Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Thường Niên Tuần I 10-16/1/2016

Tác giả: 
Cao Tấn Tĩnh
 
 
Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 
Mùa Thường Niên Tuần I
10-16/1/2016
 
 
 
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 
(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
 
 

 

Chúa Nhật

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Is 42, 1-4. 6-7

 

"Này là tôi tớ Ta, Ta hài lòng về người".

 

Trích sách Tiên tri Isaia.

 

Ðây là lời Chúa phán: "Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta chọn, Ta hài lòng về người. Ta ban Thần trí Ta trên người. Người sẽ xét xử chư dân. Người sẽ không lớn tiếng, không thiên vị ai; không ai nghe tiếng người ở công trường. Người không bẻ gẫy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói. Người trung thành đem lại lẽ công bình. Người sẽ không buồn phiền, không nao núng, chỉ lo đặt công lý trên địa cầu, vì trăm đảo mong đợi lề luật người.

 

Ta là Chúa, Ta đã gọi con trong công lý, đã cầm lấy tay con, đã gìn giữ con, đã đặt con thành giao ước của dân, và nên ánh sáng của chư dân, để con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm".

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 28, 1a và 2. 3ac-4. 3b và 9b-10

 

Ðáp: Chúa sẽ chúc phúc cho dân Người trong cảnh thái bình (c. 11b).

 

Xướng: 1) Các con cái Thiên Chúa hãy dâng kính Chúa, hãy dâng kính Chúa vinh quang xứng với danh Người; hãy mang lễ phục thánh để thờ lạy Chúa. - Ðáp.

 

2) Tiếng Chúa vang dội trên mặt nước, Chúa ngự trên muôn ngàn sóng nước. Tiếng Chúa phán ra trong uy quyền, tiếng Chúa phán ra trong oai vệ. - Ðáp.

 

3) Thiên Chúa oai nghiêm làm cho sấm sét nổ ran, và trong thánh đài của Chúa, mọi người kêu lên: Vinh quang! Chúa ngự trị trong cơn hồng thuỷ, và Chúa làm vua ngự trị tới muôn đời. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Cv 10, 34-38

 

"Chúa dùng Thánh Thần mà xức dầu tấn phong cho Người".

 

Trích sách Tông đồ Công vụ.

 

Trong những ngày ấy, Phêrô mở miệng nói rằng: "Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận. Thiên Chúa đã sai Lời Người đến cùng con cái Israel, loan tin bình an, nhờ Chúa Giêsu Kitô là Chúa muôn loài. Như anh em biết, điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan đã rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong cho Người. Người đi qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở với Người".

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

Alleluia: x. Mc 9, 7

 

Alleluia, alleluia! - Các tầng trời mở ra, tiếng Chúa Cha tuyên phán: "Này là Con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Người". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 3, 15-16. 21-22

 

"Khi Chúa Giêsu đã chịu phép rửa và đang cầu nguyện thì trời mở ra".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

 

Khi ấy, trong lúc dân chúng đang mong đợi, và mọi người tự hỏi trong lòng rằng: "Gioan có phải là Ðấng Kitô không?", Gioan lên tiếng bảo mọi người rằng: "Phần tôi, tôi rửa anh em trong nước, nhưng Ðấng cao trọng hơn tôi đang đến, và tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, chính Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần và trong lửa!"

 

Vậy khi tất cả dân chúng đã chịu phép rửa, và chính lúc Chúa Giêsu cũng đã chịu phép rửa xong, Người đang cầu nguyện, thì trời mở ra và Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu, và có tiếng từ trời phán: "Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha".

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

 

 

Suy niệm

 

   

Đức Kitô Thiên Sai

 

 

 

Nếu chủ đề của Mùa Vọng là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) và chủ đề của Mùa Giáng Sinh là "Lời ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), thì chủ đề của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh là "chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người, vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14). 

 

Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa hôm nay là lễ vừa kết thúc Mùa Giáng Sinh vừa mở màn Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh. Nên lưu ý là Mùa Thường Niên hằng năm được chia ra làm hai phần cũng là hai giai đoạn: phần đầu là giai đoạn sau Mùa Giáng Sinh và phần sau là giai đoạn sau Mùa Phục Sinh, và vì dính liền ngay sau hai Mùa chính yếu của phụng niên là Giáng Sinh và Phục Sinh như thế nên ý nghĩa của từng phần trong Mùa Thường Niên này đều có liên hệ mật thiết với mùa phụng niên chính yếu ngay trước đó. 

 

Hôm nay là Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, một lễ được Giáo Hội cố ý sắp xếp vào sau Lễ Hiển Linh, vì ý nghĩa của hai lễ này giống nhau, ở chỗ cả hai đều liên quan đến sự kiện Chúa Giêsu tỏ mình ra, hay đúng hơn, liên quan đến sự kiện Thiên Chúa làm cho Con của Ngài được "hiển linh" trước mặt dân ngoại (Lễ Hiển Linh) cũng như trước dân Do Thái nói chung và Tiền Hô Gioan Tẩy Giả nói riêng (Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa), để họ "được thấy vinh hiển của Người, vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14). 

 

Đúng thế, vì muốn tỏ mình ra cho loài người, một tạo vật duy nhất được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và tương tự Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27), để nhờ đó họ có thể được hiệp thông thần linh với Ngài, đúng như dự án thần linh của Ngài khi Ngài dựng nên họ, Thiên Chúa đã tuyển chọn một dân tộc đặc biệt trong các dân tộc trên mặt đất này là dân Do Thái, và qua suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, Ngài đã chứng thực cho họ thấy Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ. 

 

Và mạc khải thần linh này của Thiên Chúa, theo giòng lịch sử cứu độ của dân Do Thái, chỉ đạt tới tột đỉnh và đã trọn vẹn sáng tỏ cùng trở nên thành toàn nơi Con của Ngài, Đấng đã được Ngài hứa ngay sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15), "khi đến thời gian viên trọn, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài được hạ sinh bởi một người nữ, được sinh hạ theo lề luật" (Galata 4:4). 

 

Bởi vậy, "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14) thật sự là "để tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), cho đến độ "ai thấy Thày là thấy Cha" (Gioan 14:9), và chính vì thế mà Ngôi Lời Nhập Thể này mới "đầy ân sủng và chân lý", tức được đầy Thánh Thần của Thiên Chúa như Đấng Thiên Sai của Ngài, Đấng đã được chính Thiên Chúa tiên báo ngay từ xa xưa, qua miệng của các tiên tri, điển hình như Tiên Tri Isaia trong Bài Đọc 1 hôm nay: 

 

"Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta chọn, Ta hài lòng về người. Ta ban Thần trí Ta trên người. Người sẽ xét xử chư dân. Người sẽ không lớn tiếng, không thiên vị ai; không ai nghe tiếng người ở công trường. Người không bẻ gẫy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói. Người trung thành đem lại lẽ công bình. Người sẽ không buồn phiền, không nao núng, chỉ lo đặt công lý trên địa cầu, vì trăm đảo mong đợi lề luật người. Ta là Chúa, Ta đã gọi con trong công lý, đã cầm lấy tay con, đã gìn giữ con, đã đặt con thành giao ước của dân, và nên ánh sáng của chư dân, để con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm". 

 

Thật vậy, vì "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta... đầy ân sủng và chân lý" chính là Con của Thiên Chúa, Đấng đã sai Người xuống trần gian, để qua Người, Ngài có thể tỏ hết mình ra cho nhân loại, mà Thiên Chúa đã ban tràn đầy Thánh Linh cho Người, tức đã xức dầu cho Người, nhờ đó, bằng nhân tính của mình, Người đã có thể hoàn trọn mạc khải thần linh là "tỏ Cha ra", bằng tất cả ngôn từ, tác hành, phản ứng và biến cố của Người. 

 

Nếu trong Bài Đọc 1, Người Con "đầy ân sủng và chân lý" hay đầy Thánh Linh này của Thiên Chúa đã được tiên báo là "nên ánh sáng của chư dân, để con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm" thì trong Bài Đọc 2 hôm nay, Người cũng đã được vị lãnh đạo Tông Đồ đoàn Phêrô chứng thực rằng: 

 

"Thiên Chúa đã sai Lời Người đến cùng con cái Israel, loan tin bình an, nhờ Chúa Giêsu Kitô là Chúa muôn loài. Như anh em biết, điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan đã rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong cho Người. Người đi qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở với Người".

 

Thiên Chúa quả thực chẳng những đã được Con của Ngài tỏ ra cho dân Do Thái biết "tất cả sự thật" (Gioan 16:13) về Ngài, qua những gì Người thực hiện nơi nhân tính của Người trên thế gian này "vào thời điểm viên trọn" (Galata 4:4) của Người tại đất nước Do Thái, mà còn, về phần mình, Ngài đã làm cho Con của Ngài được hiển linh trước dân ngoại khi sử dụng ngôi sao lạ dẫn đường cho ba chiêm vương gia đông phương tìm đến bái thờ Người ở Belem, và hiển linh trước dân Do Thái trong biến cố Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa ở Sông Dược Đăng (Jordan) bởi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả nữa, qua tiếng phát ra từ trời: "Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha". 

 

"Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha" là lời chứng nhận của Thiên Chúa về nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét quả thực là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), ngoài Người ra, không phải là ai khác, cho dù là Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã được thành phần lãnh đạo trong dân suy đoán là Đức Kitô (xem Gioan 1:19-22), và cũng không còn là bất cứ người nào khác, như dân Do Thái vẫn còn trông đợi cho đến nay. 

 

Thế nhưng, tiếng phán ra từ trời "Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha" này chỉ vang lên sau khi: "Chúa Giêsu đã chịu phép rửa xong" (nghi thức bề ngoài liên quan đến thân xác) và "Người đang cầu nguyện" (tác động thiêng liêng của tâm linh bề trong), nghĩa là, qua Phép Rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả và nhờ Phép Rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bấy giờ, Thiên Chúa đã xức dầu cho Người Con mặc lấy nhân tính là Giêsu Nazarét này của Ngài, nơi sự kiện thần linh là "trời mở ra và Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu". 

 

Sự kiện Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa nói chung và tác động Người dìm mình xuống nước và vươn lên khỏi nước rồi sau đó "Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu" là những gì hướng về và tiên báo Phép Rửa Người cần phải chịu (xem Luca 12:50), tức Người cần phải Vượt Qua từ sự chết mà vào sự sống, để có thể thông ban Thánh Thần của Người cho Giáo Hội vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần khi Người hiện ra với các tông đồ lần đầu tiên vừa thở hơi rên các vị mà phán: "Các con hãy nhận lấy Thánh Linh" (Gioan 20:22). 

 

Thật ra, nơi mầu nhiệm ngôi hiệp trong biến cố Truyền Tin, nhân tính của Đấng được thụ thai trong cung dạ trinh nguyên của Mẹ Maria tự bẩm sinh đã được tràn đầy Thánh Linh rồi, tức đã được Thiên Chúa xức dầu "thánh hiến và sai vào trần gian" rồi (xem Gioan 10:36). Tuy nhiên, lần này, ở Sông Dược Đăng, khi Người đạt đến tầm vóc về thân xác ở tuổi thành toàn 30, Thiên Chúa là Đấng sai Người đã xức dầu Thánh Thần cho Người một lần nữa, lần này một cách công khai, như để chính thức sai Người đi để thực hiện sứ vụ cứu thế của Người là "tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), qua những việc Người làm với tư cách của một Đấng Thiên Sai, như Bài Phúc Âm hôm nay khẳng định: "Người đi qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám", (những gì sẽ được các bài Phúc Âm trong Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh trình thuật như chúng ta sẽ đọc thấy). 

 

Bài Đáp Ca được Giáo Hội chọn đọc cho Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa Năm C hôm nay liên quan đến chiều hướng của Bài Phúc Âm cùng ngày, bài Phúc Âm, bề ngoài về biến cố Chúa Kitô chịu Phép Rửa bởi nước, và bề trong về sự kiện hiển linh vinh hiển của Thiên Chúa nơi Con của Ngài cũng như của Con Ngài được Cha thực hiện:    

 

1) Các con cái Thiên Chúa hãy dâng kính Chúa, hãy dâng kính Chúa vinh quang xứng với danh Người; hãy mang lễ phục thánh để thờ lạy Chúa.

 

 

2) Tiếng Chúa vang dội trên mặt nước, Chúa ngự trên muôn ngàn sóng nước. Tiếng Chúa phán ra trong uy quyền, tiếng Chúa phán ra trong oai vệ.

 

 

 

 

3) Thiên Chúa oai nghiêm làm cho sấm sét nổ ran, và trong thánh đài của Chúa, mọi người kêu lên: Vinh quang! Chúa ngự trị trong cơn hồng thủy, và Chúa làm vua ngự trị tới muôn đời.

 


 

 

Thứ Hai

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: (năm II) 1 Sm 1, 1-8

 

"Anna buồn sầu, vì Chúa đã để bà phải son sẻ".

 

Khởi đầu sách Samuel quyển thứ nhất.

 

Khi ấy, có một người quê ở Rama-Sôphim, miền núi Ephraim, tên là Elcana, con của Giêrôha, Giêrôha con của Êlihu, Êlihu con của Thôhu, Thôhu con của Súp, người Ephratha. Elcana có hai người vợ: một tên là Anna, người kia tên là Phênenna. Và Phênenna có nhiều con, còn Anna thì không có con. Vào những ngày luật quy định, ông này thường rời quê mình lên Silô để thờ lạy Chúa các đạo binh và hiến dâng của lễ. Tại Silô, có hai người con của Hêli là Ophni và Phêni, cả hai đều là tư tế của Chúa. Ngày kia Elcana đi tế lễ, ông chia phần cho bà vợ Phênenna và tất cả các con trai con gái của bà. Ông buồn sầu chia cho Anna có một phần, mặc dầu ông yêu bà: vì Thiên Chúa để cho bà phải son sẻ. Cả đối thủ của bà cũng làm cho bà buồn phiền và nhục mạ bà, vì Chúa đã để bà phải son sẻ. Hằng năm, mỗi lần đến ngày lên đền thờ Chúa, Elcana đều chia phần như thế, và Anna cũng đều bị khiêu khích như vậy. Bà than khóc và không ăn uống gì. Vậy Elcana, chồng bà, đã nói với bà rằng: "Hỡi Anna, sao bà khóc, và không ăn uống gì? Sao bà buồn như vậy? Tôi đây chẳng quý hơn mười đứa con sao?"

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 115, 12-13. 14 và 17. 18-19

 

Ðáp: Lạy Chúa, con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ (c. 17a).

 

Hoặc đọc: Alleluia.

 

Xướng: 1) Con lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho con? Con sẽ lãnh chén cứu độ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. - Ðáp.

2) Con sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài. Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. - Ðáp.

3) Con sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài, trong nơi hành lang nhà Chúa, ở giữa lòng ngươi, Giêrusalem hỡi! - Ðáp.

 

Alleluia: 1 Sm 3, 9

 

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 1, 14-20

 

"Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

 

Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa, Người nói: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

 

Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người". Lập tức bỏ lưới, các ông theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Gia-côbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người.

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

 

 

Suy niệm

 

Đức Kitô tác động 

 

Hôm nay, Thứ Hai trong Tuần 1 Thường Niên, ngay sau Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, chiều hướng và ý nghĩa của phụng vụ Lời Chúa vẫn theo chủ đề chung của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh về: "Vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14).



Nếu tất cả thời lượng của Mùa Thường Niên theo lịch trình phụng vụ kéo dài tất cả là 34 tuần lễ, và nếu Mùa Thường Niên này được chia ra làm hai phần cũng là 2 giai đoạn: phần đầu là giai đoạn sau Giáng Sinh và phần sau là giai đoạn sau Phục Sinh, thì Mùa Thường Niên ở giai đoạn hậu Giáng Sinh ngắn hơn Mùa Thường Niên ở giai đoạn hậu Phục Sinh. 

 

Mùa Thường Niên ở giai đoạn hậu Giáng Sinh ngắn nhất thường là 5 tuần lễ (như năm 2013 hay 2016) và dài nhất là 9 tuần lễ (như năm 2002 hay 2011), hoặc 6 tuần (như năm 2015 hay 2018), 7 tuần (như năm 2012 hay 2020), 8 tuần (như năm 2014, 2017, 2019, 2022), rất hiếm năm chỉ có 4 tuần lễ (như năm 2008). Và Phúc Âm cho Mùa Thường Niên giai đoạn hậu Giáng Sinh này hoàn toàn theo Thánh ký Marcô. 

 

Chủ đề cho chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, cho phụng vụ Lời Chúa của cả Chúa Nhật lẫn ngày thường trong tuần, "Vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", tiếp theo chủ đề "Lời đã hóa thành nhục thể" cho chung Mùa Vọng và chủ đề "Lời ở giữa chúng ta" cho chung Mùa Giáng Sinh, cả 3 chủ đề liên tục và thứ tự này đầu ở trong cùng một câu Phúc Âm Thánh ký Gioan 1:14.

 

Đúng thế, chủ đề "Vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" cho chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh được sáng tỏ trong bài Phúc Âm hôm nay, trong lời rao giảng tiên khởi của Chúa Kitô cũng như trong việc Người tuyển chọn các môn đệ tiên khởi. 

 

Trước hết, chủ đề "Vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" được sáng tỏ trong lời rao giảng tiên khởi của Người: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng". Ở chỗ, Người chính là "Nước Thiên Chúa đã gần đến", nghĩa là Người "đã" đến rồi, ở giữa cộng đồng dân của Người, nhưng chưa "hoàn tất" (Gioan 19:30) sứ vụ cứu chuộc của Người, một sứ vụ cứu chuộc chỉ có thể "hoàn tất" bởi duy một mình Người là Con Người duy nhất "đầy ân sủng và chân lý".

 

Và chính vì "nước Thiên Chúa đã gần đến" đây là sự kiện nhân vật Giêsu Nazarét bắt đầu công khai tỏ mình ra cho dân Do Thái và trong dân Do Thái, và thực tại "nước Thiên Chúa" đây được biểu hiện nơi bản thân của Người, mà chung con người và riêng những ai được nhìn thấy Người, nghe thấy Người, động chạm đến Người, giao tiếp với Người (xem 1Gioan 1:1), không thể nào "nhận biết Người" và "chấp nhận Người" (Gioan 1:10-12), nếu không đáp ứng lời rao giảng tiên khởi của Người trong bài Phúc Âm hôm nay là "hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng", tức là hãy thực sự khao khát được cứu độ và tìm kiếm ơn cứu độ, nói cách khác, hãy thực lòng trông đợi Đấng Thiên Sai nhờ đó họ mới dễ dàng nhận biết và chấp nhận Người khi Người đến và tỏ mình ra cho họ, qua lời nói và việc làm của Người như là "Tin Mừng" của Người loan truyền cho họ.

 

Lời rao giảng tiên khởi của Chúa Giêsu nói chung: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng" và lời kêu gọi "hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng" nói riêng không phải chỉ có tác dụng từ khi Chúa Kitô công khai xuất hiện mà còn ở khắp mọi thời đại nữa, đối với bất cứ ai muốn được cứu độ, nhất là những ai đang gặp gian nan khốn khổ, như trường hợp của bà Anna trong Bài Đọc 1 hôm nay, một người vợ son sẻ: "Bà than khóc và không ăn uống gì", cho dù được "Elcana, chồng bà" an ủi: "Hỡi Anna, sao bà khóc, và không ăn uống gì? Sao bà buồn như vậy? Tôi đây chẳng quý hơn mười đứa con sao?".

 

Sau nữa, chủ đề "Vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" được sáng tỏ trong việc Người tuyển chọn các môn đệ tiên khởi: "Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: 'Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người'. Lập tức bỏ lưới, các ông theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Gia-côbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người".

 

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao 4 chàng thanh niên chuyên nghiệp đánh cá này lại có thể tác hành một cách có vẻ điên khùng như thế, ở chỗ, (nhất là trường hợp của 2 chàng Giacôbê và Gioan, còn chàng Simon và Anrê đã được gặp gỡ Người rồi - xem Gioan 1:40-42), chỉ mới nghe thấy lời của một con người dường như xa lạ, chưa có tiếng tăm hay uy tín nào trong xã hội của mình, lên tiếng kêu gọi "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người", thậm chí cũng chưa hiểu hết ý nghĩa của lời kêu gọi liên quan đến vấn đề "chài lưới người", mà chẳng ai bảo ai các chàng đã tự động "lập tức bỏ lưới... theo Người" (trường hợp của anh em Simon và Anrê), hay tức khắc "bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người" (trường hợp của anh em Giacobê và Gioan).

 

Câu trả lời duy nhất chỉ có thể tìm thấy ở đây đó là vì Đấng kêu gọi các chàng thật sự là một Con Người "đầy ân sủng và chân lý", tức là một Con Người đầy Thánh Thần, vì Người là Đấng "làm phép rửa Thánh Thần" (Gioan 1:33) hay là Đấng thông ban Thánh Thần cũng thế, đến độ, như khi mới được thụ thai trong lòng Trinh Nữ Maria mẹ của mình, Người đã làm phép rửa cho Tiền Hô Gioan Tẩy Giả mới được 6 tháng thai, khiến thai nhi Gioan như được đầy Thánh Linh "đã nhẩy mừng" ngay khi còn trong lòng thai mẫu (xem Luca 1:41-44) thế nào, thì tác dụng của lời Người mời gọi 4 môn đệ tiên khởi trong bài Phúc Âm Thánh Marcô hôm nay cũng thế.

 

 

Bài Đáp Ca hôm nay dường như âm vang tâm tình của chính Chúa Kitô, Đấng "đầy ân sủng và chân lý" là những gì nhân tính của Người được "ban tặng" để có thể hoàn thành sứ vụ Thiên Sai "cứu độ" của mình như một "đền đáp" cân xứng, như câu thứ nhất của bài Đáp Ca cho thấy:  "Con lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho con? Con sẽ lãnh chén cứu độ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa".

 

 

Thứ Ba

 

Lời Chúa

 

 

Bài Ðọc I: (năm II) 1 Sm 1, 9-20

 

"Chúa nhớ đến bà Anna và bà đã sinh Samuel".

 

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

 

Trong những ngày ấy, tại Silô, sau khi ăn uống, Anna chỗi dậy. Thầy tư tế Hêli đang ngồi trên ghế trước cửa đền thờ Chúa, nhằm lúc Anna sầu khổ, khóc lóc thảm thiết cầu nguyện với Chúa và khấn xin rằng: "Lạy Chúa các đạo binh, nếu Chúa đoái nhìn đến nỗi khổ của nữ tỳ Chúa, và nhớ đến con, Chúa không quên nữ tỳ Chúa, và ban cho nữ tỳ Chúa một con trai, thì con sẽ dâng nó cho Chúa trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó". Ðang lúc Anna mải mê cầu nguyện trước mặt Chúa, thì Hêli để ý nhìn miệng bà. Vì Anna cầu nguyện thầm thĩ trong lòng, nên bà chỉ nhép môi, và không nói ra tiếng. Hêli tưởng bà say rượu, nên nói: "Chừng nào bà hết say? Bà hãy đi giã rượu đi!" Anna đáp lại rằng: "Thưa ông, tôi không khi nào uống rượu; vì tôi là người đàn bà vô phúc nhất, nên tôi không thể uống rượu và mọi chất làm cho say, nhưng tôi đã giãi bày tâm sự tôi trước nhan thánh Chúa. Ông đừng nghĩ rằng nữ tỳ của ông đây như một đứa con gái Bêlial; vì quá đau khổ và đắng cay, nên tôi đã tỏ bày tâm sự cho đến bây giờ. Bấy giờ Hêli nói: "Bà hãy về bình an, Thiên Chúa Israel sẽ ban cho bà điều bà xin". Bà liền thưa: "Ước gì nữ tỳ của ông được đẹp lòng ông". Bà lui ra ngoài, ăn uống và mặt bà không còn vẻ buồn sầu nữa. Sáng hôm sau, vợ chồng thức dậy, thờ lạy Chúa, rồi trở về nhà ở Ramtha.

 

Elcana ăn ở với bà Anna, và Chúa nhớ đến bà. Sau một thời gian, Anna có thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Samuel, vì bà đã xin Chúa ban nó cho bà.

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: 1 Sm 2, 1. 4-5. 6-7. 8abcd

 

Ðáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa (c. 1a).

 

Xướng: 1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi. - Ðáp.

 

2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn. - Ðáp.

 

3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao. - Ðáp.

 

4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang. - Ðáp. 

 

* * * 

Alleluia: Tv 24, 4c và 5a

 

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 1, 21-28

 

"Ngài giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

 

(Ðến thành Capharnaum), ngày nghỉ lễ, Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ.

 

Ðang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: "Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: "Hãy im đi, và ra khỏi người này!" Thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: "Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người". Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng lân cận xứ Galilêa.

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

Suy niệm

 

    Đức Kitô giải thoát

  

Hôm nay, Thứ Ba trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh, tiếp tục hôm qua, bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô cho biết, sau khi kêu gọi 4 người môn đệ đầu tiên trong bài Phúc Âm hôm qua, rằng "Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường vào một ngày nghỉ lễ". 


Theo chủ đề chung của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh là "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" thì quả thực bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy rõ điều ấy, như ngay ở đầu và cuối của cùng bài Phúc Âm: 

 

"Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ... Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người'".

 

Thật vậy, "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" này chẳng những làm cho con người bàng hoàng sửng sốt chưa từng thấy như thế mà còn gây cho cả ma quỉ cũng phải kinh hoảng không thể không nhận biết và xưng tụng Người nữa, khi chúng thấy mình gặp phải một siêu đối thủ hoàn toàn cao tay hơn sắp sửa ra tay triệt hạ chúng: "Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". 

 

Có lẽ trong các tác động được "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" thực hiện trước tột đỉnh sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình là Cuộc Vượt Qua thì, so với các tác động khác như chữa lành người bệnh và hồi sinh người chết, tác động trừ quỉ chất chứa một ý nghĩa cứu độ có giá trị cao nhất. Tại sao?

 

Bởi vì, tác động trừ quỉ ám chỉ việc xuất hiện của Chúa Kitô nói chung và công cuộc cứu chuộc của Người nói riêng để thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa sẽ hoàn toàn và vĩnh viễn phá hủy vương quốc của ma quỉ (xem 1Gioan 3:8), một vương quốc đã được thiết lập ngay vừa khi xẩy ra nguyên tội.

 

Chính vì bị vương quốc của ma quỉ cai trị mà loài người, trước đó sống trong tình trạng công chính nguyên thủy, hoàn toàn ngây thơ vô tội và tự do an lành, đã bắt đầu một cuộc sống theo thân phận của thành phần nô lệ cho tội lỗi và sự chết là những gì gây ra bởi nguyên tội và do cơ mưu hết sức thâm độc của "tên sát nhân ngay từ ban đầu" (Gioan 8:44).

 

Phải chăng vì ý nghĩa và tác dụng chính yếu của sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế là thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa bằng cách phá hủy vương quốc của ma quỉ như thế mà Thánh ký Marcô đã thuật lại sự kiện "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trừ quỉ đầu tiên trong và trước tất cả những hành động khác tỏ mình ra của Người?

 

Tuy nhiên, cho dù là thế, bài Phúc Âm còn cho thấy là trước khi trừ quỉ Chúa Kitô đã giảng dạy dân chúng trong hội đường vào ngày hưu lễ. Bởi vì, tự mình, Người là Ngôi Lời, và vì thế, lời của Người phản ảnh Người, như "ánh sáng chiếu trong tăm tối" (Gioan 1:5) và có tác dụng xua tan tối tăm chết chóc, như trường hợp Người trừ quỉ ám trong bài Phúc Âm hôm nay bằng lời truyền đầy quyền năng của Người: "Hãy im đi, và ra khỏi người này!" 

 

Khi thấy "thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy", thì "mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư?'". Họ không nói "đây là quyền năng mới ư" mà là "giáo lý mới ư"nghĩa là họ nhấn mạnh đến khía cạnh nguyên tác trừ quỉ là lời Chúa, là Đấng "đầy ân sủng và chân lý" đã xuất hiện trước mắt họ và đang ở cùng họ, Đấng họ đợi trông nhưng ma quỉ lại sợ hãi.

 

"Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trừ thần ô uế ám trong bài Phúc Âm hôm nay, hướng đến Ơn Cứu Độ tối hậu, còn mang ý nghĩa giải phóng con người nô lệ đang sống quằn quại trong vương quốc của ma quỉ khỏi mọi gian nan khốn khổ trên đời gây ra bởi tội lỗi và tột đỉnh là sự chết nữa, một cuộc giải phóng xuất phát từ lòng yêu thương của Thiên Chúa, như Ngài đã tỏ mình ra nơi trường hợp của Bà Anna trong Bài Đọc 1 hôm nay, khi Ngài đã "nhớ đến bà", "nhìn đến nỗi khổ của nữ tỳ Chúa", để giải thoát bà khỏi cảnh son sẻ và ô nhục của bà, bằng cách đã cho bà "có thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Samuel".

 

Được giải thoát cho khỏi cảnh son sẻ và ô nhục như thế, thân mẫu của bé Samuel là vị tiên tri tương lai tốt lành trong lịch sử dân Do Thái không thể nào không cảm thấy hân hoan vui sướng mà không ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa bằng chính những lời lẽ của mình trong Bài Đáp Ca hôm nay:

 

1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi. 

 

2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn. 

 

3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao. 

 

4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang.

 

 

 

 

Thứ Tư

 

Lời Chúa


 

Bài Ðọc I: (năm II) Sm 3, 1-10. 19-20

 

"Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe".

 

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

 

Trong những ngày ấy, trẻ Samuel phục vụ trước mặt Hêli. Thời ấy, ít khi Chúa phán và hiện ra. Ngày nọ, Hêli đang nằm tại chỗ mình, mắt ông đã loà và không còn thấy được: Ðèn chầu chưa tắt, Samuel ngủ trong đền thờ Chúa, nơi đặt hòm bia Thiên Chúa. Chúa đã gọi Samuel; cậu trả lời: "Này con đây", rồi chạy đến Hêli và nói: "Này con đây, vì thầy gọi con". Hêli trả lời: "Ta đâu có gọi, hãy trở về ngủ đi". Samuel đi ngủ lại. Nhưng Chúa gọi Samuel lần nữa, và Samuel chỗi dậy, chạy đến Hêli và nói: "Này con đây, vì thầy gọi con". Hêli trả lời: "Này con, ta đâu có gọi, hãy trở về ngủ đi". Samuel chưa nhận ra Chúa, và lời Chúa chưa mạc khải cho cậu. Chúa lại gọi Samuel lần thứ ba. Cậu chỗi dậy, chạy đến Hêli và nói: "Này con đây, vì thầy gọi con". Hêli biết Chúa đã gọi Samuel, nên nói với Samuel: "Hãy đi ngủ, và nếu Người còn gọi con, thì con nói rằng: "Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe". Samuel trở về chỗ mình và ngủ lại. Chúa đến gần và gọi Samuel như những lần trước: "Samuel! Samuel!" Và Samuel thưa: "Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe".

 

Phần Samuel ngày càng lớn lên. Chúa hằng ở cùng cậu, và cậu không để rơi mất lời nào của Chúa. Toàn dân Israel, từ Ðan tới Bersabê, đều nhận biết Samuel là tiên tri trung thực của Chúa.

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 39, 2 và 5. 7-8a. 8b-9. 10

Ðáp: Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa (c. 8a và 9a).

 

Xướng: 1) Con đã cậy trông, con đã cậy trông ở Chúa, Ngài đã nghiêng mình về bên con, và Ngài đã nghe tiếng con kêu cầu. Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa, không theo kẻ thờ thần tượng, không hướng về chuyện gian tà. - Ðáp.

 

2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi hy lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến". - Ðáp.

 

3) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con. - Ðáp.

 

4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong đại hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi. - Ðáp.

  

Alleluia: Tv 94, 8ab

 

Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 1, 29-39

 

"Ngài chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

 

Khi ấy Chúa Giêsu ra khỏi hội đường. Người cùng với Giacôbê và Gioan đến nhà Simon và Anrê. Lúc ấy bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường, lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà. Tiến lại gần, Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy. Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các Ngài.

 

Chiều đến, lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến Người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám; và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không cho chúng nói, vì chúng biết Người. Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó. Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: "Mọi người đều đi tìm Thầy". Nhưng Người đáp: "Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để Ta cũng rao giảng ở đó nữa". Và Người đi rao giảng trong các hội đường, trong khắp xứ Galilêa và xua trừ ma quỷ.

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

Suy niệm


  ​

Đức Kitô thần hiệp

 

Bài Phúc Âm Thứ Tư trong Tuần 1 Thường Niên hôm nay được Giáo Hội chọn đọc thích hợp với chủ đề chung của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý".

 

Tiếp tục bài Phúc Âm hôm qua về việc trừ quỉ cho một người ở trong hội đường, bài Phúc Âm hôm nay cho biết "Khi ấy Chúa Giêsu ra khỏi hội đường. Người cùng với Giacôbê và Gioan đến nhà Simon và Anrê. Lúc ấy bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường, lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà. Tiến lại gần, Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy. Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các Ngài".

 

Bài Phúc Âm hôm nay cũng cho thấy 4 người môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu, được Người kêu gọi và đã mau mắn bỏ tất cả mọi sự mà theo Người ngay lập tức, ở bài Phúc Âm Thứ hai đầu tuần này, vẫn tiếp tục đi theo Người và luôn ở bên Người, để chứng kiến những việc Người làm, nhờ đó, sau này, cùng với các vị tông đồ được tuyển chọn sau các vị, có thể trở nên thành phần chứng nhân tiên khởi của Người.

 

Ở đâu và đi đâu, các vị cũng thấy Thày của các vị luôn tỏ ra thực sự là "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý", đối với từng cá nhân con người chứ không phải chỉ với đám đông quần chúng, dù cảnh gian nan khốn khó nặng hay nhẹ. Chẳng hạn, trong trường hợp "bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường", một chứng bệnh không trầm trọng và đau đớn là bao so với các tật bệnh khác, thế mà sau khi được "người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà", thì Người cũng ân cần "tiến lại gần", sau đó, "Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy", một cử chỉ biểu lộ Người đầy "ân sủng", nhờ đó, "bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các Ngài".

 

Chưa hết, "ân sủng và chân lý" nơi "Người Con đến từ Cha" này dồi dào phong phú và mãnh liệt còn có thể bao trùm và thông ban cho cả một đám đông, với bao nhiêu là bệnh nạn tật nguyền khác nhau về phần xác nữa, kể cả những ai bị quỉ ám về tâm thần. Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay đã trình thuật tiếp:

 

"Chiều đến, lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến Người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám; và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không cho chúng nói, vì chúng biết Người".

 

Tuy nhiên, đối với 4 người môn đệ tiên khởi đang ở bên Người ấy thì "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" không phải chỉ ở chỗ thông ban ơn lành và chữa lành cho dân chúng, chung cũng như riêng, bằng các phép lạ của Người, những gì một người thường không ai có thể làm được ngoại trừ chỉ có Đấng xuất thân từ Thiên Chúa (xem Gioan 9:16,31-32), mà còn ở chỗ liên kết với Thiên Chúa bằng một đời sống âm thầm cầu nguyện nữa, như bài Phúc Âm hôm nay tiếp tục ghi lại:

 

"Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó. Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: 'Mọi người đều đi tìm Thầy'".

 

Hành động cầu nguyện từ "sáng sớm tinh sương" của Chúa Kitô, sau cả một ngày hôm trước bận bịu cứu giúp dân chúng và sau một đêm tạm nghỉ một chút cho đỡ mệt, được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, cho thấy Người luôn kết hợp với Cha là Đấng đã sai Người, vì Cha là nguồn mạch "ân sủng và chân lý" của Người và cho Người để Người có thể tiếp tục vì Cha và thay Cha, với vai trò là một thừa tác viên của Cha, thông ban "ân sủng và chân lý" cho dân chúng đang trông chờ Đấng Thiên Sai là chính Người. 

 

Để rồi, nhờ những giây phút cầu nguyện thân mật với Cha và sau những cuộc hội ngộ thần linh như thế, Người lại hăng say tiếp tục sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình, trước hết, nơi cộng đồng xã hội Do Thái bấy giờ, trước khi vươn tới "tất cả mọi dân nước" (Mathêu 28:19) và "cho mọi tạo vật" (Marco 16:16) qua thành phần môn đệ chứng nhân tiên khởi của Người sau này. Bởi thế, bài Phúc Âm hôm nay đã kết thúc như hướng về một tương lai toàn cầu hóa tất cả "ân sủng và chân lý" của "Người Con Thiên Chúa đến từ Cha" này như sau:

 

"Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: 'Mọi người đều đi tìm Thầy'. Nhưng Người đáp: 'Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để Ta cũng rao giảng ở đó nữa'. Và Người đi rao giảng trong các hội đường, trong khắp xứ Galilêa và xua trừ ma quỷ".

 

Qua đoạn kết bài Phúc Âm hôm nay chúng ta thấy cho dù mới theo Chúa Kitô, nhưng 4 người môn đệ tiên khởi nói chung và nhân vật lãnh đạo tông đồ đoàn trong tương lai nói riêng: "Simon và các bạn", đã biết được Thày của mình một phần nào rồi, ở chỗ, cứ sáng sớm Người vẫn giành giờ cầu nguyện ở một nơi vắng vẻ, nên một khi không thấy Người đâu thì cứ chạy tìm đến những chỗ ấy là chắc chắn sẽ thấy, như bài Phúc Âm hôm nay rõ ràng chứng thực.

 

Thật vậy, Thiên Chúa vẫn tỏ mình ra cho con người một cách kín đáo và trong tĩnh lặng, để những ai biết lắng nghe Ngài có thể sống trong "ân sủng và chân lý", sống đúng với những gì Ngài mong muốn nơi họ và kêu gọi họ, như một trung gian thông ban "ân sủng và chân lý" của Ngài cho những ai được Ngài sai họ đến phục vụ.

 

Bài Đọc 1 hôm nay đã cho thấy một trẻ Samuel, người con trai được sinh ra bởi một người mẹ son sẻ, như Bài Đọc 1 hôm qua và hôm kia cho biết, một nhân vật được Thiên Chúa tuyển chọn để vừa làm tư tế vừa làm tiên tri của dân Do Thái, thay cho vị tiền nhiệm là Heli, vị lão thành "mắt đã loà và không còn thấy được", ở vào lúc giao thời giữa hai chế độ thần chủ và quân chủ, (như sẽ thấy ở Bài Đọc 1 ngày kia, Thứ Sáu tuần này), cũng là một con người gương mẫu trong việc lắng nghe tiếng Chúa như được Sách Samuel quyển nhất trong Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại:

 

"Ðèn chầu chưa tắt, Samuel ngủ trong đền thờ Chúa, nơi đặt hòm bia Thiên Chúa. Chúa đã gọi Samuel; cậu trả lời: 'Này con đây', rồi chạy đến Hêli và nói: 'Này con đây, vì thầy gọi con'. Hêli trả lời: 'Ta đâu có gọi, hãy trở về ngủ đi"... Hêli biết Chúa đã gọi Samuel, nên nói với Samuel: 'Hãy đi ngủ, và nếu Người còn gọi con, thì con nói rằng: Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe. Samuel trở về chỗ mình và ngủ lại. Chúa đến gần và gọi Samuel như những lần trước: 'Samuel! Samuel!' Và Samuel thưa: 'Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe'".

 

Nhờ liên lỉ lắng nghe tiếng Chúa và đáp ứng tiếng Ngài như thế, chàng Samuel tuổi trẻ tài cao và đức cả này mới có thể: "ngày càng lớn lên. Chúa hằng ở cùng cậu, và cậu không để rơi mất lời nào của Chúa. Toàn dân Israel, từ Ðan tới Bersabê, đều nhận biết Samuel là tiên tri trung thực của Chúa".

 

Bài Đáp Ca hôm nay hoàn toàn phản ảnh tinh thần và đời sống của chẳng những chàng Samuel trong Bài Đọc 1 hôm nay, mà còn cả chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế là "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trong Bài Phúc Âm cùng ngày nữa, vì cả hai chỉ tìm làm theo ý của Thiên Chúa mà thôi:

 

1) Con đã cậy trông, con đã cậy trông ở Chúa, Ngài đã nghiêng mình về bên con, và Ngài đã nghe tiếng con kêu cầu. Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa, không theo kẻ thờ thần tượng, không hướng về chuyện gian tà.

 

2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi hy lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến". 

 

3) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con. 

 

4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong đại hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi. 

 

Ngày 13: 1. Thánh Hilariô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh (315-369)

 

Hilariô cất tiếng khóc chào đời năm 315 tại Aquitaine nước Pháp, trong một gia đình thế giá. Ngay từ nhỏ cậu đã hấp thụ một nền giáo dục đầy đủ. Nhờ đó cậu đã vượt trội hơn bạn hữu về đức tính ngay thẳng và trong sạch. Trong thời niên thiếu, Hilariô đã say mê văn chương và triết lý. Nhờ những giây phút đắm chìm trong suy tưởng, ngài đã tìm thấy Ðấng Tối Cao duy nhất đáng tôn thờ, đúng như lời Givê đã phán trong Cựu Ước: "Ta là Ðấng tự hữu". Bằng một niềm xác tín sâu xa, ngài đã trở lại Công Giáo và lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Với tính cách nhân đức và tài hùng biện, ngài đã là chứng nhân sống động của Chúa Giêsu.

 

Năm 350, ngài được chọn làm Giám Mục Poitiers. Nhiệt thành chu toàn chức vụ Chúa đã trao phó, ngài đã trở thành ánh đuốc hướng dẫn dân Chúa những ngày tháng đen tối do bè rối Ariô gây nên. Lúc bấy giờ Ariô vì kiêu ngạo đã không chấp nhận quyền bính Giáo Hội, chối bỏ Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Lý thuyết sai lạc của Ariô được một số Giám Mục nghe theo và được hoàng đế Constance trợ giúp. Trước nguy cơ đó, ngài đã triệu tập công đồng các Giám Mục để ra vạ tuyệt thông cho Ursace và Valens. Nhưng chính bọn lạc giáo đã dùng mưu để nhà vua đày ngài sang Phrygie.

 

Trong suốt thời gian lao tù, ngài vẫn luôn hướng về địa phận qua thư từ giáo huấn tín hữu. Ngài đã viết bộ tổng luận 12 cuốn, trình bày về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chống lại bè rối Ariô.

 

Bốn năm trôi qua, hoàng đế Constance triệu tập công đồng tại Séleucide và ngài cũng được mời tham dự. Tại đây ngài đã hăng say bênh vực lập trường của Giáo Hội và đã thuyết phục được toàn thể các Giám Mục. Bọn lạc giáo sợ bị thất bại chua cay nên đã bàn với hoàng đế cho ngài được hồi hương.

 

Ngày trở về Poitiers của ngài đã đem cho nước Pháp niềm vui mừng trọng đại và ngày ấy còn được ghi dấu bằng một phép lạ: ngài đã làm cho một em bé chết chưa kịp Rửa Tội sống lại.

 

Với tuổi già sức yếu ngài vẫn luôn làm tròn sứ mạng giảng giáo và tiếp tục viết nhiều sách có giá trị. Sau cùng Chúa đã gọi ngài về trời ngày 13/01/369.

 

 

 Thể theo lời yêu cầu của các đức Giám Mục họp tại Bordeaux, Ðức Thánh Cha Piô IX đã long trọng truy phong ngài tước vị Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 10/01/1852.

 

 

 

Thứ Năm

 

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: (năm II) 1 Sm 4, 1-11

 

"Israel thất trận và hòm bia Thiên Chúa bị chiếm đoạt".

 

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

 

Trong những ngày ấy, những người Philitinh kéo đến gây chiến, và Israel phải xuất quân chống lại và đóng binh tại gần nơi gọi là Tảng Ðá Phù Hộ, còn người Philitinh đóng quân tại Aphê và giàn trận đánh dân Israel. Vừa giáp trận, dân Israel đã phải rút lui trốn khỏi quân Philitinh; và trong trận đó có khoảng bốn ngàn binh sĩ bị giết rải rác khắp đồng ruộng. Khi tàn quân trở về trại, các kỳ lão Israel nói rằng: "Tại sao hôm nay Thiên Chúa sát hại chúng ta trước mặt quân Philitinh? Chúng ta hãy đem hòm bia Thiên Chúa từ Silô đến giữa chúng ta, để cứu chúng ta khỏi tay quân thù".

 

Rồi dân chúng phái người đến Silô đem hòm bia Thiên Chúa các đạo binh ngự trên các vệ binh thần (tới). Hai con Hêli là Ophni và Phinê cùng đi theo hòm bia Thiên Chúa. Và khi hòm bia Thiên Chúa đến trại, toàn dân Israel lớn tiếng hoan hô vang trời dậy đất. Quân Philitinh nghe tiếng hoan hô, liền hỏi nhau rằng: "Tại sao trong trại quân Do-thái có tiếng hò la vang dậy?" Khi biết là hòm bia Thiên Chúa đã đến giữa trại, quân Philitinh sợ hãi và nói: "Thiên Chúa đã ngự đến trại quân địch". Rồi chúng kêu than rằng: "Vô phúc cho chúng ta, mấy bữa nay đâu có tiếng hò la như vậy. Thật vô phúc cho chúng ta. Ai sẽ cứu chúng ta thoát khởi tay những vị thần minh cao siêu đó? Ðây là những thần minh đã giáng biết bao tai hoạ trên những người Ai-cập nơi hoang địa. Hỡi người Philitinh, hãy can đảm và hiên ngang, đừng chịu làm nô lệ dân Do-thái như chúng đã làm nô lệ chúng ta. Hãy can đảm mà chiến đấu". Vậy người Philitinh giao chiến, và dân Israel bị bại trận, và mạnh ai nấy chạy về trại mình. Và thật là một đại hoạ, bên Israel có đến ba mươi ngàn bộ binh tử trận. Hòm bia Thiên Chúa cũng bị chiếm đoạt. Cả hai con Hêli là Ophni và Phinê cũng tử trận.

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 43, 10-11. 14-15. 24-25

Ðáp: Lạy Chúa, xin cứu chúng con theo lòng từ bi của Chúa (c. 27b).

 

Xướng: 1) Nay Chúa đã xua đuổi và để chúng con đầy nhuốc hổ, Chúa không xuất trận với quân đội chúng con. Chúa đã bắt chúng con phải tháo lui trước quân thù, và những kẻ thù ghét chúng con tha hồ cướp của. - Ðáp.

 

2) Chúa đã để chúng con bị lân bang chế diễu, bị những kẻ chung quanh phỉ báng chê cười. Bị các quốc gia tha hồ chế nhạo, và bị các dân tộc trông thấy lắc đầu. - Ðáp.

 

3) Ôi lạy Chúa, xin hãy tỉnh dậy, sao Chúa vẫn ngủ? Xin hãy bừng tỉnh và đừng xua đuổi chúng con muôn đời. Sao Chúa lại ẩn giấu thiên nhan, Chúa quên lãng cảnh chúng con chịu thống khổ và áp bức? - Ðáp.

 

Alleluia: 1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 1, 40-45

 

"Bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

 

Khi ấy, có một người bệnh cùi đến van xin Chúa Giêsu và quỳ xuống thưa Người rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch". Ðộng lòng thương, Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy và nói: "Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh". Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch. Nhưng Người nghiêm nghị bảo anh đi ngay và dặn rằng: "Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môsê, để minh chứng mình đã được khỏi bệnh". Nhưng đi khỏi, người ấy liền cao rao và loan truyền tin đó, nên Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được. Người dừng lại ở ngoài thành, trong những nơi vắng vẻ, và người ta từ khắp nơi tuôn đến cùng Người.

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

 

Suy niệm

 

  ​

Đức Kitô lành sạch

 

 

Thứ Năm trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay, bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô được Giáo Hội chọn đọc lại có một nội dung hoàn toàn giống như bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho ngày 11/1 hay Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh và một ngày trước Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa.

 

Thật vậy, nội dung của hai bài Phúc Âm của hai thánh ký khác nhau đều thuật lại về sự kiện Chúa Giêsu chữa lành cho một người phong cùi, với những chi tiết hầu như hoàn toàn giống nhau, nhất là ở các câu đối đáp giữa nạn nhân đương sự và Chúa Giêsu là Đấng chữa lành cho nạn nhân:

 

1- "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch". 2- "Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh". 3- "Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môsê, để minh chứng mình đã được khỏi bệnh".

 

Ý nghĩa khác biệt của hai bài Phúc Âm có nội dung giống nhau này là ở chỗ, mỗi bài đều phản ảnh chủ đề thích hợp cho mùa phụng vụ của mình. Trong khi bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho ngày 11/1 hay Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh và trước Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa thích hợp với chủ đề "Lời ở giữa chúng ta" của Mùa Giáng Sinh, thì bài Phúc Âm của Thánh ký Marco cho Thứ Năm Tuần I Thưởng Niên hôm nay lại thích hợp với chủ đề "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh. 

 

Đúng thế, nạn nhân bị "bệnh cùi" trong bài Phúc Âm hôm nay đã được chữa cho lành sạch là nhờ "ân sủng" của "Người Con đến từ Cha" đã "động lòng thương" đương sự, bằng một lời truyền chữa lành "'Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh'. Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch", đúng như "sự thật" mà Người mong muốn.

 

"Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" này còn truyền dạy cho nạn nhân đương sự vừa được Người chữa cho lành sạch 2 điều cũng liên quan đến "ân sủng và chân lý", đó là "Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môsê, để minh chứng mình đã được khỏi bệnh".

Hành động để đáp lại "ân sủng" mà nạn nhân đương sự nhận được qua biến cố được lành sạch phong cùi đó là đương sự nạn nhân cần phải "dâng của lễ", và hành động tỏ ra chấp nhận cùng hưởng ứng "chân lý" của đương sự nạn nhân này đó là đương sự nạn nhân cần phải "đi trình diện cùng trưởng tế... để minh chứng (sự thật là quả thực) mình đã được khỏi bệnh".

 

Trong Bài Đọc 1 hôm nay được trích từ Sách Samuel cuốn 1 về trường hợp "những người Philitinh kéo đến gây chiến, và Israel phải xuất quân chống lại... Vừa giáp trận, dân Israel đã phải rút lui trốn khỏi quân Philitinh; và trong trận đó có khoảng bốn ngàn binh sĩ bị giết rải rác khắp đồng ruộng".

 

Bị bại trận, "các kỳ lão Israel" mới đặt vấn đề và tìm cách giải quyết, một cách giải quyết mà họ tin chắc rằng khôn ngoan nhất và chắc ăn nhất, theo kinh nghiệm lịch sử muôn thuở của họ. Vấn đề được họ đặt ra và quyết định thực hiện như sau: "Tại sao hôm nay Thiên Chúa sát hại chúng ta trước mặt quân Philitinh? Chúng ta hãy đem hòm bia Thiên Chúa từ Silô đến giữa chúng ta, để cứu chúng ta khỏi tay quân thù".

 

Không biết câu trả lời của họ ra sao cho câu tự vấn của họ về trường hợp bị thảm bại của họ, nhưng căn cứ vào cách giải quyết của họ chúng ta có thể suy đoán ra rằng tại vì họ tự mình chiến đấu, không có Thiên Chúa chiến đấu cho họ, bởi thế họ phải cậy vào quyền năng của Chúa họ mới có thể thắng đươc quân thù. Đó là lý do họ đã cương quyết tiền hành quyết định của mình đó là "phái người đến Silô đem hòm bia Thiên Chúa các đạo binh ngự trên các vệ binh thần (tới)". 

 

Vì "hòm bia Thiên Chúa" tiêu biểu cho sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa, nên, về phía dân Do Thái, "khi hòm bia Thiên Chúa đến trại, toàn dân Israel lớn tiếng hoan hô vang trời dậy đất", và về phía đối phương của họ là "quân Philitinh sợ hãi và nói: 'Thiên Chúa đã ngự đến trại quân địch'", đến độ thành phần đối phương này đã "kêu than rằng: 'Thật vô phúc cho chúng ta. Ai sẽ cứu chúng ta thoát khởi tay những vị thần minh cao siêu đó? Ðây là những thần minh đã giáng biết bao tai hoạ trên những người Ai-cập nơi hoang địa'".

 

Tuy nhiên, quân địch của dân Do Thái vẫn cố gắng trấn an nhau và đoàn kết chiến đấu cho đến cùng, bất chấp Thiên Chúa của dân Do Thái có xuất trận đi nữa: "Hỡi người Philitinh, hãy can đảm và hiên ngang, đừng chịu làm nô lệ dân Do-thái như chúng đã làm nô lệ chúng ta. Hãy can đảm mà chiến đấu". 

 

Thật không ngờ, hoàn toàn không ngờ, lòng tin tưởng của dân Do Thái đã chẳng những không được đáp ứng, mà họ còn bị mất cả chính "hòm bia Thiên Chúa" nữa:

 

"Vậy người Philitinh giao chiến, và dân Israel bị bại trận, và mạnh ai nấy chạy về trại mình. Và thật là một đại họa, bên Israel có đến ba mươi ngàn bộ binh tử trận. Hòm bia Thiên Chúa cũng bị chiếm đoạt. Cả hai con Hêli là Ophni và Phinê cũng tử trận".

 

Cho dù dân Do Thái có hoàn toàn bị thảm bại, bị thất trận một cách trầm trọng chưa bao giờ thấy như thế, Thiên Chúa vẫn có thể tỏ mình ra cho họ và nơi họ, tỏ mình ra một cách tỏ tường hơn bao giờ hết. Ở chỗ, qua lần thất trận hết sức thảm thương này, dân của Ngài mới ý thức được rằng: 

 

1- Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ không phải chỉ ở với họ mà còn có thể ở với cả dân ngoại thậm chí là chính quân thù của họ nữa, nếu họ không trung thành với Ngài, trong khi dân ngoại lại nhận biết Ngài ở với họ; 

 

2- Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ phải là chính nguồn mạch và là cùng đích của họ, chứ không phải chỉ là phương tiện để cấp thời cứu nguy họ, để cứu lấy danh dự của họ hơn là cho Thiên Chúa được vinh quang; 

 

3- Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ phải được họ liên lỉ tôn thờ và kính mến, bằng không, Ngài dù có trung thành với họ bất chấp mọi bất trung của họ, nhưng vẫn có thể bỏ họ để họ nghĩ lại mà trở về với Ngài, như Bài Đáp Ca hôm nay trung thực phản ảnh tâm trạng của họ sau đây: 

 

1) Nay Chúa đã xua đuổi và để chúng con đầy nhuốc hổ, Chúa không xuất trận với quân đội chúng con. Chúa đã bắt chúng con phải tháo lui trước quân thù, và những kẻ thù ghét chúng con tha hồ cướp của. 

 

2) Chúa đã để chúng con bị lân bang chế diễu, bị những kẻ chung quanh phỉ báng chê cười. Bị các quốc gia tha hồ chế nhạo, và bị các dân tộc trông thấy lắc đầu. 

 

 

 

 

3) Ôi lạy Chúa, xin hãy tỉnh dậy, sao Chúa vẫn ngủ? Xin hãy bừng tỉnh và đừng xua đuổi chúng con muôn đời. Sao Chúa lại ẩn giấu thiên nhan, Chúa quên lãng cảnh chúng con chịu thống khổ và áp bức? 

 

 

  

 

Thứ Sáu

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: (năm II) 1 Sm 8,4-7.10-22a

 

"Các ngươi sẽ ca thán vì nhà vua, nhưng Chúa sẽ không nhậm lời các ngươi, vì các ngươi đã xin ban cho các ngươi một nhà vua".

 

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

 

Trong những ngày ấy, tất cả các kỳ lão Israel tập họp lại và đến cùng Samuel ở Ramtha, và nói với người rằng: "Nay ông đã già rồi và con cái ông không đi trong đường lối của ông; vậy ông hãy đặt lên cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi, như tất cả các dân tộc khác".

 

Lời ấy làm cho Samuel phật lòng, vì họ đã nói: "Ông hãy cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi". Samuel cầu nguyện cùng Chúa. Và Chúa phán cùng ông rằng: "Ngươi cứ nghe theo dân trong những gì họ sẽ nói với ngươi, vì không phải họ khinh bỉ ngươi, mà là khinh bỉ Ta, để Ta không còn cai trị họ nữa".

 

Vậy Samuel đã nói tất cả những lời Chúa cho dân nghe khi họ xin một nhà vua. Người nói: "Ðây là quyền bính của vua sẽ cai trị các ngươi: Ông sẽ bắt con trai các ngươi xung vào đoàn chiến xa và đoàn kỵ binh, và họ sẽ chạy trước xa giá của ông. Ông cắt đặt người thì chỉ huy một ngàn, người thì chỉ huy năm mươi binh lính, kẻ thì cày ruộng gặt lúa, người thì chế tạo quân cụ và chiến xa. Còn con gái các ngươi, ông sẽ bắt làm thợ sản xuất dầu thơm, nấu ăn và làm bánh. Còn đồng ruộng các ngươi, vườn nho, vườn ô liu tốt nhất của các ngươi, ông sẽ tịch thu và ban cho các đầy tớ của ông. Ông sẽ đánh thuế một phần mười vào mùa màng và vườn nho các ngươi, để nuôi các vị thái giám và đầy tớ của ông. Ông sẽ bắt tôi tớ trai gái, các thanh niên cường tráng và cả lừa của các ngươi mà xung vào công việc của ông. Ông sẽ đánh thuế một phần mười vào đoàn vật của các ngươi, và chính các ngươi sẽ trở thành nô lệ của ông. Trong ngày đó, các ngươi sẽ ca thán vì nhà vua mà các ngươi tuyển chọn, nhưng Chúa sẽ không nhậm lời các ngươi, vì các ngươi đã xin ban cho các ngươi một nhà vua!"

 

Nhưng dân không muốn nghe lời Samuel, và nói với người rằng: "Không, chúng tôi phải có vua, chúng tôi phải giống như mọi dân tộc khác; nhà vua sẽ xét xử chúng tôi, sẽ đi trước chúng tôi, và sẽ đánh giặc cho chúng tôi". Samuel nghe tất cả những lời dân nói, và thưa lại cùng Chúa. Nhưng Chúa nói cùng Samuel rằng: "Ngươi cứ nghe họ và thiết lập cho họ một nhà vua".

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 88, 16-17. 18-19

 

Ðáp: Tôi sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời (c. 2a).

 

Xướng: 1) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa, họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài. Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa, và tự hào vì đức công minh Ngài. - Ðáp.

 

2) Vì Chúa là vinh quang, quyền năng của họ, nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn. Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa, và vua chúng tôi thuộc về Ðấng Thánh của Israel. - Ðáp.

 

 * * *

 

 Alleluia: Tv 118, 27

 

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 2, 1-12

 

"Con Người có quyền tha tội dưới đất".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

 

Sau ít ngày, Chúa Giêsu lại trở về Capharnaum; nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn đến đông đảo, đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ. Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống. Thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: "Hỡi con, tội lỗi con được tha". Lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó, họ thầm nghĩ rằng: "Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa". Chúa Giêsu biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: "Tại sao các ông nghĩ như thế? Nói với người bất toại này: "Tội lỗi con được tha" hay nói: "Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi", đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất". - Người nói với kẻ bất toại: "Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà". Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ".

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

Suy niệm

 

     Đức Kitô Quyền Linh

   

Hôm nay, Thứ Sáu trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" vẫn tiếp tục phản ảnh nơi một phép lạ đặc biệt khác nữa được Chúa Giêsu thực hiện, chẳng những liên quan đến phần xác của nạn nhân mà còn đến cả phần hồn của đương sự nữa.

 

Đó là trường hợp, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, bấy giờ "Chúa Giêsu lại trở về Capharnaum", sau khi Người từ nhà của hai tông đồ Simon và Anrê ra đi (ở bài Phúc Âm hôm kia), cũng như sau khi Người chữa lành cho một người phong cùi (ở bài Phúc Âm hôm qua), một nơi đã được Người chọn làm như tổng hành dinh của Người để thường xuyên tỏ mình ra, và vì thế nó đã trở thành một nơi "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" trở nên nổi tiếng, đến độ "nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn đến đông đảo, đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ". 

 

Phúc Âm không cho chúng ta biết bấy giờ Người đang ở trong ngôi nhà của ai ở Capharnaum, cũng có thể lại là nhà của anh em Simon và Anrê như bài Phúc Âm Thứ Tư vừa rồi, và nếu quả thực như vậy thì lần này ngôi nhà ấy đã trở thành một ngôi nhà chưa từng thấy xẩy ra trong lịch sử chữa lành của Chúa Giêsu. Ở chỗ, như bài Phúc Âm cho biết:

 

"Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống".

 

Trước một sự kiện chưa từng bao giờ xẩy ra như thế, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" không thể nào không đáp ứng lòng tin tưởng mãnh liệt của họ, lòng tin không phải chỉ của nạn nhân bất toại mà còn của chính những người thân nhân bạn hữu của đương sự, thành phần chẳng những khiêng nạn đến đến với Chúa Giêsu mà còn tìm hết cách để đưa nạn nhân đến tận nơi Người hiện diện nữa, như Phúc Âm hôm nay trình thuật: "Thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: 'Hỡi con, tội lỗi con được tha'".

 

Hình như lần chữa lành này, sau mấy lần chữa lành lần trước từ khi xuất thân công khai thực hiện thừa tác vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình, Chúa Giêsu đã từ từ có ý muốn tỏ mình ra cho chung dân chúng và cho riêng thành phần môn đệ của Người biết thêm về bản thân và sứ vụ của Người, Đấng được Cha sai đến không phải chỉ để chữa lành những hậu quả nguyên tội liên quan đến thân xác của con người là bệnh nạn tật nguyền hay đến tâm thần của con người là bị quỉ ám, mà chính là để cứu con người khỏi tội lỗi của họ là căn nguyên gây ra tình trạng đau khổ trong ngoài như thế.

 

Đó là lý do câu nói bật ra từ môi miệng của Người lần đầu tiên liên quan đền việc tha tội này, một câu nói hình như Người có ý chờ đến lần này mới chính thức công khai thốt lên, có thể là vì bởi Người biết rằng trong đám đông "lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó", (mà mấy lần trước hình như không có, vì tiếng tăm của Người chưa lừng lẫy cho lắm, không đáng họ chú ý và theo dõi), nên Người đã lợi dụng để tỏ mình ra là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" một cách chính xác hơn nữa. 

 

Bởi thế, sau khi chờ phản ứng của thành phần luật sĩ ấy, cho dù họ không dám công khai lên tiếng kẻo bị đụng đến chung dân chúng, mà đối với họ, như đang có vẻ "mù quáng" hay "cuồng tín" chạy theo Người, một phản ứng tự nhiên nổi lên trong óc của từng vị luật sĩ bấy giờ, như Phúc Âm thuật lại: "họ thầm nghĩ rằng: 'Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa'", Chúa Giêsu mới tỏ cho riêng họ và chung dân chúng lần đầu tiên biết vai trò Thiên Sai Cứu Thế cả hồn lẫn xác của loài người qua bài Phúc Âm hôm nay: 

 

"Chúa Giêsu biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: 'Tại sao các ông nghĩ như thế? Nói với người bất toại này: 'Tội lỗi con được tha' hay nói: 'Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi', đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất'. - Người nói với kẻ bất toại: 'Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà'. Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: 'Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ'".

 

Câu hỏi Chúa Giêsu đặt ra cho riêng mấy vị luật sĩ đang ngồi đó bấy giờ là "'Tội lỗi con được tha" hay nói: 'Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi', đàng nào dễ hơn?" hoặc "đằng nào đúng hơn" cũng thếBởi vì, về phía Thiên Chúa, Ngài chỉ cần cứu linh hồn con người, bằng cách tha tội cho con người, thì con người được cứu độ, được cứu độ cả hậu quả tội lỗi của họ là những gì họ phải gánh chịu nơi thể xác lẫn tâm thần của họ. Thế nhưng, về phía loài người, sự kiện họ được chữa lành cho khỏi các hậu quả của tội lỗi mới là dấu chứng thực họ thật sự được cứu độ.

 

Bởi thế, để chiều theo cùng đáp ứng thị hiếu và xu hướng thực nghiệm không phải là hoàn toàn vô lý của loài người, nhờ đó chính họ mới có thể thấy được phần nào "tất cả sự thật" (Gioan 13:16) về "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Chúa Giêsu đã chữa lành cho cả thân xác bất toại của nạn nhân đương sự, một tật nguyền chẳng những là hậu quả của nguyên tội, mà còn là biểu hiệu cho tác dụng của tội lỗi là những gì đã khiến con người vốn được dựng nên để sống tự do đã trở thành bại liệt, bất lực và bất động, một tình trạng về linh hồn vô cùng trầm trọng liên quan đến phần rỗi đời đời của con người mới là những gì trên hết và trước hết cần phải được cứu độ và được giải thoát.

 

Nếu trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã lợi dụng cái thắc mắc chính đáng của mấy vị luật sĩ về thẩm quyền tha tội của Người, thì trong Bài Đọc 1 cho năm chẵn hôm nay cũng thế, Thiên Chúa cũng đã có ý lợi dụng đòi hỏi chính đáng của dân Do Thái bấy giờ đã trưởng thành hơn về ý thức hệ tự lập của họ để tiếp tục tỏ mình ra cho họ.

 

Đúng thế, sau khi được Thiên Chúa sai Moisen giải cứu họ ra khỏi Ai Cập, nơi họ đã sống 430 năm (xem Xuất Hành 12:40), cũng như sau khi vào Đất Hứa qua 40 năm hành trình băng qua sa mạc, họ đã được chính Thiên Chúa hướng dẫn khoảng thời gian 365 năm dưới quyền lãnh đạo của 15 vị được gọi là Quan Án (Judges) trong giai đoạn này, giờ đây, với ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc chung quanh, họ ngỏ ý muốn lập quốc theo chế độ quân chủ (hoàn toàn tự lập bằng các vị vua của họ, dù vua cũng được Thiên Chúa chọn lựa và xức dầu phong vương, nghĩa là cũng từ Chúa mà đến và phải được Ngài công nhận), thay vì chế độ thần chủ (do chính Chúa hướng dẫn họ qua các trung gian loài người được Ngài tuyển chọn).

 

Đó là lý do, bài Đọc 1 hôm nay đã trình thuật về sự kiện cũng là biến cố lịch sử đổi đời chưa từng thấy trong dân Do Thái bấy giờ, dưới thời của vị tư tế kiêm tiên tri Samuel như sau: "Trong những ngày ấy, tất cả các kỳ lão Israel tập họp lại và đến cùng Samuel ở Ramtha, và nói với người rằng: 'Nay ông đã già rồi và con cái ông không đi trong đường lối của ông; vậy ông hãy đặt lên cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi, như tất cả các dân tộc khác'".

 

Tất nhiên, bất cứ một biến đổi đột ngột nào cũng gây ra tình trạng hay hiện tượng chao đảo nơi con người, nhất là một con người truyền thống và trung thành với Thiên Chúa như Samuel, một con người đạo hạnh nhưng con cái lại hư thân, (giống như trường hợp của những cha mẹ đạo đức ngày nay có những đứa con chẳng ra làm sao vậy). Bởi thế, Bài Đọc 1 hôm nay mới có câu: "Lời ấy làm cho Samuel phật lòng, vì họ đã nói: 'Ông hãy cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi'". 

 

Thế rồi, cho dù "Chúa phán cùng ông rằng: 'Ngươi cứ nghe theo dân trong những gì họ sẽ nói với ngươi, vì không phải họ khinh bỉ ngươi, mà là khinh bỉ Ta, để Ta không còn cai trị họ nữa'", Samuel cũng hết sức cố gắng thuyết phục đám dân chúng đáng thương để họ từ bỏ ý nghĩ có vẻ phản loạn của họ đi, trong đó ông còn kèm theo lời đe dọa về hậu quả tai hại khôn lường có thể gây ra bởi chọn lựa ngang trái này của họ, mà ông vẫn không thành công, như đoạn kết của Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

 

"Nhưng dân không muốn nghe lời Samuel, và nói với người rằng: 'Không, chúng tôi phải có vua, chúng tôi phải giống như mọi dân tộc khác; nhà vua sẽ xét xử chúng tôi, sẽ đi trước chúng tôi, và sẽ đánh giặc cho chúng tôi'. Samuel nghe tất cả những lời dân nói, và thưa lại cùng Chúa. Nhưng Chúa nói cùng Samuel rằng: 'Ngươi cứ nghe họ và thiết lập cho họ một nhà vua'".

 

Chiều hướng và đòi hỏi của dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay tỏ ra như thể không muốn an phận, trái lại, có ý muốn tự lập hơn là theo chế độ thần chủ, hoàn toàn ngược lại với ý thức hệ và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca tuy thế đã phản ảnh tâm tình của Tiên Tri Samuel, vị đã cố gắng thuyết phục họ sống trung thành với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ:

 

1) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa, họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài. Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa, và tự hào vì đức công minh Ngài. 

 

 

 2) Vì Chúa là vinh quang, quyền năng của họ, nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn. Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa, và vua chúng tôi thuộc về Ðấng Thánh của Israel. 

 

 

 

Thứ Bảy

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: (năm II) 1 Sm 9, 1-4. 17-19; 10, 1a

 

"Này là người mà Chúa nói đến. Saolê sẽ cai trị dân Người".

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.           

 

Lúc bấy giờ có một người thuộc dòng dõi Bengiamin tên là Cis, con trai của Abiel, Abiel con ông Sêror, Sêror con ông Bêcora, Bêcora con ông Aphia, Aphia con một người dòng dõi Bengiamin. Cis là một người cường tráng. Ông có một con trai tên là Saolê rất đẹp trai và tốt lành, không một con cái Israel nào xinh đẹp bằng chàng và anh ta cao hơn mọi người từ vai trở lên.

 

Vậy ông Cis, cha của Saolê, lạc mất mấy con lừa cái, nên ông bảo con ông là Saolê rằng: "Con hãy đem một đứa đầy tớ theo con, và đi tìm mấy con lừa". Họ đi khắp miền núi Ephraim, sang vùng Salisa mà không tìm thấy, họ liền sang vùng Salim, cũng không tìm thấy, đoạn qua vùng Giêmin, cũng chẳng thấy.

 

Khi Samuel vừa thấy Saolê, thì Chúa phán cùng ông rằng: "Này là người Ta đã nói với ngươi, chính người này sẽ cai trị dân Ta". Saolê đến gần Samuel đang đứng ở giữa cửa và nói rằng: "Tôi xin ông làm ơn chỉ giùm nhà của vị tiên tri ở đâu?" Samuel trả lời Saolê rằng: "Chính tôi là vị tiên tri đây; xin mời anh đi trước tôi lên lầu, để hôm nay các anh sẽ dùng bữa với tôi, rồi ngày mai tôi sẽ cho anh về. Tất cả những gì anh đang có trong lòng, tôi sẽ chỉ bảo cho anh".

 

Samuel lấy bình dầu đổ trên đầu Saolê, rồi hôn anh và nói rằng: "Ðây Thiên Chúa xức dầu phong anh làm vua thống trị cơ nghiệp của Người, và anh sẽ cứu dân Người thoát khỏi kẻ thù ở chung quanh".

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

Ðáp Ca: Tv 20, 2-3. 4-5. 6-7

 

Ðáp: Lạy Chúa, do quyền năng Chúa mà vua vui mừng (c. 2a).

 

Xướng: 1) Lạy Chúa, do quyền năng Chúa mà vua vui mừng, do ơn Chúa phù trợ, vua bao xiết hân hoan! Chúa đã ban cho sự lòng vua ao ước, và điều môi miệng vua xin, Chúa chẳng chối từ. - Ðáp.

 

2) Chúa đã tiên liệu cho vua được phước lộc, may mắn, đã đội triều thiên vàng ròng trên đầu vua. Vua xin Chúa cho sống lâu, thì Chúa đã ban cho một chuỗi ngày dài tới muôn thuở. - Ðáp.

 

3) Nhờ Chúa giúp mà vua được vinh quang cao cả, Chúa khoác lên người vua, oai nghiêm với huy hoàng. Chúa đã khiến vua nên mục tiêu chúc phúc tới muôn đời, Chúa đã cho vua được hân hoan mừng rỡ trước thiên nhan. - Ðáp.

 

* * *

 

Alleluia: Tv 129, 5

Alleluia, alleluia! - Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. - Alleluia.

 

 

Phúc Âm: Mc 2, 13-17

"Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

 

Khi ấy Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển, toàn dân đến cùng Người và Người giảng dạy họ. Khi vừa đi qua, Người thấy ông Lêvi con của Alphê, đang ngồi nơi bàn thu thuế. Người bảo ông: "Hãy theo Ta". Ông liền đứng dậy theo Người. Và xảy ra là khi Người dùng bữa tại nhà ông, nhiều người thu thuế và tội lỗi cùng đồng bàn với Chúa Giêsu và các môn đệ của Người, vì đã có nhiều kẻ theo Người. Những luật sĩ và biệt phái thấy Người ngồi ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi, liền nói với các môn đệ Người rằng: "Tại sao thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi?" Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo họ: "Những người khoẻ mạnh không cần gì đến thầy thuốc, nhưng là những người đau yếu. Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi".

Ðó là lời Chúa.

 

 

 

Suy niệm

 

    Đức Kitô lương y  

  

Ngày Thứ Bảy cuối Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay, bài Phúc Âm tiếp tục chủ đề của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", một chủ đề càng sâu sắc và rõ ràng hơn nữa qua sự kiện Chúa Giêsu tuyển chọn một người môn đệ đặt biệt nhất trong thành phần môn đệ của Người:

 

"Khi ấy Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển, toàn dân đến cùng Người và Người giảng dạy họ. Khi vừa đi qua, Người thấy ông Lêvi con của Alphê, đang ngồi nơi bàn thu thuế. Người bảo ông: 'Hãy theo Ta'. Ông liền đứng dậy theo Người". 

 

Trong trường hợp của nhân vật Lêvi là chính Tông Đồ Mathêu sau này trong bài Phúc Âm hôm nay lại càng cho thấy hấp lực vô cùng mãnh liệt hầu như bất khả chống cưỡng của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý".

 

Thật vậy, trong trường hợp 4 chàng thanh niên môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu là 2 cặp anh em Simon và Anrê cũng như Giacôbê và Gioan, ở bài Phúc Âm Thứ Hai đầu tuần này, đã cho thấy sức thu hút lạ lùng của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này rồi, nhưng, so với lần này, hình như chưa mãnh liệt bằng. 

 

Bởi vì, 4 chàng môn đệ đầu tiên chỉ là thành phần dân chài lưới chất phác mộc mạc đơn sơ chân thành, trong khi đó nhân vật Levi thu thuế được Chúa Giêsu bất ngờ kêu gọi trong bài Phúc Âm hôm nay lại thuộc thành phần vẫn bị xã hội Do Thái nghi kỵ và cho là đồ phản quốc, tội lỗi, tham lam, gian lận v.v., nghĩa là một con người hoàn toàn ngược lại với tinh thần trọn lành và con đường chật hẹp của Chúa Kitô. Ấy thế mà, chỉ cần một lời kêu gọi ngắn gọn "'Hãy theo Ta'. Chàng liền đứng dậy theo Người", Đng mà chẳng biết chàng thanh niên thu thuế này đã từng bao giờ được gặp hay được nghe Người bao giờ chưa.

 

Chưa hết, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này sở dĩ có thể tự mình dễ dàng và chớp nhoáng chộp bắt được một tay thu thuế như Levi, còn nhờ ở nơi chính bản thân của đương sự nữa, một con người cho dù hành nghề phản quốc và gian lận về tiền bạc, nhưng tự bản chất vốn có một tấm lòng rất chân thành và vẫn khao khát thần linh, dường như càng sống trong tăm tối tội lỗi càng mong tìm thấy "ánh sáng chân thật" (Gioan 1:9), cho nên khi vừa được "ánh sáng chân thật" chiếu soi tới là chàng thanh niên giầu sang này liền bị thu hút lập tức. 

 

Trong thành phần thu thuế ở xã hội Do Thái bấy giờ chỉ có một mình nhân vật Lêvi này được chọn làm tông đồ của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này thôi. Việc tuyển chọn một nhân vật thu thuế tội lỗi này cho thấy Thiên Chúa "muốn thương ai thì thương" (Roma 9:18), và như thế "ân sủng" của Ngài cũng chính là "chân lý" của Ngài, hay ngược lại, "chân lý" mà Thiên Chúa muốn thông đạt cho con người đó chính là "ân sủng" của Ngài, là tình thương của Ngài. Theo chiều hướng ấy, vị giáo hoàng đương kim Phanxicô đã lấy khẩu hiệu rất hợp với chủ trương và đường hướng giáo triều của ngài hiện nay: "vì thương được chọn -  Miserando atque eligendo". 

 

Tuy nhiên, một khía cạnh nữa về "chân lý" hết sức quan trọng được Thiên Chúa luôn tỏ cho thấy đó là "ân sủng" của Ngài không phải ban riêng cho bất cứ một cá nhân nào, tùy theo tình thương của Ngài, chỉ để cho cá nhân ấy hoan hưởng một mình thôi, mà là cho chung cộng đồng của cá nhân này nữa. Đó là lý do, bài Phúc Âm hôm nay đã không dừng lại ở chỗ chàng thu thuế Lêvi "đứng dậy theo Người" là xong, trái lại, chàng còn phải đóng vai trò môi giới cho "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này nữa, ở tại nhà của chàng và giữa thân thuộc cùng bằng hữu thu thuế của chàng.

 

"Và xảy ra là khi Người dùng bữa tại nhà chàng, nhiều người thu thuế và tội lỗi cùng đồng bàn với Chúa Giêsu và các môn đệ của Người, vì đã có nhiều kẻ theo Người. Những luật sĩ và biệt phái thấy Người ngồi ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi, liền nói với các môn đệ Người rằng: 'Tại sao thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi?' Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo họ: 'Những người khoẻ mạnh không cần gì đến thầy thuốc, nhưng là những người đau yếu. Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi'".

 

Phải, bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến quyền tha tội của Chúa Giêsu đã được tiếp tục vời bài Phúc Âm hôm nay. Ở chỗ, Chúa Giêsu đã không ngần ngại "ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi?" ngay trước mặt thành phần tự coi mình là công chính biệt phái, một hành động như thể Người muốn ngang hàng với họ, như thể Người "pro" họ, ủng hộ và tán thành cuộc đời tội lỗi của họ. 

 

Người đã không chối cãi về hành động có vẻ ngược đời của mình, một hành động hoàn toàn nghịch lại với bản chất thánh hảo về Ngôi Vị Thần Linh của Người, một bản chất tuyệt hảo không thể nào dung hòa với những gì là bất hảo xấu xa tội lỗi như nơi thành phần tội nhân hôm ấy.

 

Tất nhiên Người không bao giờ chấp nhận tội lỗi của họ, nhưng Người vẫn không bao giờ ruồng bỏ con người tội nhân, và cũng chính vì tội lỗi của họ mà Người lại càng cần phải thương họ hơn ai hết, gần họ hơn người nào hết, và cứu họ hơn bao giờ hết, bởi thế, Người mới khẳng định một cách công khai lần đầu tiên về sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của Người liên quan đến chính thành phần yếu đuối và tội lỗi này như sau: 

 

"Những người khoẻ mạnh không cần gì đến thầy thuốc, nhưng là những người đau yếu. Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi". "Những người khỏe mạnh" và "những người công chính" đây phải chăng Người có ý ám chỉ thành phần biệt phái đang hiện diện trong nhà của chàng thu thuế Lêvi bấy giờ, một chàng thu thuế tiêu biểu và đại diện cho thành phần "đau yếu" và "tội lỗi" cần được Người là vị lương y thần linh chữa lành và cứu độ. 

 

Bài Đọc 1 cho năm chẵn hôm nay liên quan đến việc Thiên Chúa, qua tiên tri Samuel, đã tuyển chọn và xức dầu cho vị vua đầu tiên của dân Do Thái, để đáp ứng lời yêu cầu của họ trong Bài Đọc 1 hôm qua, cũng cho thấy Thiên Chúa "muốn thương ai thì thương".

 

Chính gia đình của đương sự được tuyển chọn và cả đương sự cũng đâu ngờ là mình được Thiên Chúa tuyển chọn làm vị vua đầu tiên của dân Ngài như vậy: 

 

"Vậy ông Cis, cha của Saolê, lạc mất mấy con lừa cái, nên ông bảo con ông là Saolê rằng: 'Con hãy đem một đứa đầy tớ theo con, và đi tìm mấy con lừa'. Họ đi khắp miền núi Ephraim, sang vùng Salisa mà không tìm thấy, họ liền sang vùng Salim, cũng không tìm thấy, đoạn qua vùng Giêmin, cũng chẳng thấy".

 

Cuộc tuyển chọn và xức dầu này xẩy ra như thể ngẫu nhiên tình cờ theo quan niệm của loài người, nhưng lại rơi ngay vào dự án thần linh huyền diệu của Vị Thiên Chúa quan phòng mọi sự:

 

"Khi Samuel vừa thấy Saolê, thì Chúa phán cùng ông rằng: 'Này là người Ta đã nói với ngươi, chính người này sẽ cai trị dân Ta'. Saolê đến gần Samuel đang đứng ở giữa cửa và nói rằng: 'Tôi xin ông làm ơn chỉ giùm nhà của vị tiên tri ở đâu?' Samuel trả lời Saolê rằng: 'Chính tôi là vị tiên tri đây; xin mời anh đi trước tôi lên lầu, để hôm nay các anh sẽ dùng bữa với tôi, rồi ngày mai tôi sẽ cho anh về. Tất cả những gì anh đang có trong lòng, tôi sẽ chỉ bảo cho anh'. Samuel lấy bình dầu đổ trên đầu Saolê, rồi hôn anh và nói rằng: 'Ðây Thiên Chúa xức dầu phong anh làm vua thống trị cơ nghiệp của Người, và anh sẽ cứu dân Người thoát khỏi kẻ thù ở chung quanh'".

 

Vì Thiên Chúa "muốn thương ai thì thương" như thế, mà thành phần được Ngài tỏ tình thương qua việc tuyển chọn họ để làm một việc gì đó của Ngài, như trường hợp của chàng Saulê trong Bài Đọc 1 hôm nay, hay của chàng Lêvi thu thuế trong Bài Phúc Âm hôm nay, cần phải có những nhận thức và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:

 

1) Lạy Chúa, do quyền năng Chúa mà vua vui mừng, do ơn Chúa phù trợ, vua bao xiết hân hoan! Chúa đã ban cho sự lòng vua ao ước, và điều môi miệng vua xin, Chúa chẳng chối từ. 

 

2) Chúa đã tiên liệu cho vua được phước lộc, may mắn, đã đội triều thiên vàng ròng trên đầu vua. Vua xin Chúa cho sống lâu, thì Chúa đã ban cho một chuỗi ngày dài tới muôn thuở. 

 

3) Nhờ Chúa giúp mà vua được vinh quang cao cả, Chúa khoác lên người vua, oai nghiêm với huy hoàng. Chúa đã khiến vua nên mục tiêu chúc phúc tới muôn đời, Chúa đã cho vua được hân hoan mừng rỡ trước thiên nhan.