Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XXIII Thường Niên 6-12/9/2015

Tác giả: 
Cao Tấn Tĩnh
 
 
Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XXIII Thường Niên 
 
6-12/9/2015
 
 
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
 
 
(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
 
 
 
 

Chúa Nhật

 

sự sống mở ra

 

Bài Đọc I: Is 35, 4-7a

Đáp Ca: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10

Bài Đọc II: Gc 2, 1-5

Phúc Âm: Mc 7, 31-37

 

Bài Phúc Âm theo Thánh ký Marcô của Chu Kỳ Phụng Vụ Năm B cho Chúa Nhật XXIII Thường Niên hôm nay, theo diễn tiến của trình thuật Phúc Âm Thánh ký Marco không liên tục với bài Phúc Âm tuần trước ở cùng đoạn 7, mà bị cách 6 câu, từ câu 24 đến hết câu 30, một khúc Phúc Âm về người đàn bà Canaan, một người đàn bà gốc người Hy Lạp thuộc dân ngoại đã hết lòng tin tưởng xin Chúa Giêsu cứu con gái của bà khỏi bị quỉ ám cho bằng được.

 

Sở dĩ Giáo Hội không chọn đọc bài Phúc Âm về người đàn bà Canaan này là vì cũng câu truyện ấy đã được Giáo Hội chọn đọc rồi cho Chúa Nhật 20 Thường Niên Năm A theo Phúc Âm Thánh Mathêu (15:21-28). Ngay sau câu chuyện về người ààn bà Canaan này, Thánh ký Mathêu (15:29-31) còn thuật lại thêm như sau:

 

"Đức Giêsu xuống khỏi miền ấy, đến ven Biển Hồ Galilêa. Người lên núi và ngồi ở đó. Có những đám người đông đảo kéo đến cùng Người, đem theo những kẻ què quặt, đui mù, tàn tật, câm điếc và nhiều bệnh nhân khác nữa. Họ đặt những kẻ ấy dưới chân Người và Người chữa lành, khiến đám đông phải kinh ngạc vì thấy kẻ câm nói được, người tàn tật được lành, người què đi được, người mù xem thấy. Và họ tôn vinh Thiên Chúa của Israel".

 

Đoạn Phúc Âm tổng quát trên đây của Thánh ký Mathêu đã được Thánh ký Marcô ghi lại một trường hợp đặc biệt được Chúa Giêsu chữa lành, đó là: "Người ta đem một kẻ câm điếc đến cùng Người và xin Người đặt tay trên kẻ ấy. Người đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta. Đoạn ngước mặt lên trời, Người thở dài và bảo: 'Effetha!' (nghĩa là 'Hãy mở ra!'), tức thì tai anh ta mở ra, và lưỡi anh ta được tháo gỡ, và anh nói được rõ ràng".

 

Có thể nạn nhân bị "câm điếc" này bị ngay tự bẩm sinh, vì không nghe thấy gì ngay từ khi mới sinh nên mới không nói được. Do đó, để chữa lành cho anh ta, Chúa Giêsu đã thứ tự chữa lành cho tai của anh ta trước rồi mới tới lưỡi của anh ta: "Người... đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta", nhờ đó, kết quả cho thấy, như Phúc Âm thuật lại, cũng liên quan đến tai trước lưỡi sau: "tức thì tai anh ta mở ra, và lưỡi anh ta được tháo gỡ, và anh nói được rõ ràng".

 

Thật ra Chúa Giêsu có thể chữa cho nạn nhân câm điếc bẩm sinh này bằng cách như dân chúng mong muốn đó là "Người đặt tay trên kẻ ấy" là đủ. Nhưng không ngờ Người lại còn phức tạp hóa vấn đề chữa lành quá ư là dễ dàng đối với Người. Câm điếc về thể lý đâu đến nỗi trầm trọng như cái chết đã xông mùi 4 ngày trong mồ, như trường hợp của Lazarô, ấy thế mà để hồi sinh cho tử thi này, Người đã chẳng cần chui vào tận trong hầm mồ và phải đụng chạm đến tử thi của người chết, nhưng chỉ cần phán một lời "Lazarô, hãy ra  ngoài" (xem Gioan 11:43) là "người chết đi ra" (xem Gioan 11:44). 

 

Ấy thế mà tại sao để chữa lành cho một nạn nhân nhẹ hơn thật nhiều, một nạn nhân chỉ bị "câm điếc", Chúa Giêsu lại phải vất vả đến như thế, tới độ hầu như chưa có một phép lạ nào Người đã phải thực hiện từng bước một và nhiều bước một lúc như vậy: 1- "đem anh ta ra khỏi đám đông", 2- "đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta", 3- "ngước mặt lên trời, thở dài và bảo: 'Effetha!'". 

 

Phải chăng sự kiện hay cách thức Chúa Giêsu chữa lành cho nạn nhân "câm điếc" đầy lạ lùng này là một dụ ngôn cụ thể Người muốn dạy bảo chúng ta điều gì đó rất sâu xa về tinh thần và đời sống thiêng liêng?  

 

1- "đem anh ta ra khỏi đám đông": Phải chăng qua hành động này Chúa Giêsu muốn nói rằng sở dĩ con người không thể nghe được tiếng Chúa, hay khó có thể nghe được tiếng của Người trong thâm tâm của mình là vì tiếng ồn ào của đám đông thế gian làm át đi? Do đó, họ cần phải làm sao lắng đọng tâm hồn để nghe được lời Chúa.

 

2- "đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta"Để có thể nghe được tiếng Chúa, con người chẳng những cần phải xa lánh tiếng ồn ào của thế gian, mà còn phải được Thánh Thần soi trí mở lòng nữa. Phải chăng đó là lý do Chúa Giêsu đã "đặt ngón tay" vào tai anh ta, vì "ngón tay" ám chỉ Thánh Thần (xem Mathêu 12:28 và Luca 11:20)? Thế nhưng, về phương diện tự nhiên, nếu một khi tai đã nghe thấy thì miệng cũng sẽ nói được thế nào, về phương diện thiêng liêng cũng thế, một khi nghe thấy tiếng Chúa rồi thì cần phải loan truyền Lời Chúa như vậy. Phải chăng đó là lý do Chúa Giêsu đã "bôi nước miếng vào lưỡi anh ta", nước miếng từ miệng lưỡi của Người?

 

3- "ngước mặt lên trời, thở dài mà phán 'Effetha!'": Tất cả hai tác động trên đây sẽ không công hiệu nếu không có  tác động thứ ba,  tác động quyết liệt nhất,  tác động có thể nói bao gồm cả 3 Ngôi Thiên Chúa qua 3 cử chỉ biểu hiệu sau đây: cử chỉ thứ nhất là "ngước mặt lên trời" để hướng về cùng Cha (xem Gioan 11:41 hay 17:1 v.v.), cử chỉ thứ hai là "thở dài" ám chỉ Thánh Linh (xem Gioan 20:22), và cử chỉ thứ ba là câu truyền phán "hãy mở ra" liên quan đến chính Lời Chúa, đến bản thân Chúa Kitô (xem Gioan 1:1,14). 

 

Riêng lời phán "hãy mở ra", có thể ví có tác dụng thần linh, như lời truyền phép trên bàn thờ để biến hình bánh và hình rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, đã là lời làm cho phép lạ chữa lành xẩy ra, đó là làm cho đôi tai bị điếc của nạn nhân "mở ra", nhờ đó, nhờ tai của nạn nhân được "mở ra" mà miệng lưỡi của anh ta cũng được "mở ra", ở chỗ, như bài Phúc Âm cho biết: "anh nói được rõ ràng".

 

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao nạn nhân bị "câm điếc" này được Chúa Giêsu chữa lành, và chữa lành một cách hết sức đặc biệt như thế, nếu không phải là để cho anh ta có thể loan truyền hay làm cho "những việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh ta" (Gioan 9:3) hay sao, như trường hợp của người mù từ lúc mới sinh sau khi được chữa lành: "'Lạy Chúa, tôi tin' rồi cúi mình xuống thờ lạy Người" (Gioan 9:38).

 
Đó là lý do việc chữa lành của Chúa Giêsu nói chung và cho nạn nhân "câm điếc" trong bài Phúc Âm hôm nay nói riêng đã được Tiên Tri Isaia đặc biệt tiên báo trước, theo chiều kích thiêng liêng hơn là thể lý, đúng như ý nghĩa ám chỉ của những gì Chúa Giêsu thực hiện trong Phúc Âm hôm nay cho nạn nhân này, những lời tiên báo trong Bài Đọc 1 hôm nay liên quan đến ơn cứu độ cho thấy: 
 

"Các ngươi hãy nói với những tâm hồn xao xuyến: Can đảm lên, đừng sợ! Này đây Thiên Chúa các ngươi đến để phục thù. Chính Người sẽ đến và cứu thoát các ngươi. Bấy giờ mắt người mù sẽ sáng lên, và tai người điếc sẽ mở ra. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, và người câm sẽ nói được, vì nước sẽ chảy lên nơi hoang địa, và suối nước sẽ chảy nơi đồng vắng. Đất khô cạn sẽ trở thành ao hồ, và hoang địa sẽ trở nên suối nước".

 

 
Và một khi "mắt người mù sẽ sáng lên, và tai người điếc sẽ mở ra", như nạn nhân được chữa lành khỏi tật "câm điếc" để có thể sống bằng đức tin, sống bằng lời Chúa, con người mới có thể sống bác ái với tha nhân, sống một cách sáng suốt và chính trực, không còn mù quáng "thiên vị" theo "tà tâm" của mình, như Thánh Giacôbê cảnh giác trong Bài Đọc 2 hôm nay:
 
 
"Anh em thân mến, anh em là những người tin vào Đức Giêsu Kitô vinh hiển, Chúa chúng ta, anh em đừng thiên vị. Giả sử trong lúc anh em hội họp, có người đi vào, tay đeo nhẫn vàng, mình mặc áo sang trọng; lại cũng có người nghèo khó đi vào, áo xống dơ bẩn, nếu anh em chăm chú nhìn người mặc áo rực rỡ mà nói: 'Xin mời ông ngồi chỗ danh dự này'. Còn với người nghèo khó thì anh em lại nói rằng: 'Còn anh, anh đứng đó', hoặc: 'Anh hãy ngồi dưới bệ chân tôi'. Đó không phải là anh em xét xử thiên vị ở giữa anh em và trở nên những quan xét đầy tà tâm đó sao?"
 
 
Bài Đáp Ca hôm nay bày tỏ niềm xác tin và tin tưởng vào Vị Thiên Chúa cứu độ loài người đáng thương, bao gồm đủ mọi thành phần: "bị ức... đói khát... tù tội" (câu 1), "đui mù... khòm lưng... kiều cư" (câu 2), "mồ côi quả phụ" (câu 3): 
 

1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị ức, và ban cho những người đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

 

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân. Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. 

 

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời, Sion hỡi, Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác.

 

 

Thứ Hai

 

sự sống bù đắp

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Cl 1, 24 - 2, 3

Ðáp Ca: Tv 61, 6-7. 9

Phúc Âm: Lc 6, 6-11

 

 

Lại xẩy ra một trận đụng độ nữa, liên tục, giữa Chúa Giêsu và "những luật sĩ và biệt phái", thành phần hình như luôn theo dõi nhân vật Giêsu Nazarét xuất đầu lộ diện một cách hết lạ kỳ hầu như lập dị rất ư là cấp tiến này, mà "quan sát xem Người có chữa lành người ấy trong ngày Sabbat không, để có cớ tố cáo Người". 

 

Vì không phải là một con người bình thường, sợ áp lực đám đông và sợ áp lực quyền thế, Chúa Giêsu tỏ ra làm chủ tình hình, ở chỗ "Người biết tư tưởng các ông", thậm chí Người còn lợi dụng yếu điểm của đối phương để hạ gục họ: "Tôi hỏi các ông, ngày Sabbat được phép làm sự lành hay sự dữ, cứu sống hay là giết chết?", nhưng họ vẫn bất chấp cho dù tận mắt chứng kiến thấy phép lạ Người làm "vào một ngày hưu lễ trong hội đường":

 

 
"'Ngươi hãy chỗi dậy mà đứng ra giữa đây'. Người đó đứng thẳng dậy. ... Rồi đưa mắt nhìn mọi người, Người bảo người đó rằng: 'Ngươi hãy giơ tay ra'. Người ấy giơ ra, và tay người ấy được lành".
 
 

Họ chẳng những không bị thuyết phục bởi cả lý lẽ không thể chối cãi của Người và bởi phép lạ tỏ tường Người làm, trái lại, họ vẫn tiếp tục ngoan cố, đến độ: "Bấy giờ các ông đầy lòng tức giận, và bàn định với nhau xem có thể làm gì được Chúa Giêsu". 

 
Việc Chúa Giêsu, Đấng đến để cứu độ con người cả hồn lẫn xác, cố ý chữa lành cho "một người tay hữu bị khô bại" trong hội đường "vào ngày hưu lễ" như là một việc hoàn toàn trái luật hay phạm luật hoặc phá luật của ngày hưu lễ theo quan niệm của thành phần thông luật và dạy luật trong dân chúng đây, không phải chỉ để chữa lành thể lý cho nạn nhân bị khô bại ở tay hữu, nhưng nhất là để nhờ phép lạ và qua phép lạ chữa lành này, Người khai trí mở lòng cho thành phần vốn sống giả hình, mù quáng, duy luật, chỉ sống theo chữ nghĩa chết chóc của lề luật hơn là tinh thần sống động của lề luật là lòng nhân ái. 
 
 
Sự kiện Người hầu như liên tục đụng độ với hai thành phần sư phụ trong dân chúng này nhưng vẫn hết sức nhẫn nại làm cho họ mở mắt ra mà hầu như bất thành chứng tỏ cho thấy: một đàng tâm thức duy luật đã trở thành bản chất tự nhiên của họ, khó lòng, nếu không muốn nói là hầu như bất khả tẩy não, đàng khác, chính nhờ cái tâm thức cứ mù quáng này của họ mà Chúa Kitô "là ánh sáng thế gian" (Gioan 12:8), "ánh sáng thật" (Gioan 1:9), "ánh sáng chiếu soi trong tăm tối, một thứ tăm tối không át được ánh sáng"(Gioan 1:5), "nơi Người tiềm ẩn mọi kho tàng khôn ngoan và thông hiểu", như Thánh Phaolô đã xác tín và tuyên xưng trong Bài Đọc 1 hôm nay. 
 
 
Thật vậy, vì Chúa Giêsu đã được Thánh Thần xức dầu và sai đi "rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng", như bài Phúc Âm Thứ Hai tuần trước cho thấy, mà Người cần phải hoàn thành sứ vụ của Người cho tới cùng, dù họ là ai và như thế nào. Họ càng bị hụt hẫng càng cần phải được Người bù đắp cho, như Tông Đồ Phaolô trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cho thấy ngài thực sự là phản ảnh một Chúa Kitô, Đấng "tiềm ẩn mọi kho tàng khôn ngoan và thông hiểu", Đấng chỉ sống vì chiên và cho chiên để chiên được sự sống.
 
 
"Anh em thân mến, hiện nay tôi vui sướng trong những đau khổ tôi phải chịu vì anh em. Tôi bổ khuyết nơi thân xác tôi những gì còn thiếu sót trong cuộc thương khó của Ðức Kitô, để Hội thánh là thân xác của Người được nhờ.... Tôi loan báo Người, cảnh tỉnh mọi người, đem tất cả khôn ngoan mà dạy dỗ mọi người, để làm cho mọi người nên hoàn hảo trong Ðức Giêsu Kitô. Chính vì lẽ đó, tôi khó nhọc chiến đấu nhờ vào năng lực mà Người hành động mạnh mẽ trong tôi".
 
 
Trong câu nói này của Thánh Phaolô, chúng ta có thể thắc mắc tại sao công nghiệp của Chúa Kitô đã trọn hảo và hoàn tất, không còn cần thêm gì nữa, vì chỉ có Người là Đấng Cứu Thế duy nhất, nhưng tại sao Vị Tông Đồ Dân Ngoại này lại dám nói rằng: "Tôi bổ khuyết nơi thân xác tôi những gì còn thiếu sót trong cuộc thương khó của Ðức Kitô để Hội thánh là thân xác của Người được nhờ"? Nếu thế thì chẳng lẽ công ơn cứu chuộc của Người chưa trọn hay sao, đến độ cần con người bất toàn và bất xứng chúng ta bổ khuyết và bù đắp mới trọn vẹn?
 
 
Đúng thế, công ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, nhờ cuộc thương khó của Người, tự nó đã trọn vẹn và đầy đủ để chẳng những cứu chuộc thế giới này mà còn cả trăm triệu thế giới như thế này nữa. Nhờ công ơn cứu chuộc của Người và từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người Giáo Hội đã xuất hiện, một Giáo Hội tự bản chất thánh hảo vì được Người tự hiến để Giáo Hội được thánh hóa trong chân lý (xem Gioan 17:19). Tuy nhiên, Giáo Hội ôm ấp trong lòng mình đoàn con cái tội lỗi nên Giáo Hội vẫn luôn ở trong tiến trình cải tiến. 
 
 

Nơi Nhiệm Thể Giáo Hội vẫn có những phần tử bất toàn, làm cho Nhiệm Thể Chúa Kitô tự bản chất thánh hảo đã trở thành khiếm khuyết lỗi lầm, cần phải được bù đắp bởi những tâm hồn được Chúa chiếm đoạt, thánh thiện, như Thánh Phaolô trong Bài Đọc 1 hôm nay, và các thánh nhân trong lịch sử Giáo Hội, được Chúa sống trong họ, nhờ đó họ có thể chịu đựng tất cả những gì gây ra bởi hậu quả bất toàn ấy, như thể chính Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục sứ vụ cứu độ của Người qua thành phần được hiệp nhất nên một với Người ấy, bằng đau khổ họ chịu gây ra bởi tội lỗi của các linh hồn đáng thương.

 

 
Đức nhẫn nại của Chúa Giêsu cũng bù đắp cho tình trạng mù quáng cứng lòng của thành phần thày dạy trong dân Do Thái là luật sĩ và biệt phái. Bởi thế, Bài Đáp Ca hôm nay đã kêu gọi  "hãy trông cậy Người luôn mọi lúc" như sau:
 

1) Duy nơi Thiên Chúa, hỡi linh hồn tôi, hãy an vui, vì do chính Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến luỹ của tôi, tôi sẽ không hề nao núng.

 

2) Hỡi dân tộc, hãy trông cậy Người luôn mọi lúc; hãy đổ dốc niềm tâm sự trước nhan Người, vì Thiên Chúa là nơi ta nương náu.

 

 

 

Thứ Ba

 

sự sống thăng trầm

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Cl 2, 6-15

Ðáp Ca: Tv 145, 1b-2,8-9,10-11

Phúc Âm: Lc 6, 20-26

 

 

Theo Phúc Âm của Thánh ký Luca từ Thứ Hai đầu Tuần XXII Thường Niên tới nay, thì sau khi đụng độ với dân làng của Người ngay lần Người vừa xuất đầu lộ diện (trong bài Phúc Âm Thứ Hai tuần trước), sau khi kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên (trong bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước), và sau 4 lần đụng độ với thành phần luật sĩ với biệt phái (theo các bài Phúc Âm Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy tuần trước và Thứ Hai tuần này), hôm nay, Thứ Ba Tuần XXIII Thường Niên, bài Phúc Âm Thánh Luca mới thuật lại biến cố Chúa Giêsu tuyển chọn 12 tông đồ, thành phần, như sẽ thấy ở các bài Phúc Âm ngay sau đó trong tuần này, sẽ đặc biệt được Người huấn luyện để các vị xứng đáng trở nên thành phần chứng nhân tiên khởi của Người và là nền tảng của Giáo Hội sẽ được Người thiết lập. 
 
 
Chính vì tính cách quan trọng của công cuộc tuyển chọn này mà Phúc Âm đã thuật lại rằng: "Đức Giêsu đi lên núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ". 
 
 
Chỉ có 12 tông đồ mà Chúa Giêsu Con Thiên Chúa hằng sống đã phải thâu đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa là Cha của Người cũng chính là Đấng sai Người. Chắc bấy giờ Chúa Giêsu chưa có hay chưa đủ 72 môn đệ. Nhưng con số môn đệ theo Người bấy giờ chắc cũng phải trên 12 người, trong đó có cả một số không được Người tuyển chọn bấy giờ, chẳng hạn như 2 chàng Giuse và Matthia là những người đã ở với Người ngay từ đầu như các vị khác, trong đó chàng Matthia là vị sau này được chọn thay cho tông đồ Giuđa Íchca (xem Tông Vụ 1:21-26).

 
Như thế, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cùng Thiên Chúa không phải để xem có nên tuyển chọn 12 tông đồ hay chăng, một việc bất khả thiếu theo khuôn mẫu 12 chi tộc Israel trong Cựu Ước như chính Thiên Chúa đã thực hiện, vì Dân Tân Ước được hình thành theo khuôn mẫu của Dân Cựu Ước và Dân Cựu Ước được nên trọn nơi Dân Tân Ước. Danh sách 12 tông đồ được Phúc Âm hôm nay liệt kê như sau: "Đó là ông Simôn mà Người gọi là Phêrô, rồi đến ông Anrê, anh của ông ; sau đó là các ông Giacôbê, Gioan, Philípphê, Batôlômêô, Mátthêu, Tôma, Giacôbê con ông Anphê, Simôn biệt danh là Quá Khích, Giuđa con ông Giacôbê, và Giuđa Ítcariốt, người đã trở thành kẻ phản bội". 
 
 
Chúa Giêsu cầu nguyện trước hết là để hội ý với Cha của Người về những ai trong số thành phần môn đệ của Người bấy giờ xứng đáng trở thành 12 tông đồ trụ cột cho Giáo Hội Người sẽ thiết lập cho đến tận thế. Có thể lúc ấy Người cũng cầu nguyện để lĩnh ý Cha của Người về đường lối huấn luyện thành phần tông đồ nồng cốt này, về sứ vụ chứng nhân thừa sai của các vị trong tương lai, về vai trò quản trị, giảng dạy và thánh hóa của các vị được thừa kế bởi hàng giáo phẩm sau này. 
 
 
Tóm lại, trong đêm nguyện cầu này của mình, Chúa Giêsu có thể đã có một viễn ảnh về riêng Giáo Hội Người sẽ thiết lập để làm bí tích cứu độ cho toàn thể nhân loại. 
 
 
Thế nhưng, sở dĩ "Người đã (phải) thức suốt đêm cầu nguyện", cầu nguyện lâu đến như vậy, phải chăng là vì Người cầu nguyện cho từng người môn đệ sẽ trở thành tông đồ của Người, trong đó đặc biệt có 2 người môn đệ cần đến lời cầu nguyện của Người hơn cả là một môn đệ Simon Phêrô sau này sẽ chối Người 3 lần mà Người vẫn tiếp tục tin tưởng đặt làm thủ lãnh tông đồ đoàn, và một Giuđa Íchca sau này sẽ phản nộp Người. Bấy giờ Người cũng có thể nghĩ đến người môn đệ được Người yêu thương cách riêng là Gioan, nhất là đến một đệ nhất môn đệ hoàn hảo của Người là Mẹ Maria, vị sẽ thay Người chăm sóc các tông đồ sau khi Người về Trời vì Mẹ là Mẹ của Giáo Hội. 
 
 
Ở cuối bài Phúc Âm hôm nay chúng ta còn thấy một hình ảnh đặc biệt khác nữa, liên quan đến chính việc Chúa Giêsu tuyển chọn 12 tông đồ, đó là "Đức Giêsu đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giuđê, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xiđôn đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật". 
 
 
Phần cuối bài Phúc Âm hôm nay quả thực đã cho thấy việc Chúa Giêsu tuyển chọn 12 tông đồ là để cùng Người phục vụ toàn thể nhân loại, ở chỗ: "Đức Giêsu đi xuống cùng với các ông". Và hành động "đi xuống" này chỉ xẩy ra sau hành động đi lên: "Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại" với Người bấy giờ đang ở trên núi cầu nguyện vừa xong. Có nghĩa là các vị môn đệ trở thành tông đồ này phải có một đời sống vươn lên với Người và sống như Người, ở chỗ sống trổi vượt trên trần gian, các vị mới có thể làm chứng cho Người như "ánh sáng thế gian", như "một thành xây trên núi không thể nào khuất được nữa" (Mathêu 5:14).
 
 
Tuy nhiên, địa điểm dừng lại của hành động sau khi đi "lên núi" "Đức Giêsu đi xuống cùng với các ông" đây, như Phúc Âm cho thấy "ở một chỗ đất bằng", chứ không phải ở một thung lũng hay ở đồng bằng hoặc trong sa mạc. Nghĩa là ở một nơi lưng chừng núi, có thể hiểu là ở sườn núi, một tầm mức không cao không thấp, vừa tầm với dân chúng, nhờ đó họ có thể "đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật". 
 
 
Như thế, các tông đồ là thành phần sống đời thăng trầm, trước hết phải lên với Chúa nhưng sau đó phải xuống với dân. Thật vậy, để xứng đáng và đủ khả năng thông truyền Người ra cho thế gian thuộc hạ giới, các vị cần phải lên với Chúa thuộc thượng giới để được hiệp nhất nên một với Người, Đấng cứu độ và biến đổi các vị, theo ý hướng của Thánh Phaolô kêu gọi và nhắn nhủ Kitô hữu Giáo đoàn Colôsê:
 
 
"Vậy như anh em đã nhận Đức Kitô Giêsu làm Chúa, thì hãy tiếp tục sống kết hợp với Người. Anh em hãy bén rễ sâu và xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Kitô Giêsu, hãy dựa vào đức tin mà anh em đã được thụ huấn, và để cho lòng chan chứa niềm tri ân cảm tạ....  Thật vậy, nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể, và trong Người, anh em được sung mãn: Người vốn là đầu mọi quyền lực thần thiêng.... Trong Người, anh em đã được chịu phép cắt bì, không phải phép cắt bì do tay người phàm, nhưng là phép cắt bì của Đức Kitô, có sức lột bỏ con người tội lỗi của anh em.  Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Kitô : Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta".
 
 
Trước tình yêu thương nhưng không vô đối của Thiên Chúa, thành phần môn đệ được tuyển chọn làm tông đồ của chúa Giêsu cũng có thể bày tỏ tâm tình tri ân cảm tạ và chúc tụng ngợi khen Ngài như trong Bài Đáp Ca hôm nay:

 

1- Con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

 

2- Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.

 

3- Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng.

 

Ngày 8/9 - Lễ Sinh Nhật Ðức Trinh Nữ Maria

 

(Trích Thần Đô Huyền Nhiệm)

 

Ngày mồng tám tháng chín, thánh nữ Anna hiểu rằng bà sắp sinh Người Con bà hằng ước nguyện. Bà xấp mình cầu xin Thiên Chúa chúc phúc cho con mình. Lúc đó, Mẹ Maria được Chúa cho xuất thần rất cao cả, không thấy được mình sinh vào trần gian như thế nào. Lúc ra khỏi cơn xuất thần ấy, Mẹ đã thấy mình đẹp đẽ nằm trên tay thân mẫu mình. Thánh nữ Anna được gìn giữ khỏi mọi đau đớn thông thường nơi các bà mẹ sinh con, bà dâng lên Thiên Chúa lời nguyện rằng: "Lạy Đấng Sáng Tạo mọi loài, con xin dâng Chúa người con mà con vừa được lòng lành Chúa ban cho. Con xin cảm tạ Chúa. Xin Chúa định đoạt cho mẹ con con theo ý Chúa. Con xin chúc tụng Chúa muôn đời. Con là một kẻ bất xứng, xin dạy con biết cách nuôi nấng người con của Chúa".

 

Thiên Chúa trả lời trong lòng bà, là bà cứ cư xử như mọi người Mẹ cư xử với con mình, đừng tỏ ra một niềm tôn kính nào bề ngoài, cứ tôn kính trong tâm hồn là đủ. Nhưng phải hết sức cẩn trọng và yêu đương.

 

Các thiên thần hầu cận Mẹ, cùng với vô số thiên thần khác tháp tùng, đến tỏ niềm tôn kính Mẹ. Họ hát lên một khúc ca thiên đàng, rồi bắt đầu phục vụ Mẹ. Lần đầu tiên Mẹ nhìn thấy họ dưới hình người. Mẹ mời họ ca tụng Chúa với Mẹ và nhân danh Mẹ.

 

Đức tổng thiên thần Gabrien được Thiên Chúa sai đến báo cho các thánh ở u ngục biết tin mừng Mẹ sinh ra, một tin mừng làm các ngài hoan hỉ và tri ân vô ngần.

 

Tất cả những sự việc đó qua đi rất mau chóng. Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ Maria nhiều sự việc rất lạ lùng khác nữa. Việc đầu tiên là sai các thiên thần rước Mẹ lên thiên đàng. Các ngài chỉnh đốn hàng ngũ thành một cuộc khải hoàn long trọng, vừa rước Mẹ lên cao vừa ca hát cho tới trước uy nghi Thiên Chúa. Mẹ xấp mình thờ lạy Chúa.

 

Ngôi Lời nâng Mẹ lên, đặt bên hữu mình. Lĩnh nhận nhiều mạc khải mới, tất cả các tài năng của Mẹ tăng triển thêm. Mẹ được nhìn thấy thần tính Thiên Chúa tỏ ra ở một góc độ tuyệt vời. Bừng cháy nhiệt tâm cho danh Chúa cả sáng, Mẹ nái xin Thiên Chúa mau thi hành đơn Nhập Thể để cứu chuộc thế gian. Thiên Chúa đoan quyết với Mẹ là ước nguyện ấy của Mẹ sắp được thực hiện.

 

Sau đó, Thiên Chúa Ba Ngôi tỏ cho các thiên thần biết rằng từ đời đời Ngài đã tác tạo cho Mẹ và cho Ngôi Con danh hiệu Maria và Giêsu. Trong hai danh hiệu đó, Ngài được thỏa lòng hoàn toàn. Rồi Ngài phán: "Danh hiệu Maria phải được hiển vinh lạ thường. Những ai thành thực sốt sắng kêu cầu danh hiệu ấy sẽ được ban nhiều ân sủng. Những ai kính cẩn đọc lên sẽ được ủi an. Mọi người đều tìm được trong danh hiệu ấy phương dược trị liệu bệnh tật mình; được ánh sáng soi đường; được kho tàng cứu giúp sự túng nghèo. Danh hiệu Maria làm run sợ hoả ngục và đạp nát đầu cựu xà Satan".

 

Chính Chúa đặt danh hiệu ấy cho Mẹ. Mẹ đón nhận với những lời ca ngợi lạ lùng. Lúc Thiên Chúa đọc danh hiệu ấy lên, các thiên thần đều phủ phục, bái chào, hát lên thánh ca tán tụng, nhất là những vị mang biểu hiệu danh hiệu ấy càng nhiệt liệt tán tụng hơn. Sau đó, cũng các Thiên Thần đã rước Mẹ lên trời lại rước Mẹ xuống đặt trên tay Thánh Nữ Anna nhưng bà không hề biết gì về sự mẹ vắng mặt. Trong lúc đó, bà được ơn xuất thần, biết được nhiều sự kiện cao cả về chức phẩm Mẹ Thiên Chúa.

 

Tám ngày sau, rất đông thiên thần từ trời xuống, mang theo một biểu ngữ sáng láng, ghi danh hiệu Maria. Họ nói với Thánh Nữ Anna phải mau kíp đặt tên ấy cho Con bà. Bà đi nói với Thánh Gioan Kim. Ông bà liền tổ chức một bữa tiệc thịnh soạn, mời bà con thân thuộc và một tư tế đến dự. Trong niềm trịnh trọng hân hoan, ông bà đặt tên rất dịu dàng Maria cho Con Rất Thánh của mình. Các thiên thần lại tấu lên một khúc nhạc tuyệt vời, chỉ có hai mẹ con bà Anna được thưởng thức. Hạnh phúc cho trái đất biết bao, vì đã có Mẹ Đấng Cứu Chuộc.

 

Lời Mẹ nhắn nhủ:

 

Con hay gắng noi gương Mẹ trong việc Mẹ đã làm suốt đời Mẹ từ khi Mẹ sinh ra. Lúc ngày mới bắt đầu, Mẹ sấp mình dưới chân Chúa, ca tụng Chúa vì những ưu phẩm vô cùng của Ngài, rồi nhìn nhận chủ quyền tuyệt đối của Ngài trên vạn vật. Mẹ cũng cảm tạ Chúa vì Ngài đã kéo Mẹ ra khỏi hư vô. Mẹ hoàn toàn phó thác dâng mình cho Ngài, để Ngài định đoạt về Mẹ tùy ý Ngài muốn trong ngày, cũng như trong suốt cuộc sống của Mẹ. Mẹ cầu xin Ngài cho Mẹ biết được những gì đẹp lòng Ngài để Mẹ chu toàn. Mẹ xin Ngài hướng dẫn, ban phép lành và chúc phúc cho hết mọi việc Mẹ làm. Mẹ còn nhắc đi nhắc lại những hành vi đó nhiều lần trong ngày.

 

 

Càng thực tâm nhiệt thành tôn kính danh hiệu rất dịu ngọt của Mẹ, con càng đi trên đường của Mẹ. Con nên biết rằng Thiên Chúa đã ban cho Danh Hiệu ấy không biết bao nhiêu là ân sủng và đặc ân. Mẹ không thể nghĩ đến hay nghe đọc đến Danh Hiệu ấy mà lại không dâng lời cảm tạ Chúa. Cho nên Mẹ quyết định làm những việc cả thể cho Chúa là Đấng đã ban cho Mẹ Danh Hiệu quí báu ấy.

 

 

 

 

Thứ Tư

 

sự sống mâu thuẫn

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Cl 3, 1-11

Ðáp Ca: Tv 144, 2-3. 10-11. 12-13ab

Phúc Âm: Lc 6, 12-19

 
 
Từ hôm nay, Thứ Tư Tuần XXIII Thường Niên, cho đến hết Thứ Bảy tuần này, Giáo Hội chọn đọc đoạn 6 của Phúc Âm Thánh ký Luca, đoạn về Bài Giảng Sống Thương Xót của Chúa Giêsu, nhưng chỉ có gần 1 đoạn 6 ngắn gọn hơn của Thánh ký Mathêu (dài tới 3 đoạn, từ đầu đoạn 5 đến hết đoạn 7). 
 
 
Tuy nhiên, nội dung của cả hai Phúc Âm cũng giống nhau, ở chỗ: 1- Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Người hơn là dạy chung dân chúng, và ở chỗ: 2- Chúa Giêsu muốn cho thành phần môn đệ của Người, nhất là các tông đồ, phải "nên trọn lành như Cha của các con ở trên trời là Đấng trọn lành" (Mathêu 5:48), tức là phải biết "cảm thương như Cha của các con là Đấng thương xót" (Luca 6:36). 
 
 
Thật vậy, bài giảng trọn lành (theo Thánh Mathêu) cũng là bài giảng thương xót (theo Thánh Luca), được Chúa Giêsu giảng dạy cho riêng các môn đệ của Người hơn là cho chung dân chúng. Bởi thế, trong bài Phúc Âm hôm nay, ngay mở đầu, Thánh ký Luca đã viết một chi tiết rất quan trọng như sau: "Khi ấy, Chúa Giêsu đưa mắt nhìn các môn đệ và nói". 
 
 
Người đã nói những gì? Trong bài Phúc Âm theo Thánh ký Luca hôm nay, trước hết, Chúa Giêsu đã nói về bốn điều lành được Người khẳng định là "phúc", cho dù trái với lý lẽ tự nhiên, và bốn cái dữ mà Người xác quyết là "khốn", bất chấp bản chất tốt lợi của chúng, trong khi đó ở Phúc Âm Thánh ký Mathêu (đầu đoạn 5) chỉ có 8 Mối Phúc Thật, hoàn toàn không có 4 sự dữ tiêu cực như trong Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay.
 
 
Trước hết là bốn điều lành được Người khẳng định là "phúc":
 
 
"Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của các ngươi. Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đói khát, vì các ngươi sẽ được no đầy. Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ phải khóc lóc, vì các ngươi sẽ được vui cười. Phúc cho các ngươi, nếu vì Con Người mà  các ngươi bị người ta thù ghét, trục xuất và phỉ báng, và loại trừ như kẻ bất lương, ngày ấy các ngươi hãy hân hoan và reo mừng, vì như thế, phần thưởng các ngươi sẽ bội hậu trên trời. Chính cha ông họ cũng đã đối xử với các tiên tri y như thế".
 
 
Sau nữa là bốn cái dữ mà Người xác quyết là "khốn":
 

"Nhưng khốn cho các ngươi là kẻ giàu có, vì các ngươi hiện đã được phần an ủi rồi. Khốn cho các ngươi là kẻ đã được đầy đủ no nê, vì các ngươi sẽ phải đói khát. Khốn cho các ngươi là kẻ hiện đang vui cười, vì các ngươi sẽ ưu sầu khóc lóc. Khốn cho các ngươi khi các ngươi được mọi người ca tụng, vì chính cha ông họ cũng từng đối xử như vậy với các tiên tri giả".

 

Chúng ta thấy cái tương phản hoàn toàn với nhau một cách nẩy lửa giữa 4 điều lành và 4 cái dữ trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, thứ tự như sau: 

 

1- "Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó" >< "Khốn cho các ngươi là kẻ giàu có";

 

2- "Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đói khát" >< "Khốn cho các ngươi là kẻ đã được đầy đủ no nê";

 

3- "Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ phải khóc lóc" >< "Khốn cho các ngươi là kẻ hiện đang vui cười";

 

4- "Phúc cho các ngươi, nếu vì Con Người các ngươi b người ta thù ghéttrục xuất và phỉ bángvà loại trừ như kẻ bất lương" >< "Khốn cho các ngươi khi các ngươi được mọi người ca tụng".

 

Thật ra, 4 cái Người gọi là "khốn" này, tự bản chất của chúng, không có gì là xấu, nhưng nếu con người vốn thiên về tự nhiên và hưởng thụ chúng có thể trở thành "dịp tội" nơi họ và cho họ, khiến họ, nhất là thành phần theo Chúa, thành phần sống trọn lành hơn, thành phần chứng nhân của Người, bị hòa đồng với thế gian và biến mất trong thế gian, đến độ có thể trở thành phản chứng Kitô giáo, thành những tiên tri giả hay kitô giả, như vẫn thấy xẩy ra trong lịch sử Giáo Hội, đặc biệt là trong thời đại mà nhiều người cho là tận thế đến nơi rồi đây. 

 

Một điển hình có thể áp dụng một cách cụ thể vào cái "khốn" cho những ai "no nê" đó là những ai thích thưởng thức loại bữa ăn "all you can eat / ăn tha hồ mặc sức". Thật vậy, để có thể "ăn thả dàn, ăn mặc sức" những gì mình thích, nhiều món mình thích mà giá cũng không mắc lắm hay cũng đáng, người ta, trước hết phải nhịn ăn trước đó để có sức mà thưởng thức tối đa. Cái đói trước bữa ăn này đã là một cái "khốn" đầu tiên. Thế rồi, cái đói trong bữa ăn kiểu này nữa, đó là một khi ăn món này nhiều thì các món còn lại cũng ngon không thể ăn nhiều được nữa, tiếc tiền, đó là cái "khốn" thứ hai. Cái "khốn" thứ ba đó là sau khi ăn xong cái bụng sao mà nó nặng nề khó chịu quá sức. Chưa hết, cái "khốn" cuối cùng và là cái "khốn" nguy hiểm nhất đó là bị cao mỡ, vì đã ăn quá nhiều tôm hùm hay cua là những hải sản mắc tiền hiếm quí.

 

Trái lại, cũng thế, 4 điều được Chúa Giêsu gọi là "phúc" đây, tự bản chất của chúng, quả thực là dữ, là xấu, là bất lợi, khiến con người bản tính vốn vướng mắc nguyên tội cảm thấy bất hạnh, nên họ bao giờ cũng hoàn toàn muốn tránh né hay được giải thoát. Thế nhưng, với thành phần sống đức tin và vượt thoát, sống gần với Đấng đã đến để phục vụ hơn hưởng thụ (xem Mathêu 20:28), sống chứng nhân cho Đấng đã sống thân phận mục nát của hạt lúa miến trong lòng đất (xem Gioan 12:24), thì những cái bất hạnh ấy lại trở thành phương tiện siêu thoát của họ và cứu độ trần gian.

 

Chính vì bản chất xu hướng về hạ giới và tội lỗi, những gì có thể tác động con người mù quáng và yếu đuối biến lành thành dữ, theo ý nghĩa của 4 cái dữ ở Bài Phúc Âm hôm nay, mà trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã khuyên Kitô hữu Thành Côlôsê rằng:

 

"Anh em hãy kiềm chế các chi thể anh em, tức là những điều trần tục: là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là sự thờ phượng thần tượng. Vì những tội ấy mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống trên những người con phản nghịch. Xưa kia anh em cũng đã sống trong những tội ấy, khi anh em sống trong những thói hư nết xấu đó. Nhưng bây giờ, anh em hãy loại bỏ tất cả những điều đó, là sự giận dữ, phẫn nộ, độc ác, phạm thượng, và lời tục tĩu bởi miệng anh em. Anh em chớ nói dối với nhau; anh em hãy lột bỏ người cũ cùng các việc làm của nó, và mặc lấy người mới, con người được đổi mới theo hình ảnh của Ðấng đã tạo thành nó..."

 

"Mặc lấy người mới" như Thánh Phaolô nói ở câu cuối trên đây như thế nào, nếu không phải như ngài cũng đã nói ở đoạn đầu của bài Đọc 1 hôm nay, một con người mới có thể sống 4 điều được Chúa Giêsu khẳng định là "phúc" trong bài Phúc Âm hôm nay, bởi vì họ: "đã sống lại với Ðức Kitô" và "sự sống (của họ) được ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa", nên họ chỉ "tìm kiếm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa", chỉ "nghĩ đến những sự trên trời", cho dù những điều ấy đối với thế gian là bất hạnh, như 4 phúc trong bài Phúc Âm hôm nay, không phải là "những sự dưới đất", cho dù những sự dưới đất này may lành theo trần gian nhưng nguy hiểm cho phần rỗi.

 

Bài Đáp Ca hôm nay là tâm tình của thành phần môn đệ Chúa Kitô, thành phần cảm nhận được đâu là những "phúc hạnh" và đâu là những "khốn nạn", đúng như những gì Chúa Giêsu huấn dụ trong Bài Phúc Âm hôm nay, cũng là thành phần sống con người mới trong Chúa Kitô ở Bài Đọc 1 hôm nay. 

 

1) Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, sự vĩ đại của Chúa không thể đo lường được. 

 

2) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài. 

 

3) Ðể con cái loài người nhận biết quyền năng và vinh quang cao cả nước Chúa. Nước Ngài là nước vĩnh cửu muôn đời; chủ quyền Ngài tồn tại qua muôn thế hệ. 

 

Ngày 9/9 - Thánh Phêrô Claver, linh mục

 

Thánh Phêrô Claver sinh năm 1580 tại Verdu, nước Tây Ban Nha, trong một gia đình nghèo. Nhờ một ân nhân, ngài được đi học. Năm 16 tuổi, ngài học văn chương và triết lý tại Barcelona. Năm 22 tuổi, ngài gia nhập Dòng Tên tại Tarragona. Năm 24 tuổi, ngài được gởi đến học viện Montesion của Dòng tại thành phố Palma, trên đảo Mallorca ở Địa Trung Hải. Tại đây, Tại đây, học viên trẻ Phêrô Claver kết thân với tu huynh gác cổng là thánh Anphong Rodriguez. Vị tu huynh thánh thiện đã thấy được khao khát cháy bỏng muốn phục vụ Chúa Kitô và những người nghèo khổ nơi học viên này, nên đã khuyến khích anh đi truyền giáo ở Nam Mỹ.

 

Sau khi hoàn tất chương trình thần học tại Barcelona, Phêrô Claver được bề trên cho phép đi Nam Mỹ. Năm 1610, ngài đến Cartagena, thường được gọi là chợ nô lệ, miền bắc nước Colombia, để sống và chết với người da đen bị bán làm nô lệ. Sau khi thụ phong linh mục, ngài làm Năm Tập Ba, rồi khấn lần cuối với lời khấn phụ suốt đời làm nô lệ cho người da đen: “TÔI PHÊRÔ CLAVER, MÃI MÃI LÀ NÔ LỆ CỦA NHỮNG NGƯỜI ETHIÔPI”.

 

Thời ấy, người Châu âu da trắng thường đến Châu Phi dùng vũ lực bắt người da đen dồn xuống tàu đem qua Châu Mỹ bán cho các chủ đồn điền. Được tin một chiếc tàu nô lệ sắp đến, ngài chờ sẵn ở cảng. Tàu vừa cập bến, ngài xuống giúp đỡ những người đau yếu, bệnh tật, thiếu ăn, thiếu mặc… Tiếp đến, ngài ở bên cạnh họ khi họ bị dồn vào những khu tập trung và bị đem bán như súc vật. Rồi khi họ đã được ông chủ nào đó mua về làm nô lệ, ngài thăm viếng, bênh vực khi họ bị đối xử bất công. Ngài kiên trì trong công việc bác ái này suốt 40 năm trời, cho đến khi ngài bệnh tật và qua đời ngày 8.9.1654. Ngài rửa tội cho khoảng 100 ngàn người, phần lớn trong số họ là người da đen. Ngài được gọi là Thiên sứ hòa bình của thành phố Cartagena.

 

Với lòng yêu mến và ao ước phục vụ Chúa Giêsu và các linh hồn, cha Phêrô Claver luôn tâm niệm bốn nguyên tắc: Nỗ lực tìm kiếm và nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi sự, hoàn toàn tuân phục bề trên, làm mọi sự cho vinh danh Thiên Chúa hơn và nỗ lực bằng mọi giá để giúp cho các linh hồn được ơn cứu độ. Cha cũng luôn tự nhắc mình và các bạn của cha rằng: “Chúng ta phải nói với họ bằng đôi tay trước khi nói với họ bằng miệng lưỡi của chúng ta.”

 

Ngài được Đức Thánh Cha Lêô XIII tuyên thánh năm 1888 và được Hội Thánh biểu dương như một Phanxicô Xavier của người da đen. Ngài được đặt làm quan thầy các xứ truyền giáo cho người Châu Phi; ngài còn là quan thầy cho xứ Colombia.

http://dongten.net/noidung/14806

 

 

Thứ Năm

 

sự sống cảm thương

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Cl 3, 12-17

Ðáp Ca: Tv 150, 1-2. 3-4. 5-6

Phúc Âm: Lc 6, 27-38

 

 

Tiếp tục đề tài sống trọn lành hay sống cảm thương với các môn đệ, nhất là với thành phần 12 vị vừa được tuyển chọn làm tông đồ của mình, Chúa Giêsu đã đi thẳng và đi ngay vào những gì chính yếu nhất và thiết yếu nhất Người muốn nói với các vị và muốn các vị sống như vậy.

 

Thật thế, ngay sau khi mở màn như một dạo khúc cho bài huấn dụ trọn lành cũng là bài huấn dụ về lòng cảm thương này, một dạo khúc bao gồm 4 "phúc" hạnh và 4 "khốn" nạn tương phản nhau, một dạo khúc đã được Chúa Giêsu tài tình hòa âm cho hai bè hát xung khắc nhau, nhưng một khi trình diễn với tất cả hồn sống của mình thì chính ca sĩ mới cảm thấy thấm thía hơn bao giờ hết, nhất là khi hát đến các phiên khúc chính yếu và các kết thúc của bản thánh ca thương xót huyền diệu siêu vời này.

 

Bản Thánh Ca Thương Xót này, mà điệp khúc là phần hòa âm hai bè "phúc/khốn" đầy tính chất giằng co nhức nhối, có tất cả 2 phiên khúc và 2 đoạn kết thứ tự được liệt kê như sau:

 

Bài Thánh Ca Thương Xót - Phiên khúc thứ nhất:

 

"Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình. Ai vả con má bên này, thì đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của con, thì con cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì con hãy cho, và ai lấy gì của con, thì đừng đòi lại".

 

Bài Thánh Ca Thương Xót - Phiên khúc thứ hai:

 

"Các con muốn người ta làm điều gì cho các con, thì hãy làm cho người ta như vậy. Nếu các con yêu những kẻ yêu các con, thì còn ân nghĩa gì nữa? Vì cả những người tội lỗi cũng yêu những ai yêu họ. Và nếu các con làm ơn cho những kẻ làm ơn cho các con, thì còn ân nghĩa gì? Cả những người tội lỗi cũng làm như vậy. Và nếu các con cho ai vay mượn mà trông người ta trả lại, thì còn ân nghĩa gì? Cả những người tội lỗi cũng cho những kẻ tội lỗi vay mượn để rồi được trả lại sòng phẳng".

 

Bài Thánh Ca Thương Xót - Đoạn tạm kết:

 

"Vậy các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mượn mà không trông báo đền. Phần thưởng của các con bấy giờ sẽ lớn lao, và các con sẽ là con cái Ðấng Tối Cao, vì Người nhân hậu với những kẻ bội bạc và những kẻ gian ác".

 

Bài Thánh Ca Thương Xót - Đoạn tận kết:

 

"Vậy các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ. Ðừng xét đoán, thì các con sẽ khỏi bị xét đoán; đừng kết án, thì các con khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được thứ tha. Hãy ban tặng, thì các con sẽ tặng lại; người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong đấu nào, thì cũng sẽ được đong trả lại bằng đấu ấy".

 

Tất cả nội dung và ý nghĩa của bản Thánh Ca Thương Xót này, tức là tột đỉnh của bản Thánh Cha Trọn Lành này đều được cô đọng ở chung đoạn tổng kết và ở riêng câu đầu của đoạn tổng kết ấy, đó là: "các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ". Mà "nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ" ở chỗ nào, nếu không phải, cũng trong đoạn tổng kết, ở 4 thái độ thứ tự là: 1- "Ðừng xét đoán", 2- "Ðừng kết án", 3- "Hãy tha thứ" và 4- "Hãy ban tặng".

 

Trong 4 thái độ để phản ảnh lòng nhân từ của Cha trên trời xót thương nhân loại vừa được tóm kết trên đây, có 2 thái độ mang tính cách tránh những gì là tiêu cực: 1- "Ðừng xét đoán", 2- "Ðừng kết án", và 2 thái độ có tính cách thực hiện những gì là tích cực: 3- "Hãy tha thứ"  4- "Hãy ban tặng".

 

1- "Ðừng xét đoán" và 2- "Ðừng kết án": bởi vì, "Thiên Chúa không sai Con Ngài đến thế gian để luận án thế gian nhưng là để thế gian nhờ Người mà được cứu độ" (Gioan 3:16). Bởi vậy, những ai muốn "thương xót như Cha thương xót", nhất là thành phần môn đệ của Chúa Kitô được Người tuyển chọn làm chứng nhân cho Người, cũng "đừng xét đoán" và "đừng kết án".  

 

3- "Hãy tha thứ"  4- "Hãy ban tặng": bởi vì, "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến ban Người Con duy nhất của Ngài, để ai tin vào Người thì không phải chết ("tha th") nhưng được sự sống đời đời ("ban tặng")" (Gioan 3:16). Bởi vậy, những ai muốn "thương xót như Cha thương xót", nhất là thành phần môn đệ của Chúa Kitô được Người tuyển chọn làm chứng nhân cho Người, cũng "hãy tha thứ" và "hãy ban tặng", ở chỗ vừa "tha thứ" vừa "ban tặng" đúng như phiên khúc 1 đã khuyên dạy: "(Tha Thứ) - Ai vả con má bên này, thì đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của con, thì con cũng đừng cản nó lấy áo trong. (Ban Tặng) - Ai xin, thì con hãy cho, và ai lấy gì của con, thì đừng đòi lại".

 

Một trong những ca sĩ kiêm ca trưởng có thể nói là thông thuộc bản Thánh Ca Thương Xót này hơn ai hết là Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, vị mà trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, đã tập cho Kitô hữu Giáo đoàn Côlôsê hát thật hay bản nhạc tuyệt vời thiết yếu bất khả thiếu đối với thành phần mang danh môn đệ Chúa Kitô này như sau:

 

"Anh em thân mến, như những người được chọn của Thiên Chúa, những người thánh thiện và được yêu thương, anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hoà, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau, và hãy tha thứ cho nhau, nếu người này có chuyện phải oán trách người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Và trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện".

 

Chỉ có những tâm hồn nào có lòng thương xót như Cha trên trời là Đấng xót thương mới không bị hận thù ghen ghét đố kỵ chi phối, trái lại, lúc nào lòng cũng bình an và tràn đầy niềm vui để nhờ đó có thể mang hạnh phúc đến cho tất cả mọi người, nhất là những ai đáng thương, và chỉ có những tâm hồn ấy mới chất chứa những tâm tình hoan lạc của Bài Đáp Ca hôm nay.

 

1) Hãy ngợi khen Chúa trong thánh đài của Chúa, ngợi khen Chúa nơi thanh không cao cả của Người. Hãy ngợi khen Người vì những kỳ công vĩ đại, ngợi khen Người bởi sự Người tuyệt đối oai nghiêm. 

 

2) Hãy ngợi khen Chúa với tiếng kèn rầm rộ, ngợi khen Người với cây đàn sắt, đàn cầm, hãy ngợi khen Người với trống rung và ca vũ, ngợi khen Người với tơ đàn, với ống tiêu. 

 

3) Hãy ngợi khen Người với âm vang não bạt, ngợi khen Người với tiếng rền rĩ mã-la. Phàm vật chi có hơi thở, hãy ngợi khen Thiên Chúa. 

 

 

Thứ Sáu

 

sự sống mù quáng

 

Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tm 1, 1-2. 12-14

Ðáp Ca: Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 11

Phúc Âm: Lc 6, 39-42

 

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần XXIII Thường Niên, Thánh ký Luca tiếp tục thuật lại Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Người về lòng "cảm thương như Cha thương xót", mô phạm tối cao của chung nhân loại, của riêng thành phần con cái của Cha trên trời và nhất là của thành phần môn đệ Chúa Kitô, thành phần tông đồ làm chứng cho Chúa Kitô.

 

Ý tưởng chính trong bài Phúc Âm hôm nay đó là câu Chúa Giêsu nói ở ngay đầu: "Người mù có thể dẫn người mù được chăng? Cả hai lại không sa xuống hố ư?" Ngay sau câu này, Chúa Giêsu còn thêm một câu nữa, đó là: "Môn đệ không trọng hơn Thầy; nếu môn đệ được giống như Thầy, thì kể là hoàn hảo rồi", như thế có nghĩa là gì, câu trước và câu sau có liên hệ gì với nhau chăng? 

 

Tất nhiên một khi Chúa Giêsu đã nói là phải có ý nghĩa của nó, phải có lý của nó. Phải chăng ở đây Người có ý nói rằng người mù không thể nào dẫn người mù được, chắc chắn cả hai sẽ lọt xuống hố mà thôi? 

 

Bởi vậy, con người cần phải học hỏi bởi những người khôn ngoan hơn, cần được họ dẫn dắt như là những bậc sư phụ của mình, đặc biệt là Chúa Giêsu, một Đại Sư đệ nhất thiên hạ, là chính "chân lý" (Gioan 14:6), thì mới có thể tránh được lầm lỗi, thất bại, và nếu con người làm trò tỏ ra biết dễ dạy lắng nghe tuân thủ những gì được các bậc sư phụ khôn ngoan hướng dẫn thì con người mới có thể đạt tới chỗ khôn ngoan "hoàn hảo" như bậc thày của mình.

 

Một trong những trường hợp hay khuynh hướng chứng thực con người vốn sống mù quáng, đó là con người không "tri kỷ tri bỉ", không biết mình biết người, như Chúa Giêsu đã nêu lên trong bài Phúc Âm hôm nay:

 

"Sao ngươi nhìn cái rác trong mắt anh em, còn cái đà trong chính mắt ngươi thì lại không thấy? Sao ngươi có thể nói với người anh em: 'Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh', trong khi chính ngươi không nhìn thấy cái đà trong mắt ngươi. Hỡi kẻ giả hình, hãy lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi bấy giờ ngươi sẽ trông rõ để lấy cái rác khỏi mắt anh em ngươi".

 

Thật thế, theo tâm lý tự nhiên, thường ai cũng cho mình là hay là tốt, hiếm người hay ít người tự nhận mình là kém tài kém đức thua nhiều người khác. Thậm chí miệng nói tôi tài hèn sức mọn, ấy thế mà không được trọng dụng thì bất mãn, hay thấy ai nổi hơn mình thì chọc phá tìm cách hạ bệ. Hoặc bị phê bình hay chê trách là choảng lại liền, hay đổ lỗi cho người khác hoặc cho hoàn cảnh, vì lý do kỹ thuật v.v. 

 

Với tâm tính đầy tự cao tự đại và nặng tự ái như thế, con người tự nhiên chẳng những tìm cách bênh vực mình bao nhiêu có thể trong mọi sự, không muốn bị ai dò xét, không muốn bị người nào bình phẩm hay đụng chạm tới, ngược lại, họ cứ thích pha mình vào cuộc đời của người khác, ở chỗ xét đoán người khác, thường là xét đoán xấu hơn là xét đoán tốt, thậm chí còn tự suy diễn và kết tội người khác, chẳng những trong lòng của họ mà còn công khai trước cộng đồng của họ nữa. 

 

Nếu người ta đeo kính râm thì nhìn mọi sự mờ mờ hơn là sáng tỏ thế nào, thì bản chất con người vốn hướng hạ và hướng xấu, nhất là dễ tin những điều xấu hơn điều tốt, họ sẽ thấy anh chị em của mình một cách thiển cận, không rõ ràng, thậm chí còn có khuynh hướng suy bụng ta ra bụng người nữa - mình xấu thì không ai được tốt hơn. Đó là lý do nguyên tắc và đường lối sáng suốt khôn ngoan mà Vị Đại Sư dạy trong bài Phúc Âm hôm nay cần phải được áp dụng: "hãy lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi bấy giờ ngươi sẽ trông rõ để lấy cái rác khỏi mắt anh em ngươi".

 

Chính vì con người rất khó bỏ tật xét đoán tha nhân một cách thiển cận và ngặt nghèo mà, theo tu đức, vì lòng nhân từ của mình, muốn cho một tâm hồn nào đó biết mình, nhờ đó họ không dám khinh người nào nữa, Cha trên trời hay sử dụng chiêu "các con lấy đấu nào mà đong cho ai thì sẽ bị đong lại cho đấu ấy" (Mathêu 7:2). Cái đấu ấy cũng có thể là chính lòng thương xót: "Ai có lòng xót thương ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thương xót vậy" (Mathêu 5:7).

 

Cha trên trời hay sử dụng chiêu "các con lấy đấu nào mà đong cho ai thì sẽ bị đong lại cho đấu ấy" (Mathêu 7:2) bằng cách để cho người xét đoán xấu cho anh chị em mình bị người khác xét đoán xấu y như vậy hay hơn vậy nữa. Nếu nạn nhân bị người khác đong trả cho đấu mà họ đong cho người khác, bấy giờ, tâm hồn thiện chí thấy được Thiên Chúa thật tốt lành, đã sử dụng chính những xét đoán xấu của người khác để làm cho họ mở mắt ra không dám xét đoán xấu cho ai nữa, trái lại, hoàn toàn thông cảm với mọi người hơn trước, không dám khinh thường một ai. 

 

Một nhân vật đã là thày dạy đức tin cho muôn dân là Tông Đồ Phaolô, trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, đã bày tỏ bản thân mình hay đã tự thú với người môn đệ Timothêu của mình, về một quá khứ lỗi lầm đáng thương của ngài, như thể ngài muốn "lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước": "trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đã được Thiên Chúa thương xót, vì cha vô tình làm những sự ấy trong lúc cha chưa tin"

 

Cái đà trong con mắt của Vị Tông Đồ Dân Ngoại này không phải chỉ ở chỗ tự thú cái quá khứ lỗi lầm vô tình của mình, mà nhất là còn tự thú rằng nhờ ân sủng và tình thương của Thiên Chúa ngài mới được như vậy, chứ không phải do tự sức của ngài: "Cha cảm tạ Ðấng đã ban sức mạnh cho cha, là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta", và cho dù ngài sống một quá khứ lỗi lầm như vậy "nhưng ân sủng của Chúa chúng ta đã tràn lan dồi dào, cùng với đức tin và đức mến, trong Ðức Giêsu Kitô".

 

Tâm tình nhận biết bản thân lầm lỡ của mình trước ơn Chúa ban của Thánh Phaolô trong Bài Đọc 1 hôm nay được phản ảnh trong Bài Đáp Ca hôm nay:  

 

1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa; con thưa cùng Chúa: "Ngài là Chúa tể con, Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con". 

 

2) Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. 

 

3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời!  

 

 

Thứ Bảy

 

sự sống chân móng

 

 
Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tm 1, 15-17
Ðáp Ca: Tv 112, 1-2. 3-4. 5a và 6-7
Phúc Âm: Lc 6, 43-49
 

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Bảy Tuần XXIII Thường Niên, là phần kết của những lời Chúa Giêsu huấn dụ các môn đệ của Người về đời sống trọn lành bằng Lòng Thương Xót như Cha trên trời, cho dù bài Phúc Âm hôm nay không trực tiếp đến chủ đề chính yếu ấy. Tuy nhiên, không phải vì bài Phúc Âm hôm nay không trực tiếp đến chủ đề chính yếu ấy mà Chúa Giêsu không nói đến như một phần bất khả thiếu của tất cả những gì Người muốn huấn dụ thành phần môn đệ của Người, bằng không, bài huấn dụ quan trọng này có thể sẽ trở thành vô bổ. 

 

Chủ ý Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở trong bài Phúc Âm hôm nay đó là hãy đem những gì Người truyền dạy ra thực hành chứ đừng nghe xuông thì chẳng bổ ích chi: "Tại sao các con gọi Thầy: 'Lạy Chúa, lạy Chúa', mà các con không thi hành điều Thầy dạy bảo? Ai đến cùng Thầy, thì nghe lời Thầy và đem ra thực hành". 

 

Qua câu vừa có tính cách chất vấn (khúc đầu) vừa có tính cách khẳng định (khúc cuối) này, Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ vừa nghe xong chủ đề sống lòng thương xót như Cha trên trời rằng: nếu các con coi Thày là Thày của các con thì các con hãy thi hành những gì Thày đã truyền dạy cho các con, như thế các con mới chứng tỏ các con quả thực là môn đệ của Thày và thật sự muốn theo Thày.

 

Không biết khi nói câu này, Chúa Giêsu có nghĩ đến một trong thành phần 12 tông đồ được Người tuyển chọn sau cả một đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa là Giuđa Íchca hay chăng? Bởi vì, nếu người tông đồ được liệt kê cuối cùng này đem những gì Người truyền dạy ra thực hành thì người tông đồ đáng thương này đã không đi đến chỗ phản nộp Người. 

 

Phải chăng đó là lý do ngay đầu bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã nêu lên nguyên tắc "trong sao ngoài vậy" và đường lối "xem quả biết cây" để thấy được chân tướng của những ai có thực hành lời Người hay chăng và họ để cho lời của Người tác dụng nơi họ hay chăng: 

 

"Không có cây nào tốt mà sinh trái xấu, và cũng không có cây nào xấu mà sinh trái tốt. Thật vậy, cứ xem trái thì biết cây. Người ta không hái trái vả nơi bụi gai, và người ta cũng không hái trái nho nơi cây dâu đất. Người tốt phát ra điều tốt từ kho tàng tốt của lòng mình, và kẻ xấu phát ra điều xấu từ kho tàng xấu của nó, vì lòng đầy thì miệng mới nói ra". 

 

Đường lối xem quả biết cây như thế không phải chỉ liên quan đến thiên nhiên nơi loại thảo mộc mà còn liên quan đến chính vấn đề khôn ngoan và công sức của con người nữa, như trong việc con người có biết xây nhà trên nền tảng vững chắc hay không. Chúa Giêsu đã so sánh thành phần nghe lời của Người mà đem ra thực hành hay không đem ra thực hành như sau:

 

"Người ấy (Người thực hành lời Chúa) giống như người xây nhà: người ấy đào sâu và đặt nền móng trên đá. Khi có trận lụt, dù nước ùa vào nhà, cũng không làm cho nó lay chuyển, vì nhà đó được đặt nền trên đá. Trái lại, kẻ nghe mà không đem ra thực hành, thì giống như người xây nhà ngay trên mặt đất mà không có nền móng. Khi sóng nước ùa vào nhà, nó liền sụp đổ, và nhà đó bị hư hại nặng nề".

 

Nếu ở câu đầu bài Phúc Âm hôm nay, khi nói đến nguyên tắc "trong sao ngoài vậy" và đường lối "xem quả biết cây" có thể Chúa Giêsu đã nghĩ đến tông đồ Giuđa Íchca thế nào, thì trong câu Phúc Âm cuối bài này, Chúa Giêsu cũng có thể đã nghĩ đến tông đồ Phêrô sẽ được Người đổi tên là "đá", một người môn đệ cho dù sau này có lỡ chối bỏ Người, nhưng tự bản chất rất chân tình và nhiệt tình, luôn đơn sơ dễ dậy lắng nghe và thực hành lời của Người, như bài Phúc Âm Thứ Năm tuần trước về mẻ cá lạ cho thấy, vẫn được Người đặt làm nền tảng cho Giáo Hội Người thiết lập (xem Mathêu 16:18).

 

"Đá" liên quan đến tên gọi "Phêrô, con là đá" (Mathêu 16:18) ở đây có một ý nghĩa thiêng liêng hơn là tự nhiên. Thật vậy, theo tự nhiên thì đã là đá thì tự bản chất của nó phải cứng rắn và vững chắc, bằng không không phải là đá, như đã là ánh sáng thì phải chiếu soi, bằng không không phải là ánh sáng. Nhưng "đá" được Chúa Giêsu sử dụng để làm nền tảng cho Giáo Hội Người thiết lập đây lại bao gồm 2 đặc tính hoàn toàn tương phản nhau, ở chỗ vừa cứng lại vừa mềm: mềm ở bản chất của con người lãnh đạo tông đồ đoàn mang tên Simon này, và cứng ở lòng tin tưởng của ngài nơi Đấng đã kêu gọi và tuyển chọn ngài. Đó là lý do Chúa Giêsu đã nhắn nhủ ngài rằng: 

 

"Simôn, Simôn ơi, kìa Satan đã xin được sàng tất cả các con như người ta sàng gạo. Thế nhưng Thầy đã cầu nguyện cho con để con không bị mất lòng tin. Phần con, một khi đã trở lại, con hãy kiên cường củng cố cho anh em của con" (Luca 22:31-32). 

 

Trường hợp của vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô cũng thế, chính lời Chúa và Lòng Thương Xót Chúa đã làm cho ngài vốn là một con người tội lỗi mù quáng trở nên khôn ngoan cứng cát trong ơn gọi và sứ vụ làm chứng cho Đấng đã kêu gọi ngài, như ngài tự thú trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay qua Thư gửi môn đệ Timôthêu của ngài:

 

"Lời nói chân thật và đáng tiếp nhận mọi đàng là: Ðức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian này, để cứu độ những người tội lỗi, trong số ấy, cha là người thứ nhất. Vì thế, cha được hưởng nhờ ơn thương xót, là Ðức Giêsu Kitô tỏ ra tất cả lòng khoan dung trong cha trước hết, để nêu gương cho những ai sẽ tin vào Người hầu được sống đời đời". 

 

Bài Đáp Ca hôm nay kêu gọi "những người tôi tớ Chúa", trong đó phải kể đến Thánh Phêrô như được ám chỉ đến trong Bài Phúc Âm hôm nay, và Thánh Phaolô trong Bài Đọc 1 hôm nay, một con người yếu hèn nhờ Lòng Thương Xót Chúa đối với ngài đã có thể sinh hoa kết trái và trở thành như "gương cho những ai sẽ tin vào Người hầu được sống đời đời", một cuộc đời sinh hoa kết trái như lòng mong ước của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay, 

 

1) Hãy ngợi khen, hỡi những người tôi tớ Chúa, chư vị hãy ngợi khen danh Chúa. Nguyện danh Chúa được chúc tụng từ bây giờ và cho đến muôn đời. 

 

2) Từ mặt trời mọc lên tới khi lặn xuống, nguyện cho danh Chúa được ngợi khen. Chúa siêu việt trên hết thảy chư dân, trên muôn cõi trời, là vinh quang của Chúa. 

 

3) Ai được như Thiên Chúa chúng tôi, Người để mắt nhìn coi khắp cả trên trời dưới đất? Người nâng kẻ hèn hạ lên khỏi trần ai, và rước người nghèo khó khỏi nơi phẩn thổ.