VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
1-
HIẾN
CHẾ
VỀ
PHỤNG
VỤ
THÁNH
(SACROSANCTUM
CONCILIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
Lời
Giới
Thiệu
Các
mầu
nhiệm
Phụng
Vụ
là
"chóp
đỉnh"
sinh
hoạt
của
Giáo
Hội
đồng
thời
cũng
là
nguồn
mạch
các
nhân
đức.
Dầu
Giáo
Hội
luôn
luôn
sống
mật
thiết
với
các
mầu
nhiệm
Phụng
Vụ,
nhưng
trong
lịch
sử,
trước
Vaticanô
II
chưa
có
Công
Ðồng
nào
lại
dành
cả
một
Hiến
Chế
để
bàn
tới
Phụng
Vụ
với
một
thời
gian
khá
lâu
để
chuẩn
bị,
thảo
luận
và
biểu
quyết.
Một
vài
Công
Ðồng
cũng
đã
đặt
vấn
đề
nhưng
chỉ
chú
trọng
đặc
biệt
tới
ít
nhiều
nguyên
tắc
hoặc
lên
án
những
sai
lầm
tín
lý.
Thực
là
may
mắn,
một
Phong
Trào
Phụng
Vụ
đã
nảy
sinh
trong
thời
chúng
ta.
Ðây
là
"một
trong
những
hồng
ân
lớn
lao
Thiên
Chúa
đã
ban
cho
kỷ
nguyên
này!"
1.
Nhờ
đó,
người
ta
đã
bắt
đầu
suy
luận
về
Phụng
Vụ
một
cách
sâu
xa
và
chín
chắn,
mang
tính
chất
thần
học
và
mục
vụ.
Và
vì
vậy,
Dân
Chúa
ngày
một
ý
thức
về
vai
trò
quan
trọng
của
Phụng
Vụ
trong
đời
sống
Kitô
hữu
và
Giáo
Hội.
Hiến
Chế
về
"Phụng
Vụ
Thánh"
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II
hướng
dẫn
phong
trào
này
đến
chỗ
tuyệt
đỉnh
và
mở
ra
một
kỷ
nguyên
mới
cho
đời
sống
cầu
nguyện
của
Giáo
Hội.
Hoàn
cảnh
lịch
sử
Trước
Công
Ðồng
Tridentinô
(kết
thúc
vào
năm
1563)
nền
Phụng
Vụ
theo
nghi
thức
Rôma
đã
bị
coi
là
quá
cổ
kính.
Phụng
Vụ
được
phát
triển
và
thay
đổi
nhưng
chỉ
phát
triển
ở
những
yếu
tố
bên
ngoài
theo
sáng
kiến
nhân
loại
bằng
cách
thêm
những
cử
điệu
và
nghi
thức
trang
trọng.
Các
nghi
thức
này
chắc
chắn
chỉ
thích
hợp
với
thời
đại
còn
nhiều
người
chưa
biết
đọc
biết
viết
và
cho
một
số
ít
người
trí
thức
hiểu
được
tiếng
La
tinh,
một
ngôn
ngữ
hầu
như
là
chính
thức
của
một
xã
hội
chịu
quá
nhiều
ảnh
hưởng
của
giáo
sĩ
và
Giáo
Hội.
Thế
rồi,
thế
giới
ngày
một
biến
đổi
với
việc
phát
minh
ngành
báo
chí,
với
thuyết
nhân
bản,
với
những
trào
lưu
văn
hóa,
với
văn
chương
lãng
mạn
(do
đó,
tiếng
Latinh
suy
yếu
dần
dần),
với
xã
hội
ngày
một
bị
trần
tục
hóa
v.v...
Theo
đà
tiến
hóa
này,
tâm
thức
con
người
cũng
thay
đổi
sâu
xa
về
quan
niệm
đối
với
Giáo
Hội
và
việc
phụng
tự.
Do
đó
Phụng
Vụ
trở
nên
một
thứ
kinh
nguyện
ngày
càng
xa
lạ
và
bí
nhiệm
đối
với
dân
chúng.
Họ
tham
dự
với
lòng
tin
tưởng
nhưng
thụ
động
và
âm
thầm
chẳng
khác
gì
chứng
kiến
một
động
tác
riêng
của
hàng
giáo
sĩ.
Trong
khi
đó,
họ
chỉ
nuôi
dưỡng
lòng
đạo
bằng
cách
gia
tăng
nhiều
việc
đạo
đức
cá
nhân.
Công
Ðồng
Tridentinô
cũng
nhìn
thấy
rõ
sự
kiện
này
2.
Tuy
nhiên
Công
Ðồng
chỉ
chú
trọng
bảo
vệ
giá
trị
một
vài
chân
lý
của
các
bí
tích
bị
phái
Tin
Lành
đem
ra
mổ
xẻ:
như
sự
công
hiệu
của
bí
tích,
hiến
tế
tạ
ơn,
sự
hiện
diện
thực
sự
của
Chúa
trong
phép
Thánh
Thể,
chức
linh
mục
thừa
tác...
Với
chủ
đích
chống
lại
sự
canh
tân
của
Tin
Lành,
Công
Ðồng
phải
dừng
lại
ở
lập
trường
bảo
thủ
với
những
nguyên
tắc
khắt
khe.
Thái
độ
này
đương
nhiên
hạn
chế
"việc
cập
nhật
hóa"
Phụng
Vụ.
Từ
khi
cải
tổ
sách
Phụng
Vụ
theo
huấn
thị
Công
Ðồng
Triđentinô
người
ta
nói
rằng
Phụng
Vụ
Rôma
có
tính
cách
bất
động
và
cố
định
vì
những
qui
luật
dường
như
bất
di
bất
dịch.
Ngôn
ngữ
dùng
ở
đó
là
ngôn
ngữ
chết
và
được
coi
như
không
thể
thay
thế
được
nữa.
Các
nghi
thức
cổ
truyền
này
phải
được
duy
ttrì
và
cử
hành
đúng
như
đã
ghi
chú
tỉ
mỉ
trong
sách
chữ
đỏ,
cho
dù
nhiều
người
không
hiểu
nguồn
gốc
và
dấu
hiệu
tượng
trưng
bí
nhiệm
của
chúng.
Các
qui
tắc
Phụng
Vụ
này
áp
dụng
cho
mọi
nơi,
cả
các
nơi
truyền
giáo
nữa
(vì
sau
Công
Ðồng
Triđentinô
là
thời
kỳ
hưng
thịnh
của
công
cuộc
tryền
giáo
nên
có
nhiều
xứ
đạo
mới
được
thành
lập).
Khắp
mọi
nơi
đều
áp
dụng
như
nhau:
cùng
những
qui
tắc
tỉ
mỉ
bất
di
bất
dịch,
cùng
một
ngôn
ngữ,
một
tâm
tình
tây
phương
như
vậy.
Giáo
Hội
không
để
ý
tới
tâm
tình,
thói
quen
và
phong
tục
tôn
giáo
nơi
các
dân
tộc
được
chiếu
giãi
ánh
sáng
Phúc
Âm.
Tại
Á
Châu,
một
vài
đề
nghị
đã
được
đem
ra
mổ
xẻ
để
giải
quyết
vấn
đề
thích
nghi
Phụng
Vụ
trong
các
xứ
truyền
giáo.
Việc
thảo
luận
đưa
tới
những
cuộc
bút
chiến
sôi
động
nẩy
lửa
chung
quanh
các
nghi
thức
(chẳng
hạn
nghi
thức
Trung
Hoa).
Kết
cục,
vấn
đề
không
đi
tới
thành
quả
nào
cả.
Mãi
tới
cuối
thế
kỷ
vừa
qua,
ý
hướng
cải
tiến
do
Chúa
Quan
Phòng
linh
ứng
mới
xuất
hiện
trong
Giáo
Hội
và
đã
đem
lại
kết
quả
tốt
đẹp
cho
nền
Phụng
Vụ.
Chính
ý
hướng
này
đã
dọn
đường
cho
việc
"cập
nhật
hóa"
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II.
Phong
Trào
Phụng
Vụ
Những
người
tiên
phong
của
phong
trào
cải
tiến
Phụng
Vụ
cuối
thế
kỷ
vừa
qua
chính
là
các
tu
sĩ
dòng
Benedictô
Solesmes,
Beuron,
Maria
Laach
v.v...
Công
lao
của
họ
được
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
XII
ghi
nhận
trong
Thông
Ðiệp
Mediator
Dei
(số
4).
Tuy
nhiên
người
tiên
phong
đích
thực
của
phong
trào
này
chính
là
Thánh
Giáo
Hoàng
Piô
X
vị
được
mệnh
danh
là
Giáo
Hoàng
của
Bí
Tích
Thánh
Thể.
Trong
Tự
Sắc
"Tra
le
sollicitudini",
ngày
22-11-1903,
Ngài
mong
muốn
giáo
hữu
tham
gia
tích
cực
vào
các
lễ
nghi
Phụng
Vụ,
nguồn
mạch
thứ
nhất
và
cần
thiết
để
nuôi
dưỡng
tinh
thần
Kitô
hữu
(số
3).
Cố
gắng
đầu
tiên
của
phong
trào
này
là
tìm
hiểu
và
đào
sâu
chính
bản
chất
nội
tại
của
Phụng
Vụ.
Những
suy
tư
này
mang
đặc
tính
lịch
sử,
thần
học
và
mục
vụ.
Phong
trào
đã
khơi
lại
nét
phong
phú
chứa
đựng
trong
các
nghi
thức
cũ,
đồng
thời
đem
ra
ánh
sáng
những
nỗ
lực
liên
lỉ
của
Giáo
Hội
qua
các
thời
đại
trong
việc
thích
ứng
những
qui
tắc
nòng
cốt
Phụng
Vụ
cho
mọi
thời
đại
và
cho
mọi
dân
tộc.
Từ
triều
đại
Thánh
Giáo
Hoàng
Piô
X
cho
đến
triều
đại
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
XII,
Giáo
Hội
không
ngừng
tiếp
tục
việc
cải
tiến.
Lúc
ban
đầu,
việc
cải
tiến
này
có
vẻ
dò
dẫm
và
dè
dặt
rồi
mạnh
bạo
dần
theo
đà
tiến
của
việc
tra
cứu
học
hỏi
và
hoàn
cảnh
thuận
lợi
để
phổ
biến.
Người
có
công
lớn
lao
nhất
là
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
XII.
Với
Thông
Ðiệp
Mediator
Dei
(1947),
Ngài
để
lại
cho
Giáo
Hội
tài
liệu
giáo
huấn
có
giá
trị
đầu
tiên
về
Phụng
Vụ.
Thông
điệp
Mediator
Dei
cho
đến
nay
vẫn
là
một
trong
những
nguồn
mạch
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II
đã
thâu
nhận
và
trích
dẫn
dồi
dào
từ
kho
tàng
này;
đôi
khi
Công
Ðồng
còn
đồng
hóa
các
tư
tưởng,
các
lời
nói
của
Thông
điệp
này
như
là
của
mình
và
đã
không
sử
dụng
tới
dấu
hiệu
để
phân
biệt
hay
ghi
xuất
xứ.
Hiến
Chế
chỉ
thêm
vào
đó
các
yếu
tố
Thánh
Kinh,
cộng
đoàn
và
mục
vụ
cho
thích
hợp
với
thời
đại
và
tinh
thần
Công
Ðồng
3.
Lược
trình
Hiến
Chế
Lược
đồ
của
Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
được
một
Ủy
Ban
tiền
Công
Ðồng
soạn
thảo
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Ðức
Hồng
Y
Gaetano
Cicognani.
Sau
khi
Ngài
từ
trần,
lược
đồ
được
chuyển
sang
Ðức
Hồng
Y
Arcadio
Larraona
4.
"Ðây
là
lược
đồ
được
cứu
xét
đầu
tiên
ở
Công
Ðồng
và
cũng
có
thể
là
lược
đồ
giá
trị
nhất
theo
tầm
quan
trọng
của
nó
trong
đời
sống
Giáo
Hội"
5.
Ngày
14-11-1962,
trong
một
phiên
họp
khoáng
đại,
lược
đồ
đã
được
các
Nghị
Phụ
bỏ
phiếu
chấp
thuận
trên
nguyên
tắc.
Kết
quả
có
2,162
phiếu
thuận
và
46
phiếu
chống.
Sau
đó
các
chuyên
viên
Công
Ðồng
bắt
tay
vào
việc
cứu
xét
những
điểm
đề
nghị
tu
chỉnh.
Công
việc
kéo
dài
từ
17-11
đến
6-12-1962
và
đầu
kỳ
họp
II
năm
1963.
Ngày
4-12-1963
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI,
trước
kia
khi
còn
là
Hồng
Y,
đã
tích
cực
ủng
hộ
lược
đồ,
bây
giờ
long
trọng
công
bố
Hiến
Chế
với
tư
cách
thủ
lãnh
của
Giáo
Hội.
Nội
dung
giáo
lý
Hiến
Chế
được
chia
thành
7
chương
hàm
chứa
nhiều
nguyên
tắc
thần
học
và
những
tiêu
chuẩn
hướng
dẫn
việc
canh
tân
và
phát
triển
hữu
hiệu
nền
Phụng
Vụ.
1.
Trước
hết
chương
I
phác
họa
nền
tảng
thần
học
của
Phụng
Vụ.
Phụng
Vụ
là
công
cuộc
cứu
rỗi
của
Chúa
Kitô
(số
5).
Công
cuộc
này
còn
được
tiếp
tục
và
tồn
tại
mãi
trong
Giáo
Hội,
nhất
là
qua
lễ
nghi
hiến
tế
tạ
ơn
và
các
bí
tích
(số
6).
Chính
Chúa
Kitô,
Ðấng
hiện
diện
trong
Giáo
Hội,
dùng
các
dấu
chỉ
bí
tích
dâng
lên
Thiên
Chúa
lễ
vật
toàn
thiện
và
thánh
hóa
nhân
loại.
Là
thủ
lãnh
tối
cao
của
Giáo
Hội,
Người
cầu
nguyện
với
dân
Người
và
ban
phát
nguồn
ơn
cứu
chuộc.
Do
đó,
những
động
tác
Phụng
Vụ
chỉ
là
sự
thực
thi
cụ
thể
chức
vụ
tư
tế
của
Chúa
Kitô
trong
Giáo
Hội:
chức
tư
tế
luôn
luôn
hiện
diện
và
hoạt
động,
nó
tự
biểu
lộ
qua
các
nghi
thức
khả
giác
và
hữu
hiệu
(số
7).
Ðồng
thời,
Phụng
Vụ
là
sự
chờ
đợi,
là
sự
nếm
trước
Phụng
Vụ
trên
trời,
nơi
mà
tất
cả
chúng
ta
đang
tiến
về
như
những
lữ
hành
(số
8).
Như
thế,
Phụng
Vụ
là
"chóp
đỉnh"
các
sinh
hoạt
Giáo
Hội
(số
10)
tuy
không
phải
là
sinh
hoạt
độc
nhất
của
Giáo
Hội.
Thực
vậy,
sứ
mệnh
tiên
quyết
của
Giáo
Hội
là
mời
gọi
nhân
loại
trở
về
với
nguồn
ơn
cứu
rỗi
qua
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
(số
9)
và
chuẩn
bị
tâm
hồn
mọi
người
sẵn
sàng
tiến
tới
các
mầu
nhiệm
thánh
qua
những
việc
đạo
đức
(như
cầu
nguyện
riêng,
nguyện
ngắm,
việc
sùng
kính,
sám
hối
v.v...)
(số
11).
Sau
phần
dẫn
nhập,
Công
Ðồng
bước
sang
những
chỉ
dẫn
tổng
quát
cho
việc
cải
tiến
Phụng
Vụ.
Ðể
tín
hữu
xác
tín
đầy
đủ
và
tham
gia
trọn
vẹn
các
nghi
lễ
một
cách
ý
thức
và
chủ
động,
trước
hết
phải
huấn
luyện
các
chủ
chăn
(số
14-18),
rồi
đến
lượt
các
ngài
sẽ
huấn
luyện
lại
cho
tín
hữu
(số
19).
Ngoài
ra,
còn
phải
tiếp
tục
cố
gắng
để
cải
tiến
cách
tốt
đẹp
toàn
bộ
Phụng
Vụ
theo
những
qui
tắc
sau
đây
(số
21):
A.
Qui
tắc
tổng
quát
liên
quan
trực
tiếp
tới
những
vị
điều
hành
Phụng
Vụ
trong
Giáo
Hội
(số
22-25).
B.
Qui
tắc
dựa
trên
tính
cộng
đoàn
của
Phụng
Vụ
(số
26-32).
C.
Qui
tắc
dựa
trên
bản
chất
giáo
dục
và
mục
vụ
của
Phụng
Vụ
(số
33-36).
Chẳng
hạn
đề
cập
tới
ngôn
ngữ
được
sử
dụng
trong
các
nghi
lễ
(số
35).
D.
Qui
tắc
thích
nghi
Phụng
Vụ
với
tâm
tính
và
hoàn
cảnh
dân
tộc,
địa
phương
(số
37-40).
Cuối
cùng
Hiến
Chế
phân
tích
đời
sống
phụng
vụ
trong
phạm
vi
các
giáo
phận
(số
41,
45-46),
giáo
xứ
(42-43)
và
quốc
gia
(44).
2.
Chương
II
là
những
chỉ
dẫn
để
cải
tiến
các
nghi
thức
trong
Thánh
Lễ.
Một
vài
chi
tiết
đặc
biệt
và
mới
mẽ
đáng
kể
như:
lời
nguyện
giáo
dân
(số
53),
tiếng
bản
xứ
(số
54),
rước
lễ
hai
hình
(số
55),
lễ
đồng
tế
(số
57).
3.
Chương
III
đề
cập
tới
các
Bí
Tích
khác
và
các
Á
Bí
Tích.
Với
những
lời
diễn
nghĩa
thần
học
giá
trị
(số
59-61).
4.
Chương
IV
bàn
đặc
biệt
về
Kinh
Nhật
Tụng,
một
phần
vụ
quan
trọng
khác
để
thi
hành
sứ
mệnh
tư
tế
của
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội.
Ðó
là
việc
dâng
lên
Thiên
Chúa
"bài
ca
chúc
tụng"
và
lời
cầu
khẩn
cho
thế
gian
được
ơn
cứ
rỗi
(số
83).
5.
Chương
V
của
Hiến
Chế
trình
bày
về
Năm
Phụng
Vụ:
sau
phần
nhập
đề
thần
học
sâu
xa
(số
102-105),
Công
Ðồng
nêu
ra
một
số
qui
tắc
nhằm
nâng
cao
giá
trị
của
ngày
Chúa
Nhật
(106),
duyệt
lại
chu
kỳ
phụng
vụ
với
ý
hướng
nhấn
mạnh
đặc
biệt
mầu
nhiệm
Phục
Sinh
(107-108),
Mùa
Chay
(109-110)
và
các
ngày
lễ
mừng
các
Thánh
(111).
6.
Chương
VI
và
VII
dành
cho
thánh
nhạc
và
thánh
nghệ,
là
một
rong
những
phần
nòng
cốt
của
Phụng
Vụ.
Số
119
đặc
biệt
nói
về
việc
áp
dụng
thánh
nhạc
trong
các
xứ
truyền
giáo.
Phần
Phụ
Thêm:
Tuyên
ngôn
về
việc
tu
chính
niên
lịch
Trong
phần
phụ
thêm
của
Hiến
Chế,
các
Nghị
Phụ
muốn
xác
định
thái
độ
về
việc
sửa
lại
niên
lịch
dân
sự
cho
chính
xác
6.
Từ
hơn
một
thế
kỷ
nay,
trong
phạm
vi
khoa
học,
thương
mại
và
chính
trị,
nhiều
người
đã
nghiên
cứu
việc
tu
chỉnh
niên
lịch
dân
sự.
Ðã
hai
lần,
Tòa
Thánh
được
hỏi
ý
kiến
về
vấn
đề
này,
nhưng
Ðức
Lêô
XIII,
năm
1897,
Ðức
Piô
XI,
năm
1921,
đều
trả
lời
rằng:
để
giải
quyết
một
vấn
đề
quá
tế
nhị
như
vậy
có
lẽ
phải
cần
tới
thầm
quyền
của
Công
Ðồng
chung
7.
Trong
khi
soạn
thảo
lược
đồ
Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
Thánh,
một
vài
Nghị
Phụ
lên
tiếng
muốn
rằng
Công
Ðồng
nên
đi
bước
đầu
trong
việc
tu
chính
một
niên
lịch
chính
xác
và
cố
định.
Nhưng
vấn
đề
chưa
ngã
ngủ
hoàn
toàn,
nên
các
Nghị
Phụ
dành
quyền
quyết
định
cho
Tòa
Thánh,
để
tự
do
hành
động,
nhất
là
đối
với
sáng
kiến
sửa
đổi
của
xã
hội
dân
sự
(chẳng
hạn
như
Liên
Hiệp
Quốc).
Tuy
nhiên
Công
Ðồng
cũng
nêu
ra
vài
quy
tắc
quan
trọng
nhắc
Tòa
Thánh
lưu
tâm
khi
có
việc
thay
đổi:
a.
Phải
thận
trọng
trong
việc
thay
đổi
lễ
Phục
Sinh
nếu
có,
vì
trong
quá
khứ
vấn
đề
đó
đã
là
lý
do
chia
rẽ
giữa
các
kitô
hữu.
b.
Cố
gắng
duy
trì
tuần
lễ
bày
ngày
với
ngày
Chúa
Nhật,
và
thao
nguyên
tắc
không
thêm
một
ngày
nào
khác
ngoài
tuần
lễ.
Chú
Thích:
1
Yves
Congar
O.P.
Unam
Sanctam
66,
trg
14.
2
Xem
Dz
946
(1749)
v.v...
Những
người
"Cải
Cách"
đã
bàn
luận
sôi
nổi
một
vài
vấn
đề
Phụng
Vụ:
như
vấn
đề
ngôn
ngữ
trong
Phụng
Vụ,
rước
lễ
hai
hình
v.v...
nhưng
tiếc
thay,
họ
bàn
luận
theo
những
chiều
hướng
sai
lạc.
3
Xem
Pierre-Marie
Gy.
O.P.
Unam
sanctam
66,
trg
117.
4
Cha
Annibale
Bugnini,
linh
mục
thừa
sai,
chủ
nhiệm
tờ
"Ephemerides
Liturgicae",
là
thư
ký
và
chuyên
viên
của
Hiến
Chế.
5
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
công
bố
Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
ngày
4-12-1963.
6
Chẳng
hạn
năm
1922.
Hội
Nghị
Liên
Hiệp
Không
Gian
nhóm
họp
tại
Rôma
để
thảo
luận
về
vấn
đề
này.
Bên
Mỹ
châu
có
"World
Calender
Association"
đã
phổ
biến
một
hệ
thống
niên
lịch
cố
định,
khá
phức
tạp.
Có
lẽ
trong
một
thời
gian
gần
đây
Liên
Hiệp
Quốc
sẽ
có
sáng
kiến
về
vấn
đề
này.
7
Về
các
tài
liệu
này,
xin
xem
chauver
Berrand,
La
question
de
la
Pâque
et
du
Calendrier,
Paris
1936,
trg.
213-214.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II