VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Lời
Giới
Thiệu
Căn
cứ
vào
những
vấn
đề
đã
được
trình
bày,
ngày
nay
ai
cũng
công
nhận
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
là
then
chốt
của
cả
Công
Ðồng
Vaticanô
II.
Là
vì,
sau
thế
chiến
thứ
nhất,
vấn
đề
bản
tính
Giáo
Hội
đã
trở
thành
trọng
tâm
của
các
cuộc
tranh
luận
về
thần
học.
Quả
thực
các
Công
Ðồng
trước,
như
lịch
sử
chứng
minh,
đã
luôn
cố
gắng
đưa
ra
những
giải
đáp
thích
hợp
với
nhu
cầu
thời
cuộc;
nhưng
vấn
đề
bản
tính
sâu
xa
của
Giáo
Hội
vẫn
còn
là
trọng
tâm
cho
các
cuộc
tranh
luận
và
cho
các
quyết
định
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II.
Người
ta
có
thể
viện
dẫn
nhiều
lý
do
lịch
sử,
xã
hội,
thần
học
để
giải
thích
cho
sự
tập
trung
chủ
đề
ấy
về
Giáo
Hội.
Công
Ðồng
Vaticanô
I,
do
những
đòi
hỏi
của
thời
cuộc,
đã
khởi
sự
suy
tư
về
bản
tính
thần
học
của
Giáo
Hội.
Tuy
nhiên,
chương
trình
quá
rộng
rãi
và
hoàn
cảnh
chính
trị
bất
lợi
đã
không
cho
phép
công
cuộc
khẩn
thiết
ấy
được
kết
thúc
tốt
đẹp.
Bởi
vậy,
những
chương
trình
dang
dở
của
Vaticanô
I
cần
phải
được
bổ
túc
cấp
thời,
nếu
không,
khoa
Giáo
hội
học
có
nguy
hiểm
là
quá
thiên
về
một
phía,
tức
về
quyền
tối
thượng
của
Giáo
Hoàng
Rôma
và
các
quyền
bính
của
Ngài,
dễ
làm
phương
hại
đến
những
giá
trị
khác
trong
Giáo
Hội.
Hơn
nữa,
sau
thế
chiến
thứ
nhất,
một
tình
trạng
mới
đã
nảy
sinh,
lôi
kéo
theo
một
lối
nhìn
mới
về
Giáo
Hội
và
một
cách
thức
cảm
nghiệm
mới
về
những
thực
tại
của
Giáo
Hội.
Ðể
có
lối
nhìn
mới
đó
-
ngoài
những
yếu
tố
kinh
tế,
văn
hóa,
xã
hội
mà
chúng
ta
không
muốn
nhắc
tới
ở
đây
-
chúng
ta
hãy
nêu
lên
những
động
lực
sau
đây
thuộc
khoa
Giáo
hội
học
đã
gây
nên
một
ảnh
hưởng
không
nhỏ:
a)
Phong
trào
Công
giáo
Tiến
Hành
hoặc
những
phong
trào
tương
tự
trong
giáo
dân
đã
cổ
võ
một
tinh
thần
tông
đồ
mới
và
đồng
thời
làm
cho
họ
tin
tưởng
cách
chính
đáng
là
họ
thuộc
về
Giáo
Hội
nhiều
hơn.
Sự
ý
thức
"thuộc
về"
sâu
xa
hơn
ấy
tiến
triển
dần
dần
trong
cộng
đoàn
Giáo
Hội.
Giáo
Hội
không
được
coi
là
một
thực
tại
dành
riêng
cho
các
giáo
sĩ
nhưng
cho
hết
mọi
người
cùng
sống,
cùng
khổ
và
cùng
làm
việc
trong
đó.
Như
thế,
khoa
thần
học
về
giáo
dân
được
phát
huy
một
cách
đặc
biệt
và
sống
động,
nêu
ra
mối
suy
tư
thần
học
về
Giáo
Hội.
b)
Sự
suy
tư
thần
học
này
đã
giúp
nhiều
cho
lối
nhìn
mới
về
Giáo
Hội,
vì
đã
áp
dụng
những
tiến
bộ
của
các
khoa
Thánh
Kinh,
lịch
sử
và
nhân
văn.
Thật
vậy,
thần
học
phô
bày
ý
nghĩa
xã
hội
gắn
liền
với
chính
nhân
vị.
Sự
liên
hệ
giữa
đặc
tính
xã
hội
hóa
đang
vươn
lên
và
ý
thức
mãnh
liệt
về
địa
vị
con
người
không
thể
không
bày
tỏ
mối
suy
tư
thần
học
về
Giáo
Hội.
Do
đó
mà
khoa
Giáo
hội
học
ngày
nay
có
những
khía
cạnh
xã
hội
và
nhân
loại,
huyền
nhiệm
và
tượng
trưng
dễ
đối
kháng
với
một
khoa
Giáo
hội
học
nặng
tính
cách
pháp
lý
trước
đây.
c)
Phong
trào
hiệp
nhất
cũng
ảnh
hưởng
đến
sự
biến
đổi
này.
Ước
nguyện
hiệp
nhất
tạo
nên
những
cuộc
đối
thoại
về
thần
học,
trong
đó
các
vấn
đề
không
được
thảo
luận
đặt
trong
tình
trạng
tương
phản
biện
chứng
với
các
ý
kiến
khác
nhau.
Nhờ
thế
mà
những
trực
giác
về
bản
tính
Giáo
Hội
nhất
thiết
phải
phát
hiện.
Những
điều
đó
đặt
ra
cho
Giáo
Hội
hai
việc
cần
thực
hiện:
làm
sáng
tỏ
và
tìm
hiểu
các
vấn
đề
của
Giáo
Hội
trong
toàn
bộ.
Ðã
đến
lúc
Giáo
Hội
càng
ngày
càng
phải
nghiên
cứu,
đào
sâu
và
diễn
tả
chân
lý
về
chính
mình.
Ngoài
ra,
ý
thức
về
chính
mình
cũng
cần
được
xếp
đặt
cho
có
hệ
thống
theo
tính
cách
năng
động
cổ
truyền.
Cần
nói
thêm
rằng
"trực
giác
minh
bạch
về
sự
kiện
này
là:
cộng
đoàn
Kitô
giáo
chắc
chắn
sẽ
không
theo
kịp
bước
tiến
của
thế
giới
ngày
nay
và
phải
chịu
tăng
triển
chậm
chạp
dù
đã
đi
tiên
phong
về
vấn
đề
Giáo
hội
học",
trực
giác
ấy
không
thể
không
buộc
Giáo
Hội
suy
nghĩ
về
những
trách
vụ
cấp
bách
của
mình,
cũng
như
không
thể
không
buộc
Giáo
Hội
phải
làm
cho
tổ
chức
của
mình
không
còn
bị
cô
lập,
sự
cô
lập
mà
Giáo
Hội
có
thể
rơi
vào.
Những
điều
nói
trên
cho
ta
thấy
một
hình
ảnh
khá
chính
xác
của
một
khoa
Giáo
hội
học
tiền
Công
Ðồng:
a)
Trước
hết
nó
mang
tính
chất
đối
thoại.
Ðối
thoại
chân
thành
và
cởi
mở
với
mọi
thực
tại
thụ
tạo,
trong
đó
ý
định
cứu
rỗi
của
Thiên
Chúa
được
hoàn
tất.
Giáo
Hội
không
thể
chỉ
tự
giải
thích
về
bản
chất
của
mình,
nhưng
còn
cần
phải
tự
đả
thông
với
người
khác:
với
các
Kitô
hữu
không
công
giáo
và
với
một
thế
giới
thờ
ơ
với
ơn
cứu
rỗi.
b)
Tuy
nhiên,
cuộc
đối
thoại
-
dù
cần
thiết
-
cũng
không
thể
tự
hạn
chế
vào
việc
thông
cảm
đơn
thuần
nhằm
mục
đích
hiểu
biết.
Nhưng
Giáo
Hội
còn
phải
đi
sâu
vào
những
nguyện
vọng
của
mọi
người.
Giáo
Hội
phải
hiện
diện
với
mọi
thực
tại
và
với
những
nỗ
lực
của
mọi
người
để
làm
cho
xã
hội
nên
tốt
đẹp
hơn.
Bởi
vậy,
khoa
Giáo
hội
học
cũng
mang
tính
chất
nhập
thể
vì
Giáo
Hội
hiện
diện
sống
động
theo
kiểu
Chúa
Kitô,
hầu
có
thể
cứu
chuộc
thế
giới.
c)
Muốn
thế,
cần
phải
có
sự
canh
tân
tận
bên
trong,
phải
cải
tổ
cơ
cấu,
phải
mở
rộng
tới
những
cách
thức
hiện
hữu
mới,
mà
không
làm
Giáo
Hội
mất
sự
canh
tân
và
cải
tổ.
Khuynh
hướng
cải
tổ,
tuy
đôi
khi
đi
đến
tận
căn
và
thái
quá,
nhưng
nói
chung
vẫn
có
giới
hạn
chính
đáng,
rõ
ràng,
theo
câu
châm
ngôn
cổ
truyền:
"Giáo
Hội
phải
được
cải
tổ
không
ngừng".
d)
Khuynh
hướng
cải
tổ
trong
khoa
Giáo
hội
học
nói
lên
một
tính
chất
tiêu
biểu
khác:
tính
chất
hiệp
thông.
Giáo
Hội
phải
là
trung
tâm
hiệp
thông
nhân
loại
trong
các
hoạt
động
thế
tục
cũng
như
trong
các
hoạt
động
tôn
giáo.
Bởi
vậy,
Giáo
Hội
như
là
bí
tích
tạo
nên
sự
hiệp
thông
ấy.
Những
đặc
điểm
trên
của
khoa
Giáo
hội
học
ngày
nay
được
thu
thập
và
chấp
nhận
trong
văn
kiện
mà
chúng
ta
sẽ
giải
thích
sau
đây.
Chắc
hẳn,
văn
kiện
chúng
ta
hiện
có
không
phải
chỉ
được
soạn
thảo
một
lần.
Trong
Giáo
Hội
vẫn
còn
nhiều
chống
đối
với
lối
nhìn
vấn
đề
theo
cách
thức
mới
mẻ
này:
Có
hai
khuynh
hướng
xuất
hiện
trong
các
cuộc
thảo
luận
ở
Công
Ðồng:
khuynh
hướng
thứ
nhất
ủng
hộ
quan
niệm
hiện
tại
mới
mẻ
và
sống
động
hơn
về
Giáo
Hội
mà
yếu
tính
là
như
một
sự
hiệp
thông
với
mầu
nhiệm
đời
sống
Ba
Ngôi;
khunh
hướng
thứ
hai
coi
Giáo
Hội
như
một
thể
chế,
một
xã
hội
hoàn
hảo
giữa
lòng
thế
giới,
có
những
bổn
phận
và
quyền
lợi
riêng.
Ðấy
chỉ
là
những
vấn
đề
được
nhấn
mạnh
vì
không
bên
nào
cho
quan
điểm
đối
lập
là
sai.
Chính
vì
đó
mà
giai
đoạn
khởi
đầu
của
văn
kiện
đã
trở
nên
rất
sôi
nổi,
lâu
dài
và
đôi
khi
bi
đát.
Chúng
ta
sẽ
cố
gắng
rút
ra
những
đường
nét
chính
từ
việc
soạn
thảo
này.
Lược
đồ
đầu
tiên
gồm
một
tập
dầy
123
trang
đã
được
gửi
đến
các
Giám
Mục
vào
tháng
11
năm
1962.
Lược
đồ
gần
như
là
một
bản
toát
yếu
các
vấn
đề
mà
trước
khi
họp
Công
Ðồng,
Ðức
Gioan
XXIII
đã
hỏi
ý
kiến
cả
thế
giới.
Lược
đồ
gồm
11
chương
và
một
phụ
trương,
trong
đó
không
thấy
có
những
tiêu
chuẩn
rõ
rệt.
Ðây
là
những
vấn
đề
được
bàn
đến:
về
bản
tính
của
Giáo
Hội
chiến
đấu
ở
trần
gian;
về
những
phần
tử
của
Giáo
Hội
chiến
đấu
và
về
việc
Giáo
Hội
cần
cho
ơn
cứu
rỗi;
về
chức
Giám
Mục
chính
tòa;
về
các
bậc
sống
theo
đường
lối
hoàn
hảo
của
Phúc
Âm;
về
giáo
dân;
về
quyền
giáo
huấn
của
Giáo
Hội;
về
uy
quyền
và
sự
vâng
phục
trong
Giáo
Hội;
về
liên
quan
giữa
Giáo
Hội
và
chính
quyền;
về
sự
cần
thiết
của
Giáo
Hội
để
loan
báo
Phúc
Âm
cho
mọi
dân
tộc
trên
khắp
mặt
đất;
về
sự
hiệp
nhất.
Trong
phần
phụ
trương
còn
thêm
lược
đồ
về
"Ðức
Trinh
Nữ
Maria,
Mẹ
Thiên
Chúa
và
Mẹ
nhân
loại".
Lược
đồ
đầu
tiên
ấy
được
thảo
luận
trong
kỳ
họp
thứ
nhất
(từ
ngày
1
đến
ngày
7
tháng
12
năm
1962
trong
6
phiên
họp:
phiên
họp
khoáng
đại
thứ
31
tới
36).
Tất
cả
đồng
thanh
dành
ưu
tiên
cho
đề
tài
về
Giáo
Hội
nhưng
cũng
có
đôi
điều
chỉ
trích:
lược
đồ
thiếu
liên
kết
và
tổng
hợp,
không
nêu
ra
những
đường
nét
chủ
chốt.
Người
ta
còn
mong
muốn
một
lược
đồ
có
tầm
mức
mục
vụ
hơn.
Về
nội
dung,
nhiều
Nghị
Phụ
nhấn
mạnh
cần
phải
lưu
ý
tới
những
viễn
tượng
rộng
lớn
hơn
của
khoa
thần
học
hiện
đại,
bởi
vì
cái
gọi
là
"mới",
thường
chỉ
là
một
ý
thức
sắc
bén
hơn
về
một
chân
lý
đã
quá
xa
xưa.
Cần
nhấn
mạnh
khía
cạnh
Giáo
Hội
là
cộng
đoàn
thiêng
liêng,
là
hiệp
thông
và
mầu
nhiệm,
hơn
là
khía
cạnh
Giáo
Hội
là
một
xã
hội
hoàn
hảo.
Một
cách
tiêu
cực,
người
ta
chỉ
trích
lược
đồ
đầy
vẻ
phô
trương
thanh
thế
(trình
bày
Giáo
Hội
như
một
thế
lực
đi
từ
chiến
thắng
này
tơi
chiến
thắng
khác),
quá
thiên
về
giáo
sĩ
(giản
lược
đời
sống
Giáo
Hội
vào
hoạt
động
của
giáo
phẩm
mà
gạt
giáo
dân
ra
ngoài),
có
tính
cách
pháp
lý
(quá
nhấn
mạnh
những
yếu
tố
pháp
lý,
vì
dù
có
cần
thiết
và
chính
yếu
thật,
chúng
không
phải
là
những
yếu
tố
duy
nhất
trong
Giáo
Hội).
Một
cách
tích
cực,
người
ta
muốn
lược
đồ
đề
nghị
phải
trình
bày
một
Giáo
Hội
thấm
nhuần
tinh
thần
Phúc
Âm,
nghĩa
là
một
tinh
thần
cởi
mở
và
phổ
quát,
một
tinh
thần
truyền
giáo,
một
tinh
thần
khiêm
tốn
và
phục
vụ.
Có
lưu
ý
đến
những
điều
đó
rồi
mới
thấy
việc
sửa
chữa
lại
lược
đồ
là
việc
làm
không
thể
tránh
được.
Theo
sự
chỉ
dẫn
của
Công
Ðồng,
ủy
ban
thần
học
bắt
tay
vào
việc
trong
thời
gian
giữa
kỳ
họp
nhất
và
kỳ
họp
hai.
Ủy
ban
lưu
tâm
vào
phần
trên
của
lược
đồ
sơ
khởi:
phần
dưới,
ủy
ban
chỉ
giữ
lại
một
vài
đoạn
và
đưa
lên
một
trong
các
chương
trên.
Văn
thể
cũng
được
sửa
lại
hết.
Tất
cả
chỉ
còn
lại
4
chương
và
được
gửi
tới
các
Nghị
Phụ
vào
mùa
hè
năm
1963.
Bốn
chương
đó
bàn
về:
I.
Mầu
nhiệm
Giáo
Hội.
II.
Cơ
cấu
phẩm
trật
Giáo
Hội,
đặc
biệt
về
chức
Giám
Mục.
III.
Dân
Chúa,
đặc
biệt
về
giáo
dân.
IV.
Lời
kêu
gọi
nên
thánh
trong
Giáo
Hội.
Trước
kỳ
họp
hai,
theo
sự
gợi
ý
bằng
giấy
viết
của
nhiều
Nghị
Phụ,
thứ
tự
này
đã
được
sửa
đổi.
Ủy
ban
chấp
thuận.
Và
đây
là
thứ
tự
mới:
các
đoạn
mà
toàn
thể
có
đặc
điểm
về
Dân
Chúa
đều
được
rút
ra
khỏi
các
chương
I
và
III.
Những
yếu
tố
này
được
đặt
trong
một
phần
khai
triển
mới,
nằm
ngay
sau
phần
trình
bày
về
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
và
trước
phần
nói
về
phẩm
trật.
Chương
III
không
còn
đề
cập
đến
Dân
Chúa,
nhưng
chỉ
bàn
về
những
phần
tử
của
Dân
Chúa
trên
toàn
thế
giới,
tức
là
giáo
dân.
Sau
cùng
là
tu
sĩ
được
đề
cập
rõ
ràng
trong
tựa
đề
của
chương
IV.
Trong
nghị
trường,
các
Nghị
Phụ
thảo
luận
theo
cách
chia
sơ
khởi
là
bốn
chương.
Các
thảo
luận
kéo
dài
từ
ngày
30
tháng
9
đến
31
tháng
10
năm
1963.
Bản
trình
bày
mới
được
tiếp
nhận
nồng
hậu.
Hầu
như
toàn
thể
các
phiếu
(2,301
chống
với
43)
đều
chấp
thuận
coi
nó
như
nền
tảng
cho
việc
tranh
luận.
Nhưng
hai
khuynh
hướng
thần
học,
như
chúng
ta
đã
nói
trên,
tiếp
tục
biện
hộ
cho
quan
điểm
của
mình.
Phần
đông
các
Giám
Mục
hoan
hỉ
và
hài
lòng
về
lối
trình
bày
tỉ
mỉ
và
nhận
định
rằng
toàn
bộ
từ
đây
đã
được
xây
dựng
vững
chắc
hơn.
Các
ngài
vui
mừng
đón
nhận
những
ý
kiến
gợi
lên
việc
hiệp
nhất
và
mục
vụ.
Các
cuộc
thảo
luận
trở
nên
gay
go
khi
bàn
về
Giám
Mục
Ðoàn
(chương
II).
Người
ta
sợ
Giám
Mục
Ðoàn
sẽ
phương
hại
tới
quyền
tối
thượng
của
Giáo
Hoàng.
Một
cuộc
bỏ
phiếu
để
làm
sáng
tỏ
đã
được
tổ
chức
ngày
30
tháng
10
năm1963.
Kết
quả
là
đa
số
nghiêng
về
Giám
Mục
Ðoàn.
Tuy
nhiên
các
cuộc
thảo
luận
vẫn
tiếp
diễn
và
cũng
nhờ
có
thảo
luận
mà
cơ
ấu
của
lược
đồ
thay
đổi
dần
dần.
Một
cơ
cấu
mới
hình
thành.
Chủ
đề
Dân
Chúa
làm
thành
chương
II
và
tiếp
theo
sau
là
chủ
đề
về
Phẩm
Trật.
Các
tu
sĩ
xin
Công
Ðồng
bàn
về
họ
trong
một
chương
biệt
lập.
Chương
IV
của
lược
đồ
phân
thành
hai:
lời
kêu
gọi
nên
thánh
(chương
V)
và
các
tu
sĩ
(chương
VI).
Sau
các
cuộc
thảo
luận
khá
sôi
nổi
và
sau
một
cuộc
bỏ
phiếu
với
kết
quả
sát
nút,
Công
Ðồng
quyết
định
cho
xen
lược
đồ
về
Ðức
Mẹ
vào
Hiến
Chế
về
Giáo
Hội
(Chương
VIII).
Sau
cùng,
Công
Ðồng
còn
thêm
một
chương
khác
(chương
VII)
nói
về
đặc
tính
cánh
chung
của
Giáo
Hội,
về
sự
liên
lạc
giữa
Giáo
Hội
dưới
đất
và
Giáo
Hội
trên
trời.
Ðó
là
diễn
tiến
của
bản
văn
chung
quyết
như
chúng
ta
hiện
có.
Theo
cách
sắp
xếp
hiện
thời,
thì
cứ
hai
chương
một
đi
với
nhau,
theo
một
thứ
tự
hợp
lý,
có
lẽ
không
ngờ
tới,
nhưng
dễ
biện
minh:
1)
Hai
chương
đầu
nói
về
mầu
nhiệm
Giáo
Hội,
trước
hết
theo
chiều
hướng
siêu
việt,
sau
đó
theo
hình
thức
lịch
sử.
Những
đặc
điểm
căn
bản
của
Giáo
Hội
như
phương
tiện
cứu
rỗi
đều
thấy
xuất
hiện
trong
suốt
cả
hai
chương.
Cách
mô
tả
giản
dị
nhưng
không
một
ai
có
thể
nghi
ngờ
về
ý
tưởng
phong
phú
của
chúng.
2)
Hai
chương
kế
tiếp
mô
tả
cơ
cấu
hệ
thống
của
cộng
đoàn
được
Chúa
Kitô
thiết
lập.
Các
mục
tử
giảng
dạy,
thánh
hóa
và
cai
trị.
Còn
giáo
dân,
dưới
sự
chỉ
dẫn
của
các
ngài,
tham
gia
vào
một
công
trình
cứu
độ:
đó
là
hai
mặt
của
một
bức
hình:
một
mặt
là
chương
III
nói
về
Phẩm
Trật
và
mặt
kia
là
chương
IV,
về
Giáo
Dân.
3)
Sau
đó,
lược
đồ
chú
ý
tới
sứ
mệnh
cốt
yếu
của
Giáo
Hội
tức
là
việc
thánh
hóa
mọi
phần
tử
trong
Dân
Chúa.
Ðời
sống
tu
trì
gắn
liền
với
mục
đích
ấy
và
đó
là
lý
do
khiến
Giáo
Hội
coi
nó
là
quan
trọng
và
rất
lưu
tâm
đến.
Xét
trên
bình
diện
này,
người
ta
không
còn
để
ý
tới
sự
phân
biệt
giữa
giáo
phẩm
và
giáo
dân.
Ðức
ái
hoàn
hảo
là
luật
sống
độc
nhất
cho
mỗi
người,
trong
khi
đó
không
phải
ai
cũng
giữ
qui
luật
đời
tu.
Phản
đối
nguyên
tắc
này
có
nghĩa
là
không
biết
đến
giá
trị
Kitô
giáo
của
hôn
nhân
và
gia
đình.
4)
Chúng
ta
đi
hai
chương
cuối
cùng:
chương
VII
trình
bày
sự
bành
trướng
cánh
chung
của
Giáo
Hội
trong
huy
hoàng
và
trong
cộng
đoàn
các
Thánh;
chương
VIII
và
cũng
là
chương
sau
cùng,
bàn
về
địa
vị
và
sứ
mệnh
của
Ðức
Trinh
Nữ,
Mẹ
Chúa
Kitô
và
Mẹ
nhân
loại,
ở
trong
cộng
đoàn
có
Ngài
là
kiểu
mẫu
và
là
Ðấng
bảo
trợ.
Nhờ
có
chung
nền
tảng
mà
hai
chương
này
liên
kết
được
với
nhau.
Cả
hai
cùng
hướng
về
cuộc
kết
thúc
huy
hoàng,
lúc
đó
bóng
đêm
của
mầu
nhiệm
sẽ
nhường
chỗ
cho
ánh
sáng.
Sau
các
cuộc
thảo
luận
gay
go
và
nhiều
lần
bỏ
phiếu,
người
ta
đã
đi
đến
kết
thúc.
Nhưng
một
thiểu
số
ngoan
cố
không
chịu
khuất
phục.
Ðể
xoa
dịu
và
để
mọi
người
đồng
thanh
chấp
nhận
một
vấn
đề
quan
trọng
như
thế
-
một
sự
đồng
thanh
cần
thiết
trong
tất
cả
các
quyết
định
của
Công
Ðồng
-
ngày
16
tháng
11
năm
1964,
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
đề
nghị
với
Công
Ðồng
để
thêm
một
phần
"chú
thích
sơ
khởi"
cho
chương
III
của
Hiến
Chế.
Giáo
lý
của
chương
III
trong
Hiến
Chế
phải
được
giải
thích
và
được
hiểu
theo
phần
chú
thích
này.
Một
số
đông
các
Nghị
Phụ
bối
rối
về
phần
chú
thích,
nhưng
dường
như
không
có
lý
do.
Thật
vậy,
phần
đó
không
chứa
đựng
điều
gì
thực
sự
mới
mẻ
nhưng
chỉ
giải
thích
rõ
rệt
hơn
một
vài
ý
niệm
pháp
lý,
vì
có
một
số
Nghị
Phụ
dựa
vào
những
ý
niệm
này
để
bênh
vực
cho
những
thắc
mắc
của
các
ngài.
Cũng
nên
biết
rằng,
phần
chú
thích
sơ
khởi
ấy
tương
ứng
với
phần
giải
thích
rất
tỉ
mỉ
về
5
vấn
đề
đặt
ra
ngày
30
tháng
10
năm
1963,
phần
giải
thích
mà
ngay
cả
những
vị
bây
giờ
thắc
mắc
với
phần
chú
thích
cũng
đã
không
ngần
ngại
bỏ
phiếu
chấp
thuận.
Lời
diễn
tả
ở
hai
phần
kể
là
như
nhau.
Khi
mây
đen
dần
dần
tan
biến,
người
ta
đã
xóa
tan
được
những
ngộ
nhận
sau
cùng,
nhờ
xem
kỹ
lại
phần
chú
thích
sơ
khởi.
Trong
cuộc
đầu
phiếu
ngày
19
tháng
11
năm
1964
về
toàn
bộ
lược
đồ,
chỉ
còn
10
phiếu
chống;
trong
cuộc
đầu
phiếu
chung
quyết
trọng
thể
ngày
21
tháng
11
năm
1964,
số
phiếu
chống
trụt
xuống
còn
5.
Như
thế
kể
là
mọi
người
đã
đồng
thanh
chấp
nhận.
Sau
phần
phác
họa
về
lịch
sử
các
biến
cố,
chúng
ta
sang
phần
phân
tích
bản
văn,
đi
theo
thứ
tự
của
Hiến
Chế.
Mục
đích
mà
chúng
ta
muốn
nhằm
tới
là:
qua
những
chú
thích
đơn
sơ
vắn
tắt,
chúng
ta
sẽ
trung
thành
hết
sức
có
thể
với
điều
Công
Ðồng
giảng
dạy.
Chúng
ta
nhằm
đến
phần
chính
yếu,
tìm
cách
xác
định
nội
dung
những
điều
Công
Ðồng
quả
quyết
và
bỏ
qua
những
điều
giải
thích
sâu
rộng
hơn
cũng
như
những
vấn
đề
đang
được
các
thần
học
gia
tranh
luận.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II