VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
4-
SẮC
LỆNH
VỀ
CÁC
GIÁO
HỘI
CÔNG
GIÁO
ĐÔNG
PHƯƠNG
(ORIENTALIUM
ECCLESIARUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
Văn
Sắc
Lệnh
Lời
Giới
Thiệu
Muốn
hiểu
rõ
mục
đích,
tầm
quan
trọng
và
sự
thích
hợp
của
Sắc
Lệnh
này,
thiết
tưởng
nên
biết
qua
lịch
sử
của
nó.
Ủy
Ban
tiền
công
đồng
đặc
trách
các
vấn
đề
liên
quan
đến
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
đã
soạn
thảo
một
lược
đồ
với
nhan
đề
"Ðể
tất
cả
nên
một".
Các
Nghị
Phụ
đến
hội
kỳ
họp
I
của
Công
Ðồng
đã
quyết
định
cho
một
ủy
ban
hỗn
hợp
tu
chỉnh
lại
lược
đồ
trên.
Ðức
Hồng
Y
Bea
cũng
đã
soạn
thảo
một
lược
đồ
về
Hiệp
Nhất
trong
đó
có
đề
cập
đến
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
ly
khai.
Ủy
ban
hỗn
hợp
đặc
trách
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
lúc
bấy
giờ
hạn
hẹp
lược
đồ
vào
vấn
đề
các
Giáo
Hội
Ðông
còn
hiệp
thông
với
Rôma.
Lược
đồ
này
mệnh
danh
là
"Về
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương".
Như
vậy
trên
nguyên
tắc,
đã
loại
bỏ
vấn
đề
Hiệp
Nhất
giữa
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
ly
khai
với
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Ðể
được
rõ
hơn,
sau
này
còn
thêm
vào
tiếng
Công
Giáo.
Như
thế,
tựa
đề
trở
thành
"Về
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương".
"Các
Giáo
Hội
Công
Giáo"
ở
đây
chỉ
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
thành
phần
của
Giáo
Hội
phổ
quát,
còn
hiệp
thông
với
Tòa
Thánh
Rôma.
Sau
nhiều
lần
tu
chỉnh
và
sửa
đổi.
Sắc
Lệnh
đã
được
Công
Ðồng
dứt
khoát
chấp
nhận
ngày
21-11-1964.
2,110
nghị
phụ
bỏ
phiếu
thuận
và
39
phiếu
chống.
Vì
Sắc
Lệnh
liên
hệ
đến
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
hiệp
thông
với
Rôma,
nên
Công
Ðồng
quan
tâm
đến
quy
luật,
cách
tổ
chức
và
di
sản
thiêng
liêng
của
các
Giáo
Hội
đó.
Nhiều
người
dị
nghị
tại
sao
một
Công
Ðồng
Chung
lại
quan
tâm
đến
các
Giáo
Hội
riêng
biệt.
Ðã
hẳn,
người
Ðông
Phương
có
120
Nghị
Phụ
đại
diện
vào
Công
Ðồng,
nhưng
đó
là
một
thiểu
số
sánh
với
2,000
Nghị
Phụ
Tây
Phương,
là
những
vi
chưa
chắc
đã
luôn
thấu
hiểu
các
vấn
đề
Ðông
Phương.
Tuy
nhiên,
phải
nhìn
nhận
rằng
các
đại
diện
Ðông
Phương,
Nghị
Phụ
và
các
nhà
chuyên
môn,
đã
góp
phần
lớn
vào
việc
biên
soạn
cũng
như
tu
chỉnh
Sắc
Lệnh
này.
Nhiều
phần
trong
Sắc
Lệnh
này
lẽ
ra
phải
được
xen
vào
các
tài
liệu
khác
của
Công
Ðồng,
nhất
là
trong
Hiến
Chế
về
Giáo
Hội.
Nhưng
người
Ðông
Phương
lại
thích
Công
Ðồng
soạn
thảo
và
công
bố
một
Sắc
Lệnh
riêng
biệt
về
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương.
Thượng
Phụ
Giáo
Chủ
Maximos
IV
đã
nêu
ra
những
lý
do
sau
đây
vào
mùa
thu
năm
1964
và
đã
được
Hội
Ðồng
Giáo
Hội
của
ngài
chuẩn
y.
Hiện
nay
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
có
những
vấn
đề
riêng
biệt,
nhưng
đối
với
Giáo
Hội
Latinh
chúng
ta
không
có
tính
cách
khẩn
trương.
Thà
rằng
thảo
luận
các
vấn
đề
chung
với
nhau,
vì
nếu
tách
rời,
có
thể
sẽ
bị
lãng
quên
cách
dễ
dàng
hay
ít
ra
không
được
giải
quyết
cách
thỏa
đáng.
Hơn
thế
nữa,
một
Sắc
Lệnh
Công
Ðồng
có
thể
đoạn
tiêu
hay
thay
đổi
một
vài
quy
luật
mà
trước
kia
Rôma
đã
đặt
ra
cho
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
nhưng
qua
dòng
thời
gian,
chúng
đã
lỗi
thời
hay
ít
thích
hợp
với
truyền
thống
Ðông
Phương.
Sau
cùng,
nếu
có
một
sắc
lệnh
riêng
cho
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
thì
còn
hy
vọng,
sau
Công
Ðồng
người
ta
sẽ
chiếu
cố
đến
các
dự
kiện
của
sắc
lệnh
và
tiến
hành
cùng
một
hướng.
Có
thể
thêm
một
lý
do
khác
liên
quan
đến
các
tín
hữu
theo
nghi
lễ
Latinh:
một
sắc
lệnh
riêng
biệt
về
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương
sẽ
giúp
họ
hiểu
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
rõ
ràng
và
cụ
thể
hơn,
mầu
nhiệm
vừa
duy
nhất
vừa
đa
diện.
Một
sắc
lệnh
riêng
biệt
như
thế
cũng
có
thể
giúp
họ
thẩm
định
một
thái
độ
thích
đáng
đối
với
các
anh
em
ly
khai
của
chúng
ta.
Sắc
Lệnh
còn
làm
sáng
tỏ
cách
tổ
chức
và
đời
sống
của
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương.
Sắc
Lệnh
giải
thích
rõ
ràng
quyền
lợi
và
địa
vị
của
các
Cộng
Ðoàn
Công
Giáo
Ðông
Phương
và
phục
hồi
những
đặc
ân
và
tập
tục
bị
hủy
bỏ
trong
quá
khứ:
Bố
cục
Sắc
Lệnh
như
sau:
-
Lời
mở
đầu:
(số
1).
-
Sáu
Chương:
1.
Các
Giáo
Hội
địa
phương
hay
Lễ
Chế
(số
2-4).
2.
Việc
bảo
vệ
di
sản
tinh
thần
nơi
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
(số
5-6).
3.
Các
Thượng
Phụ
Ðông
Phương
(số
7-11).
4.
Quy
luật
về
các
bí
tích
(số
12-18).
5.
Việc
Phụng
thờ
Thiên
Chúa
(số
19-23).
6.
Liên
lạc
với
các
anh
em
ly
khai
(số
24-29).
-
Kết
luận:
số
30.
Sắc
Lệnh
đề
cập
đến
nhiều
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương.
Có
hơn
20
Giáo
Hội.
Trước
tiên
có
nhiều
Lễ
chế.
Lễ
chế
ở
đây
là
cách
thức
cử
hành
phép
Thánh
Thể
và
các
Bí
Tích
(lời
nguyện,
cử
điệu...).
Có
Lễ
chế
Copticô,
Chaldaeô,
Syriacô,
Armenô,
Maroniticô,
Byzantinô
và
Malabarô.
Hơn
nữa,
có
khi
cũng
một
nghi
lễ
phụng
vụ
được
thi
hành
ở
nhiều
xứ
với
những
ngôn
ngữ
khác
nhau;
ví
dụ:
Lễ
chế
Copticô
thịnh
hành
ở
Ai
Cập
và
Ethiopia,
và
như
thế
người
ta
phân
biệt
hai
Giáo
Hội
riêng
biệt
theo
cùng
Lễ
chế
Copticô:
một
ở
Ai
Cập
và
một
ở
Ethiopia.
Các
Lễ
chế
khác
cũng
vậy.
theo
nghĩa
rộng
hơn,
Lễ
chế
không
những
là
phụng
vụ
của
một
Giáo
Hội,
nhưng
còn
bao
hàm
cả
quy
luật,
tổ
chức,
truyền
thống
và
tập
tục
riêng
biệt
của
mỗi
Giáo
Hội
khác
nhau.
Ðó
là
ý
nghĩa
tại
sao
có
nhiều
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Cũng
có
khi
trong
cùng
một
thành
phố
hay
trong
một
miền
có
hai
hay
ba
cộng
đoàn
Công
Giáo
có
Lễ
chế
khác
nhau.
Như
ở
Alep
có
một
Giáo
Hội
Melchita,
một
Giáo
Hội
Maroniticô
và
một
Giáo
Hội
Ðông
Phương
Armenô.
Mỗi
Giáo
Hội
có
một
Giám
Mục
riêng.
Dù
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương
đa
số
ở
miền
Cận
Ðông,
nhưng
cũng
có
những
nhóm
rải
rác
ở
Âu
Châu,
Nam
Ấn
và
Bắc
Mỹ,
do
các
cuộc
di
cư
vì
đàn
áp.
Tổng
số
người
Công
Giáo
Ðông
Phương
khoảng
độ
11
triệu.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II