giờ thứ 11" trong ngày, tức cách nhau 8 tiếng đồng hồ.

 
 
Sự kiện chủ trả lương đồng đều cho cả nhóm thợ được thuê sớm nhất lẫn nhóm thợ thuê muộn nhất bề ngoài có vẻ bất công, như chính cảm nhận của nhóm thợ đến làm sớm nhất: 
 
 
"Đến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: 'Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết'. Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng. Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn; nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Đang khi lãnh tiền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: 'Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?'" 
 
 
Thật ra, theo lý thì người chủ này chẳng những không bất công một chút nào với nhóm thợ được ông thuê làm vườn nho cho ông sớm nhất mà còn theo tình tỏ ra hết sức rộng lượng nữa là đằng khác với nhóm thợ được ông thuê làm vườn nho cho ông muộn nhất và ít vất vả nhất nữa, như chính câu trả lời của ông với nhóm thợ than phần hành động của ông cho thấy:
 
 
"Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao? Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?"
 
 
Đúng thế, ông chủ vườn nho không bất công với nhóm thợ đầu tiên và 2 nhóm thợ sau đó. Bởi vì 3 nhóm thợ đến sớm này và ông đã thỏa thuận với nhau về tiền công đâu vào đấy rồi: 
 
 
"Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: 'Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng'. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy'". 
 
 
Còn việc ông chủ này trả cho nhóm thợ sau cùng bằng nhóm thợ đầu tiên là do lòng quảng đại của ông, bởi nhóm thợ sau cùng này không hề mặc cả và đòi hỏi gì, có việc làm là tốt rồi, bằng không sẽ bị ế lao công và thiện chí của họ, trong khi đó ông chủ cũng chẳng hứa trả cho họ bao nhiêu và họ phải làm như thế nào: "Đến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: 'Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?' Họ thưa rằng: 'Vì không có ai thuê chúng tôi'. Ông bảo họ rằng: 'Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta'".
 
 
Căn cứ vào dụ ngôn trong bài Phúc Âm này, vào nguyên tắc đối xử của ông chủ vườn nho với các nhóm thợ được ông thuê vào làm vườn nho cho ông, thì chúng ta thấy rằng chúng ta được quyền yêu thương người này hơn người kia, chẳng hạn Chúa Giêsu yêu Tông Đồ Gioan một cách đặc biệt trong số các tông đồ của Người, nhưng đừng vì thế, vì người được mình yêu hơn bởi một lý do chính đáng nào đó mà đối xử bất công với những người khác. Có nghĩa là, theo nguyên tắc, theo lý, phải yêu thương hết mọi người như nhau, như bản thân mình, nhưng, theo tình, chúng ta vẫn có thể yêu một người nào đó hơn, vì hoàn cảnh đáng thương cần cứu giúp của họ, hay vì khả năng phục vụ đắc lực cho công ích của họ v.v.
 
 
Trong lịch sử Giáo Hội cũng xẩy ra những trường hợp được Chúa Giêsu cảnh giác ở câu cuối của bài Phúc Âm hôm nay: "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết". Chẳng hạn một Tông Đồ của Các Tông Đồ Mai-Đệ-Liên, hay Một Đại Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, hoặc một Giáo Phụ Tiến Sĩ Âu Quốc Tinh v.v. Trường hợp của người thu thuế và người Pharisiêu trong dụ ngôn cả hai cầu nguyện trong đền thờ cũng cho thấy rõ đường lối "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết" ngược đời này vậy (xem Luca 18:9-14). Hay trường hợp của người con cả tính toán với cha như là một người làm công cho cha và của người con thứ chỉ muốn làm tôi tớ của cha vì cảm thấy bất xứng làm con của cha (xem Luca 15:11-32) cũng vậy: "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết".
 
 
Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết" đã xẩy ra ở trường hợp giữa hai đứa con của Quan Án Gideon, một đứa con của ông là Giotham còn sống sót trong vụ tất cả các người con khác của ông tất cả là 70 người (sinh bởi nhiều bà vợ khác nhau của ông) bị Abimêlech là đứa con của người vợ lẽ, không phải vợ chính thức của ông sát hại để tự phong vương và làm vua Israel 3 năm
 
 
Phải chăng kẻ sau hết sẽ nên trước hết đây là Giotham còn sống sót và kẻ trước hết sẽ nên sau hết đây là Abimelech sát hại anh em mình để tự phong vương cho mình? Thật sự hậu quả đã cho thấy rằng Abimelech đã bị trả nợ máu vì sát hại 70 người con của Gideon là anh em cùng cha khác mẹ của mình, một ác giả ác báo đúng như lời nguyền rủa của người con sống sót là Giotham (xem Sách Quan Án 9:53-57)
 
 
Thời Quan Án (Judges) chưa phải là thời quân chủ (king) theo lịch sử của dân do Thái. Nếu Saul là vị vua đầu tiên của dân Do Thái, một vị vua được Thiên Chúa tuyển chọn và xức dầu bởi vị Quan Án cuối cùng là Samuel (1Samuel 8:1,19-22; 9:26-27;10:1) thì Abimelech là một vị ngụy vương, do đó, nhân vật này đã bị Thiên Chúa hạ bệ. Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa nhận thức và tâm tình của dân Do Thái về vị vua của họ được Thiên Chúa tuyển chọn và phong vương thực sự: 

 

1) Lạy Chúa, do quyền năng Chúa mà vua vui mừng; do ơn Chúa phù trợ, vua xiết bao hân hoan! Chúa đã ban cho sự lòng vua ao ước, và điều môi miệng vua xin, Chúa chẳng chối từ.

 

2) Chúa đã tiên liệu cho vua được phước lộc may mắn, đã đội triều thiên vàng ròng trên đầu vua. Nhờ Chúa giúp mà vua được vinh quang cao cả, Chúa khoác lên người vua, oai nghiêm với huy hoàng. 

 

3) Vua xin Chúa cho sống lâu, thì Chúa đã ban cho một chuỗi ngày dài tới muôn muôn thuở. Chúa đã khiến vua nên mục tiêu chúc phúc tới muôn đời, Chúa đã cho vua được hân hoan mừng rỡ trước thiên nhan. 

 

 

 

Thứ Năm

 

sự sống hoan hưởng

 

 

Ngày 20: Thánh Bernađô, tu viện trưởng, Tiến Sĩ Hội Thánh

 

 

Bernađô sinh năm 1090 tại Fontaine miền Bourgogne nước Pháp. Trong số 7 anh em, Bernađô thường được mẹ nuông chiều hơn cả, vì thế cậu thường rụt rè và nhát sợ. Khuyết điểm đó, sau này nhờ ơn Chúa, cậu đã vượt qua và trở nên một người mạnh dạn rao giảng lời Chúa.

 

Bernađô vào dòng Citô năm 22 tuổi. Sau ba năm nhà tập, ngài được cử đi làm tu viện trưởng tại Clairvaux, một chi nhánh của dòng.

 

Ðời sống tu viện trong giai đoạn đầu hết sức kham khổ: đói khát, lạnh lẽo và thiếu thốn đủ thứ đã làm cho các tu sĩ ngã lòng nản chí. Nhưng ngài vẫn một mực kiên trì và làm gương cho các thầy bằng sự hy sinh hãm mình, dù sức khỏe ngài rất yếu kém.

 

Nhận thấy Bernađô là người có đức độ nên Ðức Giám Mục Guilliaume de Champeaux đã truyền chức linh mục cho ngài và sai ngài đi giảng thuyết. Ngài đã biện bác chống lại các lạc giáo. Nhiều bậc vị vọng đạo đời đã đến xin ngài chỉ dẫn cho trong mọi công việc. Tiếng tăm ngài vang khắp nơi, nhưng ngài vẫn khiêm tốn và ưa thích tìm về đời sống trầm lặng trong tu viện. Ngài đã viết nhiều tác phẩm rất có giá trị, nhất là về phương diện tín lý. Ngài đã giúp Ðức Giáo Hoàng Innôcentê II trong công việc chống lại bọn ly giáo Pierre de Léon.

 

Thánh nhân chết năm 1153 tại Clairvaux, hưởng thọ 63 tuổi, để lại nhiều tu viện do chính ngài lập nên và có nhiều bút tích quý giá. Ðức Piô VIII đã tôn phong ngài lên bậc Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1830. 

 

 

Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần

Bài Đọc I: (Năm I) Tl 11, 29-39a