VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Trích
Văn
Kiện
Công
Ðồng
Chung
Vaticanô
II
Thông
Tri
Do
vị
Tổng
Thư
Ký
của
Thánh
Công
Ðồng
trong
phiên
họp
khoáng
đại
lần
thứ
123
ngày
16-11-1964.
Có
người
thắc
mắc
về
phẩm
tính
thần
học
của
giáo
thuyết
được
trình
bày
trong
Lược
Ðồ
về
Giáo
Hội
và
sẽ
được
đem
ra
đầu
phiếu.
Ủy
ban
lo
về
giáo
thuyết,
khi
xét
đến
những
"Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh"
về
chương
III
Lược
Ðồ
về
Giáo
Hội,
đã
trả
lời
rằng:
"Dĩ
nhiên,
phải
luôn
luôn
giải
thích
văn
kiện
Công
Ðồng
theo
những
qui
tắc
chung
mà
mọi
người
đều
biết".
Nhân
dịp
này,
Ủy
Ban
Giáo
Thuyết
đã
nhắc
lại
bản
Tuyên
Ngôn
của
mình,
ngày
6-3-1964;
chúng
tôi
xin
trích
lại
bản
văn
đó:
"Xét
theo
tập
tục
Công
Ðồng
và
chủ
đích
mục
vụ
của
Công
Ðồng
hiện
tại,
Thánh
Công
Ðồng
nầy
xác
định
rằng
Giáo
Hội
chỉ
phải
tuân
giữ
những
điều
có
liên
quan
đến
đức
tin
và
phong
hóa
được
chính
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
bố
là
như
vậy".
"Còn
những
điểm
khác
được
Thánh
Công
Ðồng
trình
bày,
vì
là
giáo
thuyết
của
quyền
Giáo
Huấn
Tối
Thượng
của
Giáo
Hội,
nên
tất
cả
và
mỗi
một
Kitô
hữu
phải
chấp
nhận
và
hiểu
theo
ý
của
chính
Thánh
Công
Ðồng,
dựa
trên
những
tiêu
chuẩn
của
phương
pháp
giải
thích
thần
học:
ý
Công
Ðồng
tỏ
lộ
qua
nội
dung
được
trình
bày
hoặc
qua
cách
diễn
tả
của
Công
Ðồng".
Và
đây
là
một
chú
thích
sơ
khởi,
mà
Thượng
Quyền
gửi
đến
các
Nghị
Phụ
đối
với
"những
Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh"
liên
quan
đến
chương
III
của
Lược
Ðồ
về
Giáo
Hội;
giáo
thuyết
được
trình
bày
trong
chương
III
này
phải
được
giải
thích
và
hiểu
theo
tinh
thần
và
thể
thức
của
chú
thích
này.
Chú
Thích
Sơ
Khởi
"Trước
khi
xét
những
"Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh",
Ủy
Ban
quyết
định
trình
bày
những
nhận
xét
tổng
quát
sau
đây:
1.
Cộng
Ðoàn
(collegium)
không
hiểu
theo
nghĩa
thuần
túy
pháp
lý,
nghĩa
là
một
nhóm
người
bình
đẳng,
mà
quyền
hạn
họ
đã
trao
phó
cho
một
vị
chủ
tịch;
nhưng
phải
hiểu
là
một
nhóm
người
có
tính
cách
vững
bền
mà
cơ
cấu
tổ
chức
và
quyền
hành
phải
được
rút
ra
từ
Mạc
Khải.
Cho
nên,
khi
trả
lời
"Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh"
số
12,
chúng
tôi
đã
nói
rõ
rằng:
Mười
Hai
Tông
Ðồ
đã
được
Chúa
thành
lập
theo
thể
thức
"một
cộng
đoàn
hay
một
nhóm
người
có
tính
cách
vững
bền"
:
Cũng
xem
Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh
số
53,
c.
-
Cũng
vì
vậy,
chữ
"Hàng"
(hàng
Giám
Mục:
ordo)
hay
"Ðoàn"
(corpus)
cùng
được
dùng
đây
đó
để
chỉ
"Cộng
Ðoàn
Giám
Mục".
Sự
đối
chiếu:
một
bên
là
Phêrô
với
các
Tông
Ðồ
khác,
một
bên
là
Ðức
Giáo
Hoàng
với
các
Giám
Mục,
không
có
nghĩa
là
quyền
đặc
biệt
của
các
Tông
Ðồ
đã
được
truyền
lại
cho
các
người
kế
vị
và,
dĩ
nhiên,
cũng
không
có
nghĩa
là
giữa
vị
Thủ
Lãnh
và
các
phần
tử
của
cộng
đoàn
có
sự
bình
đẳng;
nhưng
chỉ
muốn
xác
định
một
sự
tương
xứng
giữa
tương
quan
thứ
nhất
(Phêrô
-
Tông
Ðồ)
và
tương
quan
thứ
hai
(Ðức
Giáo
Hoàng
-
Các
Giám
Mục).
Vì
thế
trong
số
22,
Ủy
Ban
đã
quyết
định
không
dùng
chữ
"cũng
vậy",
nhưng
dùng
chữ
"tương
tự
như
thế".
Xem
Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh
57.
2.
Người
được
phong
chức
giám
mục
và
hiệp
thông
phẩm
trật
với
Thủ
Lãnh
và
với
các
phần
tử
trong
Cộng
Ðoàn
thì
trở
thành
phần
tử
của
Giám
Mục
Ðoàn.
Xem
số
22,
1
phần
cuối.
Trong
việc
tấn
phong,
có
sự
tham
dự
hữu
thể
vào
các
nhiệm
vụ
thánh,
như
Truyền
Thống
và
cả
tập
truyền
phụng
vụ
đã
chứng
tỏ
hiển
nhiên.
Sau
khi
thảo
luận,
Ủy
Ban
dùng
danh
từ
"nhiệm
vụ"
(munus)
chứ
không
dùng
danh
từ
"quyền
hành"
(potestas),
vì
"quyền
hành"
có
thể
hiểu
là
một
quyền
hành
sẵn
sàng
để
xử
dụng.
Thật
ra,
để
có
một
quyền
hành
như
thế
thì
cần
phải
có
thêm
sự
chỉ
định
theo
giáo
luật
hoặc
pháp
lý
của
quyền
bính
phẩm
trật.
Sự
chỉ
định
này
có
thể
là
việc
bổ
nhiệm
vào
một
chức
vụ
đặc
biệt
hay
việc
ủy
thác
trông
coi
một
số
người
và
theo
những
qui
luật
đã
được
quyền
tối
thượng
chấp
thuận.
Do
bản
chất
của
sự
việc,
cần
phải
có
qui
luật
cuối
cùng
như
thế,
bởi
vì
đó
là
những
nhiệm
vụ
phải
được
thực
hành
do
nhiều
phụ
tá
cộng
tác
theo
phẩm
trật
do
ý
muốn
của
Chúa
Kitô.
Hiển
nhiên
là
trước
khi
viết
thành
bộ
luật,
thì
sự
"hiệp
thông"
ấy
đã
được
áp
dụng
trong
đời
sống
Giáo
Hội
tùy
theo
hoàn
cảnh
của
các
thời
đại.
Chính
vì
thế
mà
Ủy
Ban
minh
nhiên
nói
rằng:
cần
phải
có
sự
hiệp
thông
phẩm
trật
với
Thủ
Lãnh
và
với
các
phần
tử
của
Giáo
Hội.
Hiệp
thông,
một
ý
niệm
rất
được
Giáo
Hội
thời
xưa
(cũng
như
thời
nay,
nhất
là
Giáo
Hội
Ðông
Phương)
đề
cao.
Ðó
không
phải
là
tâm
tình
mơ
hồ,
nhưng
là
một
thực
thể
hữu
cơ.
Nó
đòi
hỏi
một
hình
thức
pháp
lý,
đồng
thời
được
linh
động
nhờ
đức
ái.
Do
đó,
sau
khi
được
sự
đồng
ý
của
hầu
hết
mọi
người,
Ủy
Ban
quyết
định
viết
như
sau:
"trong
sự
hiệp
thông
phẩm
trật".
Xem
Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh
số
40,
và
những
chỗ
đề
cập
đến
chức
vụ
bổ
nhiệm
theo
giáo
luật,
số
24.
Những
văn
kiện
gần
đây
của
các
Ðức
Giáo
Hoàng
về
quyền
tài
thẩm
của
các
Giám
Mục
phải
được
giải
thích
theo
sự
hạn
định
cần
thiết
về
những
quyền
hành
ấy.
3.
Cộng
Ðoàn,
không
thể
có
Cộng
Ðoàn
nếu
không
có
Thủ
Lãnh,
"cũng
là
chủ
thể
có
quyền
bính
trọn
vẹn
và
tối
cao
trên
toàn
thể
Giáo
Hội".
Cần
phải
chấp
nhận
điều
đó
để
quyền
bính
trọn
vẹn
của
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
khỏi
bị
vi
phạm.
Nói
đến
Cộng
Ðoàn
(Giám
Mục),
bao
giờ
người
ta
cũng
phải
hiểu
là
gồm
có
Thủ
Lãnh;
và
trong
Cộng
Ðoàn,
Thủ
Lãnh
vẫn
nắm
giữ
nguyên
vẹn
nhiệm
vụ
Ðấng
Ðại
Diện
Chúa
Kitô
và
Chủ
Chăn
của
Giáo
Hội
phổ
quát.
Nói
cách
khác,
sự
phân
biệt
không
phải
là
giữa
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
và
các
Giám
Mục
hiệp
lại,
nhưng
là
giữa
cá
nhân
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
và
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
cùng
với
các
Giám
Mục.
Vì
Ðức
Giáo
Hoàng
là
Thủ
Lãnh
của
Cộng
Ðoàn
nên
chính
ngài
một
mình
có
quyền
hành
động
trong
một
vài
việc
mà
các
Giám
Mục
không
có
thẩm
quyền:
ví
dụ
triệu
tập
và
điều
khiển
Cộng
Ðoàn
Giám
Mục,
phê
chuẩn
các
quy
luật
hành
động,
v.
v...
Xem
Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh
số
81.
Ðức
Giáo
Hoàng,
vì
được
trao
phó
nhiệm
vụ
chăn
dắt
toàn
thể
đoàn
chiên
Chúa
Kitô,
nên
tùy
theo
nhu
cầu
của
Giáo
Hội
biến
chuyển
theo
các
thời
đại,
ngài
giữ
quyền
phán
định
cách
thế
thích
hợp
để
thể
hiện
nhiệm
vụ
chăn
dắt
trên,
hoặc
cách
cá
nhân
hoặc
cách
cộng
đoàn.
Vì
lợi
ích
của
Giáo
Hội,
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
hành
động
theo
sự
khôn
ngoan
của
ngài
để
hướng
dẫn,
phát
huy,
phê
chuẩn
sự
thực
thi
quyền
cộng
đoàn.
4.
Là
Ðấng
Chăn
Dắt
Tối
Cao
của
Giáo
Hội,
Ðức
Giáo
Hoàng
có
thể
tùy
ý
thi
hành
quyền
bính
của
Ngài
bất
cứ
lúc
nào,
theo
sự
đòi
hỏi
của
nhiệm
vụ
Ngài.
Còn
Cộng
Ðoàn,
tuy
vẫn
tồn
tại
luôn,
nhưng
không
vì
thế
mà
lúc
nào
cũng
hành
động
với
tính
cách
thuần
túy
cộng
đoàn,
như
Thánh
Truyền
Giáo
Hội
xác
nhận.
Nói
cách
khác,
không
phải
bao
giờ
Cộng
Ðoàn
cũng
hành
động
"trong
hiện
thể
trọn
vẹn",
nhưng
chỉ
thỉnh
thoảng
mới
hành
động
một
cách
thuần
túy
cộng
đoàn,
và
khi
đó
chỉ
vì
Thủ
Lãnh
ưng
thuận.
Nói
"Thủ
Lãnh
ưng
thuận"
để
khỏi
nghĩ
đến
sự
tùy
thuộc
như
tùy
thuộc
vào
một
người
ngoại
cuộc.
Trái
lại,
từ
ngữ
"ưng
thuận"
nói
lên
sự
hiệp
thông
giữa
Thủ
Lãnh
với
các
phần
tử,
đồng
thời
giả
thiết
sự
cần
thiết
của
một
hành
vi
thuộc
riêng
vị
Thủ
Lãnh.
Ðiểm
này
được
minh
nhiên
xác
định
trong
số
22,
2
và
được
giải
thích
ở
phần
cuối
số
ấy.
Cách
nói
"chỉ
vì"
bao
gồm
tất
cả
mọi
trường
hợp:
do
đó
dĩ
nhiên
là
phải
tuân
theo
các
qui
luật
được
giáo
quyền
tối
thượng
chấp
thuận.
Xem
Ðề
Nghị
Tu
Chỉnh
số
84.
Trong
tất
cả
các
điểm
trên,
chúng
ta
thấy
rõ
vấn
đề
là
ở
chỗ
các
Giám
Mục
hiệp
nhất
với
Thủ
Lãnh
của
mình
và
không
bao
giờ
hành
động
cách
độc
lập
đối
với
Giáo
Hoàng.
Trong
trường
hợp
sau
này,
khi
không
có
hành
động
của
Thủ
Lãnh,
các
Giám
Mục
không
thể
hành
động
như
một
Cộng
Ðoàn
được,
như
ý
niệm
"Cộng
Ðoàn"
cho
thấy.
Thánh
Truyền
luôn
minh
chứng
có
sự
hiệp
thông
phẩm
trật
giữa
tất
cả
các
Giám
Mục
với
Ðức
Giáo
Hoàng.
Chú
Ý:
Nếu
không
có
hiệp
thông
phẩm
trật,
thì
các
Giám
Mục
không
thể
thi
hành
nhiệm
vụ
thực
thể
lãnh
nhận
do
Bí
Tích.
Nhiệm
vụ
đó
phải
được
phân
biệt
với
khía
cạnh
giáo
luật
-
pháp
lý.
Nhưng
Ủy
Ban
nghĩ
là
không
cần
phải
bàn
đến
các
vấn
đề
hợp
pháp
và
thành
sự,
và
để
lại
cho
các
nhà
thần
học
thảo
luận,
cách
riêng
trong
những
gì
liên
can
tới
việc
thi
hành
quyền
bính
hiện
có
nơi
anh
em
ly
khai
Ðông
Phương.
Về
điểm
này,
có
nhiều
giải
thích
khác
nhau.
Pericles
Felici
Tổng
Giám
Mục
hiệu
tòa
Samosate
Tổng
Thư
Ký
Thánh
Công
Ðồng
Vaticanô
II

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II