Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

1 bài giảng và 1 bài nói chuyện của ĐTC Phanxico

Tác giả: 
Cao Tấn Tĩnh

 

 

Cô đơn

 

Adong, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất, đã sống trong Vườn Địa Đường. Chàng đã đặt tên cho tất cả mọi tạo vật khác như là một dấu hiệu cho thấy quyền thống trị của chàng, cho thấy quyền năng minh nhiên không thể chối cãi của chàng, trên tất cả những tạo vật ấy. Tuy nhiên, chàng vẫn cảm thấy lẻ loi một mình, vì chàng "không tìm thấy được một hỗ trợ thích hợp với chàng" (Khởi Nguyên 2:20). Chàng đã sống lẻ loi cô độc.

 

Thảm kịch cô đơn đang được cảm nghiệm thấy bởi vô vàn con người nam nữ trong thời đại của chúng ta đây. Tôi nghĩ đến những vị lão thành, bị bỏ rơi bởi cả những người thân yêu và con cái của mình; những người góa chồng góa vợ; nhiều con người nam nữ bị người phối ngẫu của mình lìa bỏ; tất cả những ai cảm thấy lẻ loi một mình, bị hiểu lầm và quên lãng; những người di dân và tị nạn vượt thoát chiến tranh và bách hại; và nhiều giới trẻ đang là nạn nhân của thứ văn hóa hưởng thụ, thứ văn hóa phế thải, thứ văn hóa thừa thãi đổ đi. 

 

Ngày nay chúng ta đang nghiệm thấy cái mâu thuẫn ngược đời của một thế giới toàn cầu hóa đầy những lâu đài và những tòa nhà chọc trời sang trọng, nhưng lại thấp kém những gì là nồng ấm của các ngôi nhà và của các gia đình; đầy những dự án và dự phóng tham vọng, nhưng hiếm có giờ để hoan hưởng chúng; đầy những phương tiện tinh vi để giải trí những lại càng sâu xa trống rỗng nội tâm; đầy những khoái thú những ít yêu thương; đầy những gì tùy ý muốn làm nhưng lại ít tự do... Số người cảm thấy đơn côi cứ gia tăng, gia tăng cả con số những ai bị cuốn hút vào những gì là vị kỷ, những gì là u ám, vào tình trạng bạo động hủy hoại và vào tình trạng sống nô lệ cho khoái lạc cùng tiền bạc.

 

Cảm nghiệm của chúng ta ngày nay, ở một cách nào đó, như cảm nghiệm của Adong: đầy những quyền năng mà đồng thời lại cũng đầy những cô đơn và dễ bị tổn thương. Gia đình là hình ảnh ấy. Con người càng ngày càng ít nghiêm trọng hóa vấn đề xây dựng một mối liên hệ yêu thương vững chắc và hiệu năng, cả khi yếu đau và mạnh khỏe, cả khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, cả khi may lành cũng như rủi ro. Tình yêu là những gì bền bỉ, thủy chung, tận tâm, vững chãi và phong phú lại là những gì càng ngày càng bị coi thường, bị coi như là một thứ di tích kỳ quặc của quá khứ. Dường như đang xẩy ra là các xã hội tân tiến nhất là chính những xã hội đang có mức sinh sản thấp nhất và có tỷ số cao nhất về phá thai, ly dị, tự tử cùng tình trạng phóng uế về xã hội cũng như môi sinh.

 

Tình yêu giữa người nam với người nữ 

 

Trong bài đọc thứ nhất chúng ta cũng nghe thấy Thiên Chúa cảm thấy làm sao ấy trước cảnh lẻ loi cô độc của Adong. Ngài đã phán: "Con người ở một mình không tốt; Ta sẽ làm nên cho nó một trợ giúp xứng hợp" (Khởi Nguyên 2:18). Những lời này cho thấy rằng không một sự gì làm cho con tim của con người hạnh phúc giống như con tim khác tương tự con tim của họ, một con tim yêu thương họ và làm cho họ hết cảm thấy cô đơn. Những lời này còn cho thấy rằng Thiên Chúa không tạo dựng nên chúng ta để sống một cách sầu thương hay lẻ loi cộ độc một mình. Ngài tạo dựng nên con người nam nữ để được hạnh phúc, để chia sẻ cuộc hành trình của họ với ai đó bổ túc cho họ, để sống cảm nghiệm yêu thương tuyệt vời, tức là để yêu và được yêu, và để thấy tình yêu của họ trở sinh hoa trái nơi con cái, như bài Thánh Vịnh đáp ca hôm nay (xem Thánh Vịnh 128).

 

Giấc mộng của Thiên Chúa cho tạo vật yêu dấu của Ngài đó là thấy nó được nên trọn nơi mối hiệp nhất yêu thương giữa một người nam và một người nữ, thấy họ hoan hỉ trong cuộc đồng hành trình của họ, trong việc trổ sinh hoa trái nơi việc họ trao tặng bản thân mình cho nhau. Chính dự án ấy đã được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay: "Ngày từ lúc tạo dựng ban đầu 'Thiên Chúa đã dựng nên họ có nam có nữ'. Vì thế mà người nam sẽ bỏ cha mẹ của mình mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một xác thịt. Vậy họ không còn là hai nhưng là một xác thịt" (Marco 10:6-8; xem Khởi Nguyên 1:27;2:24).

 

Để trả lời cho một câu hỏi có vẻ cường điệu - được đặt ra có lẽ như là một cái bẫy để làm cho Người không còn được dân chúng mộ mến nữa, vì dân chúng đã thực hiện việc ly dị như là một sự kiện đã được thiết định bất khả vi phạm - Chúa Giêsu đã nói một cách thẳng thắn và ngoài những gì dự tưởng. Người đã mang tất cả trở về với thuở ban đầu, thuở khởi nguyên tạo dựng, để dạy chúng ta rằng Thiên Chúa chúc lành cho tình yêu thương của con người, chính Ngài là Đấng đã kết hợp con tim của hai người yêu thương nhau, Ngài là Đấng kết hiệp chúng trong hiệp nhất bất khả phân ly. Điều này cho chúng ta thấy rằng đích điểm của đời sống phối ngẫu không phải chỉ là để sống đời với nhau, mà là để trọn đời yêu nhau! Như thế, Chúa Giêsu đã tái thiết lập trật tự đã có ngay từ ban đầu

 

Gia đình

 

"Những gì Thiên Chúa đã kết hợp lại với nhau thì không ai được phép phân ly" (Marco 10:9). Đó là lời huấn dụ cho các tín hữu trong việc thắng vượt hết mọi hình thức cá nhân chủ nghĩa và duy luật là những gì che đậy một thứ qui kỷ hẹp hòi và một thứ lo âu sợ hãi khi cần phải chấp nhận cái ý nghĩa đích thực của việc phối ngẫu cũng như của tính dục con người theo dự án của Thiên Chúa. 

 

Thật vậy, chỉ trong ánh sáng của cái điên rồ cho không biếu không nơi tình yêu vượt qua của Chúa Giêsu mới làm sáng tỏ cái điên rồ cho không biếu không của một thứ tình yêu phối ngẫu duy nhất trọn đời mà thôi. 

 

Đối với Thiên Chúa, hôn nhân không phải là một thứ không tưởng của tuổi trẻ dậy thì, mà là một giấc mơ bất khả thiếu bằng không tạo vật của Ngài sẽ bị quằn quại trong lẻ loi cô độc! Thật vậy, việc tỏ ra sợ hãi chấp nhận dự án ấy là những gì làm tê liệt cõi lòng của con người. 

 

Ngược ngạo thay, dân chúng ngày nay - thành phần thường nhạo cười dự án này - tiếp tục được cuốn hút và mê hoặc bởi hết thứ tình yêu chân thực, bởi thứ tình yêu bền vững, bởi thứ tình yêu phong phú, bởi thứ tình yêu trung thành và bền vững. Chúng ta thấy dân chúng chạy theo những thứ tình yêu sôi nổi trong khi lại mơ tưởng thứ tình yêu chân thực; họ săn đuổi những khoái lạc nhục thể nhưng lại mong ước có được những gì là trọn vẹn hiến thân.

 

"Giờ đây chúng ta đã hoàn toàn nếm được những hứa hẹn của thứ tự do vô giới hạn, chúng ta bắt đầu cảm nhận một lần nữa cụm từ ngày xưa về 'cái thế giới mệt mỏi'. Những thứ khoái thú bị cấm đoán đã mất đi tính chất thu hút của chúng ở chính lúc chúng không còn bị cấm nữa. Thậm chí nếu chúng được đẩy đến chỗ cực đoan và được tái tấu như khôn cùng chúng lại hiện lên một cách lu mờ, vì chúng là những thực tại vô cùng, trong khi đó chúng ta lại khao khát những gì là vô cùng bất tận" (Joseph Ratzinger, Auf Christus schauen. Einübung in Glaube, Hoffnung, Liebe, Freiburg, 1989, p. 73).

 

Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn về xã hội và hôn nhân này, Giáo Hội được kêu gọi để thi hành sứ vụ của mình một cách trung thành, trong chân lý và trong yêu thương.  

 

Thi hành sứ vụ của mình một cách trung thành với Vị Sư Phụ của mình như là một tiếng kêu trong sa mạc, trong việc bênh vực tình yêu trung thành và phấn khích nhiều gia đình sống đời hôn nhân như là một cảm nghiệm thể hiện tình yêu của Thiên Chúa; trong việc bênh vực tính chất linh thánh của sự sống, của hết mọi sự sống; trong việc bênh vực tính chất duy nhất và bất khả phân ly của mối liên hệ phu thê như là một dấu hiệu của ân sủng Thiên Chúa cũng như của khả năng trân trọng yêu thương của con người.

 

Giáo Hội được kêu gọi để thi hành sứ vụ của mình trong chân lý  là những gì không thay đổi trước những nhiệt liệt mau qua hay những ý nghĩ phổ thông thịnh hành. Sự thật là những gì bảo vệ riêng cá nhân cũng như chung nhân loại khỏi khuynh hướng qui kỷ và khỏi hướng tình yêu thương phong phú về những gì là vị kỷ cằn cỗi, khỏi hướng mối hiệp nhất dồi dào về những thứ liên hệ tạm thời. "Không có sự thật, bác ái bị hạ cấp thành cảm tính. Tình yêu trở thành một thứ vỏ bọc rỗng tuyếch, một vỏ bọc được nhồi nhét cho đầy một cách độc đoán. Trong một nền văn hóa phi chân lý thì đó là một thứ nguy cơ ác hại đối với tình yêu vậy" (Benedict XVI, Caritas in Veritate, 3).

 

Giáo Hội được kêu gọi để thi hành sứ vụ của mình trong yêu thương, chứ không phải bằng việc chỉ tay lên án kẻ khác, trái lại - trung thành với bản chất làm mẹ của mình - Giáo Hội ý thức được nhiệm vụ của mình trong việc tìm kiếm và chăm sóc cho các đôi phối ngẫu bị thương đau bằng dầu thơm chấp nhận và xót thương; trong việc trở thành một "bệnh viện lưu động" mở rộng cửa cho bất cứ ai tìm đến gõ cửa xin cứu giúp và hỗ trợ; thậm chí còn hơn thế nữa, trong việc vươn đến với người khác bằng tình yêu thương chân thật, bằng việc bước đi với những con người nam nữ đồng loại của chúng ta đang chịu khổ đau, để bao gồm họ và hướng dẫn họ đến suối mạch của ơn cứu độ.  

 

Một Giáo Hội giảng dạy và bênh vực những giá trị nồng cốt nhưng vẫn không quên rằng "Ngày Hưu Lễ được thiết lập cho con người chứ không phải con người cho Ngày Hưu Lễ" (Marco 2:27); và không quên lời Chúa Giêsu cũng đã nói: "Những ai khỏe mạnh thì không cần thày thuốc, mà là những ai yếu đau bệnh hoạn; Tôi đến không phải để kêu gọi thành phần công chính mà là tội nhân" (Marco 2:17). Một Giáo Hội giảng dạy tình yêu chân thực, một tình yêu có khả năng lấy đi tình trạng lẻ loi cô độc, mà vẫn không lơ là với sứ vụ trở thành một người Samaritanô nhân lành đối với nhân loại đang bị thương tích

 

Tôi nhớ có lần Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: "Bao giờ cũng phải lên án và chống lại những gì là lầm lỗi và sự dữ; thế nhưng cần phải thông cảm và yêu thương con người sa ngã và con người lầm lỗi... chúng ta cần phải yêu thương thời đại của chúng ta và giúp đáp con người của thời đại chúng ta" (John Paul II, Address to the Members of Italian Catholic Action, 30 December 1978). Giáo Hội cần phải tìm kiếm những con người ấy, đón nhận và hỗ trợ họ, vì một Giáo Hội đóng cửa là một Giáo Hội phản bội lại chính mình cũng như sứ vụ của mình, và thay vì cần phải là một cây cầu thì lại là một thứ rào cản: "Vì Đấng thánh hóa và những ai được thánh hóa đều có cùng một nguồn gốc. Đó là lý do tại sao Người không hổ thẹn gọi họ là anh em" (Do Thái 2:11).  

 

Trong tinh thần ấy, chúng ta xin Chúa hỗ trợ chúng ta trong Thượng Nghị này và hướng dẫn Giáo Hội của Người, nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse là vị hôn phu thanh khiết nhất của Mẹ.  

   

http://w2.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2015/documents/papa-francesco_20151004_omelia-apertura-sinodo-vescovi.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)

 

 

"Thượng Nghị này là việc bày tỏ của Giáo Hội, tức là, chính Giáo Hội cùng nhau tiến bước trong việc nhận định về thực tại bằng con mắt đức tin cũng như bằng tấm lòng của Thiên Chúa".

 

Lời phát biểu của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Phiên Họp Đầu Tiên Thứ Hai 5/10/2015

 

Quí Thượng Phụ, Hồng Y, Giám Mục và Anh Chị Em thân mến, 

 


Giáo Hội hôm nay đây lại tiếp tục một lần nữa cuộc đối thoại đã được bắt đầu bằng việc triệu tập Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ về Gia Đình - chắc chắn cũng tiếp tục nhiều cuộc đối thoại trước đó - để cùng nhau thẩm định và suy tư về bản văn Dùng Để Làm Việc - Instrumentum laboris đã được công phu soạn thảo bởi Ban Thư Ký - Relatio Synodi cũng như bởi các câu trả lời của Chư Hội Đồng Giám Mục cùng tổ chức có thẩm quyền.

 
 
Như chúng ta biết, Thượng Nghị này là một cuộc cùng nhau tiến bước theo tinh thần của đoàn tính và nghị tính, chấp nhận sự thật mất lòng, nhiệt tình về mục vụ và tín lý, khôn ngoan, thẳng thắn và bao giờ cũng nhắm đến thiện ích của Giáo Hội, của các gia đình, và của lề luật tối hậu là phần rỗi các linh hồn - the salus animarum (xem Giáo Luật 1752).
 
 
Tôi xin nhắc lại là Thượng Nghị này không phải là một thứ hội nghi hay một thứ "phòng tiếp tân" (parlour), nó không phải là một nghị viện hay một thượng viện, nơi chúng ta tiến đến chỗ đồng thuận. Trái lại, Thượng Nghị này là việc bày tỏ của Giáo Hội, tức là, chính Giáo Hội cùng nhau tiến bước trong việc nhận định về thực tại bằng con mắt đức tin cũng như bằng tấm lòng của Thiên Chúa; chính Giáo Hội tự vấn về lòng trung thành của mình với kho tàng đức tin, một kho tàng đức tin đối với Giáo Hội không tiêu biểu như là một bảo tàng viện để ngắm nghía hay thậm chí để bảo toàn, mà là một nguồn mạch sống động nhờ đó Giáo Hội thỏa đáng bản thân mình cùng thỏa đáng và soi sáng cho kho tàng sự sống.
 
 
Thượng Nghị này cần phải chuyển động nơi cõi lòng của Giáo Hội và trong Dân Thánh của Chúa mà chúng ta thuộc về với tư cách là những vị mục tử tức là thành phần tôi tớ. 
 
 
Hơn nữa, Thượng Nghị này là một khoảng được bảo vệ, nơi Giáo Hội cảm nghiệm được tác động của Thánh Linh. Thần Linh nói trong Thượng Nghị này qua ngôn ngữ của tất cả mọi người để mình được hướng dẫn bởi Vị Thiên Chúa luôn gây ngỡ ngàng, bởi Vị Thiên Chúa tỏ ra cho thành phần bé mọn những gì Ngài muốn giấu kẻ khôn ngoan thông thái, bởi Vị Thiên Chúa đã thiết lập Lề Luật và Ngày Hưu Lễ cho con người chứ không phải ngược lại, bởi Vị Thiên Chúa bỏ 99 con chiên lại để đi tìm kiếm con chiên lạc, bởi Vị Thiên Chúa bao giờ cũng cao cả lớn lao hơn là các lý lẽ của chúng ta cùng những tính toán của chúng ta. 
 
 
Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng, Thượng Nghị này sẽ có thể là một khoảng tác động của Thánh Linh chỉ khi nào chúng ta, thành phầm tham dự viên, mặc lấy lòng can đảm tông đồ, lòng khiêm hạ phúc âm và lòng tin tưởng nguyện cầu mà thôi. 
 
 
Lòng can đảm tông đồ không để mình run sợ trước những quyền rũ của thế gian là những gì có khuynh hướng dập tắt đi trong cõi lòng của con người ánh sáng chân lý, thay thế nó bằng những thứ ánh sáng lờ mờ tạm thời, thậm chí còn tệ hơn thế nữa trước tình trạng hóa thạch của một số tâm can - bất chấp những ý hướng tốt lành - tách lìa dân chúng khỏi Thiên Chúa. - "Lòng can đảm tông đồ là để mang lại sự sống chứ không phải để làm cho đời sống Kitô hữu của chúng ta thành một bảo tàng việc của ký ức nhớ nhung" (Homily at Saint Martha’s, April 28, 2015). 
 
 
Lòng khiêm hạ phúc âm có thể rỗng hóa chính mình khỏi những qui lệ và các thành kiến để lắng nghe Anh Em Giám Mục và được tràn đầy Thiên Chúa. Lòng khiêm nhượng không dẫn đến chỗ chỉ tay lên án người khác mà là giang tay của mình ra cho họ để nâng họ lên mà không hề cảm thấy mình vượt trổi hơn họ.
 
 
Lòng tin tưởng nguyện cầu là tác động của con tim khi nó cởi mở trước Thiên Chúa, khi tất cả tâm trạng của chúng ta lắng đọng xuống để lắng nghe tiếng nói nhỏ nhẹ của Thiên Chúa, Đấng nói trong âm thầm. Không biết lắng nghe Thiên Chúa thì tất cả những lời nói của chúng ta sẽ chỉ là "những lời nói" không làm thỏa đáng và trở thành vô dụng. Không để mình cho Thần Linh hướng dẫn thì tất cả mọi quyết định của chúng ta sẽ chỉ là "những thứ trang sức", những thứ thay vì đề cao Phúc Âm thì lại bao phủ và che đậy Phúc Âm đi. 
 
 
Chư Huynh thân mến, như tôi đã nói, Thượng Nghị này không phải là một thứ nghị viện là nơi để tìm kiếm thỏa thuận hay hay đồng ý chung cần phải thương thuyết, mặc cả hay thỏa hiệp, thế nhưng, phương pháp duy nhất của Thượng Nghị này là cách thức mở lòng mình ra cho Thánh Linh, bằng lòng can đảm tông đồ, bằng lòng khiêm hạ phúc âm và bằng lòng tin tưởng nguyện cầu, nhờ đó, chính Ngài hướng dẫn và soi sáng chúng ta và đặt trước mắt chúng ta không phải là những ý nghĩ riêng tư của chúng ta mà là niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, mà là lòng trung thành với Huấn Quyền, mà là thiện ích của Giáo Hội và là the salus animarum (phần rỗi các linh hồn).
 
 
Sau hết, tôi xin chân thành cám ơn ... (ĐTC ngỏ lời cám ơn từng vị chức sắc đã trực tiếp lo sửa soạn và điều hợp Thượng Nghị, và chung các Nghị Phụ, các Đại Diện, các tham vấn viên, các thông dịch viên, các phóng viên báo chí...).
 
 
Chúng ta bắt đầu cuộc hành trình của chúng ta bằng việc kêu cầu ơn trợ giúp của Thánh Linh và lời chuyển cầu của Thánh Gia: Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse. Cám ơn anh chị em!
 

 

http://www.zenit.org/en/articles/synod-15-pope-francis-address-to-first-general-congregation

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)