VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
5-
SẮC
LỆNH
HIỆP
NHẤT
(UNITATIS
REDINTEGRATIO)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
Lời
Giới
Thiệu
Sắc
Lệnh
này
ghi
dấu
một
thời
điểm
quan
trọng
trong
lịch
sử
Kitô
giáo.
Khi
Ðức
Gioan
XXIII
loan
báo
triệu
tập
một
công
đồng
chung,
ngài
đã
nhắm
đến
nguyên
nhân
của
việc
hiệp
nhất.
Ðể
đạt
mục
tiêu
đó,
ngài
thiếp
lập
Văn
Phòng
Hiệp
Nhất
các
Kitô
hữu
(ngày
5
tháng
6
năm
1960).
Người
ta
có
thể
nhận
ra
rằng
chiều
theo
ý
định
của
Ðức
Giáo
Hoàng,
nhiều
lược
đồ
tiền
công
đồng
đã
đề
cập
thẳng
đến
vấn
đề
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
Lược
đồ
về
Giáo
Hội
có
chương
XI
nói
về
hiệp
nhất.
Ủy
ban
về
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
khởi
thảo
một
lược
đồ
nhằm
việc
nối
kết
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
ly
khai
với
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Văn
Phòng
Hiệp
Nhất
các
Kitô
hữu
cũng
đã
soạn
sẵn
một
lược
đồ
nghiêng
về
mục
vụ.
Trong
kỳ
họp
I,
Công
Ðồng
quyết
định
chỉ
soạn
thảo
một
sắc
lệnh
về
Hiệp
Nhất
dưới
sự
giám
sát
của
Văn
Phòng
Hiệp
Nhất.
Chính
lúc
ấy,
chương
XI
chỉ
đề
cập
đến
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương.
Lược
đồ
nhất
thống
về
Hiệp
Nhất
đã
được
đệ
trình
trong
kỳ
họp
II
của
Công
Ðồng.
Lược
đồ
gồm
5
chương:
I.
Các
nguyên
tắc
Công
Giáo
về
Hiệp
Nhất.
II.
Cách
tham
dự
phong
trào
Hiệp
Nhất.
III.
Các
Kitô
hữu
ly
khai
với
Giáo
Hội
Công
Giáo.
IV.
Những
tương
giao
giữa
người
Công
Giáo
với
người
ngoài
Kitô
giáo,
đặc
biệt
với
người
Do
Thái.
V.
Tự
do
tôn
giáo.
Lúc
ấy
hai
chương
cuối
cùng
do
hai
tiểu
ban
của
Văn
Phòng
Hiệp
Nhất
đảm
trách.
Nhưng
chẳng
bao
lâu
các
Nghị
Phụ
đã
đi
đến
kết
luận
là
phải
bàn
luận
hai
vấn
đề
này
trong
những
văn
kiện
riêng
biệt.
Như
thế,
lược
đồ
mới
chỉ
gồm
ba
chương
đầu
cộng
thêm
lời
mở.
Sự
phân
chia
này
đã
được
duy
trì
trong
bản
văn
cuối
cùng.
Lược
đồ
này
được
tranh
luận
từ
5
đến
7-10-1964.
Theo
thỉnh
nguyện
của
các
Nghị
Phụ,
nhiều
đề
nghị
tu
chỉnh
đã
được
thêm
vào
lược
đồ
bản
văn
hiệu
chính.
Ðáng
lẽ
lược
đồ
được
biểu
quyết
ngày
20-11-1964.
Nhưng
trước
ngày
ấy,
vị
Tổng
Thư
Ký
của
Công
Ðồng,
Ðức
Cha
P.
Felici,
loan
báo
rằng
có
19
điểm
đổi
thay
đã
được
hoàn
thành
vào
giờ
chót
theo
yêu
cầu
của
một
thẩm
quyền
cao
cấp.
Vì
thế
vấn
đề
biểu
quyết
lược
đồ
được
hoãn
lại.
Quả
thực,
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
đề
nghị
một
loạt
các
tu
chính
án;
trong
số
đó,
hội
đồng
thu
hẹp
của
Văn
Phòng
Hiệp
Nhất
đã
giữ
lại
19
điểm.
Do
đó,
các
Nghị
Phụ
đã
biểu
quyết
sắc
lệnh
ngày
21-11-1964
với
2,137
phiếu
thuận,11
phiếu
chống.
Cũng
chính
hôm
ấy,
Ðức
Phaolô
VI
đã
phê
chuẩn
và
công
bố
sắc
lệnh
này.
Sắc
Lệnh
mang
tựa
đề
"Về
Hiệp
Nhất".
Hiệp
Nhất
là
gì?
Chúa
Giêsu
Kitô
đã
chỉ
sáng
lập
một
Giáo
Hội
và
Người
đã
muốn
tất
cả
các
môn
đệ
kết
hiệp
với
nhau
trong
Giáo
Hội
duy
nhất
ấy.
Trước
ngày
tử
nạn,
Người
đã
khẩn
thiết
nguyện
cầu
cho
việc
hiệp
nhất
này:
"Xin
cho
tất
cả
nên
một"
(Gio
17,21).
Nhưng
qua
bao
thế
kỷ,
đã
xảy
ra
nhiều
cuộc
phân
rẽ
đau
thương.
Một
số
lớn
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
đã
tách
lìa
khỏi
Roma.
Vào
thế
kỷ
XVI,
nhiều
miền
đã
biến
thành
Tin
Lành.
Ở
thế
kỷ
hiện
tại
của
chúng
ta,
người
ta
mới
ý
thức
hơn
về
những
phân
rẽ
này.
Nhiều
người
đã
suy
tưởng
lại
lời
nguyện
của
Chúa
Giêsu
cũng
như
nghĩ
đến
việc
cứu
vãn
mối
bất
hòa
ly
tán
giữa
các
Kitô
hữu.
Vậy
người
ta
đã
gọi
"Hiệp
Nhất"
là
tất
cả
mọi
nỗ
lực
trong
những
giáo
phái
Kitô
giáo
khác
nhau,
nhằm
mục
đích
kết
hiệp
cộng
đoàn
Kitô
hữu
đang
bị
phân
rẽ.
Danh
từ
Hiệp
Nhất
phát
sinh
từ
tiếng
Hy
Lạp
"Oikoumene";
thời
xưa,
chữ
này
biểu
thị
một
Giáo
Hội
phổ
quát
lan
rộng
khắp
hoàn
cầu.
Như
thế,
Hiệp
Nhất
có
nghĩa
là
ước
muốn
và
nỗ
lực
đạt
đến
việc
liên
kết
mọi
Kitô
hữu
nên
một
trong
Giáo
Hội
phổ
quát
của
Chúa
Kitô.
Công
cuộc
hiệp
nhất
này
đặt
nền
tảng
trên
khát
vọng
sâu
xa
của
tất
cả
Kitô
hữu
thiện
chí
nhằm
thể
hiện
sự
hiệp
nhất
toàn
vẹn
mà
Chúa
Giêsu
Kitô
đã
mong
muốn.
Phong
trào
hướng
về
hiệp
nhất
đã
khởi
sinh
trước
tiên
giữa
lòng
các
giáo
phái
Tin
Lành.
Phong
trào
nầy
đã
mặc
một
hình
thức
rất
cụ
thể
khi
"Hội
Ðồng
hiệp
nhất
các
Giáo
Hội"
được
thành
lập
năm
1948
tại
Amsterdam.
Người
Công
Giáo
đã
tham
dự
vào
phong
trào
bằng
tuần
Bát
Nhật
cầu
nguyện
cho
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu
(từ
ngày
18
đến
25
tháng
giêng
mỗi
năm).
Ngoài
sự
tham
gia
đó,
người
ta
đã
không
thể
nói
đến
một
phong
trào
hiệp
nhất
trong
Giáo
Hội
Công
Giáo,
mặc
dù
các
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
nhiều
lần
mời
gọi
những
cộng
đoàn
ngoài
Kitô
giáo
hãy
đến
với
Giáo
Hội
phổ
quát.
Chắc
hẳn
có
nhiều
người
Công
Giáo,
với
tư
cách
cá
nhân,
đã
hoạt
động
cho
việc
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu,
như
cha
Paul
Couturier
(+1953)
và
cha
Lambert
Beaudoin
dòng
Benedictô
(+1960).
Dầu
vậy,
phong
trào
hiệp
nhất
nơi
những
người
Công
Giáo
trước
tiên
đã
nhờ
vào
hoạt
động
của
Văn
Phong
Hiệp
Nhất
các
Kitô
hữu
rất
nhiều.
Hơn
nữa,
công
cuộc
chuẩn
bị
Sắc
Lệnh
về
Hiệp
Nhất
và
chính
sự
tán
dương
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II
đã
góp
phần
dồi
dào
vào
việc
đào
luyện
tâm
thức
hiệp
nhất
cho
toàn
thể
các
Giám
Mục
Công
Giáo.
Sắc
Lệnh
được
Công
Ðồng
phê
chuẩn,
sự
kiện
nầy
là
một
biểu
hiện
sáng
chói
của
tâm
thức
ấy.
Từ
đó,
chúng
ta
có
thể
thẩm
định
tầm
quan
trọng
của
Sắc
Lệnh
về
Hiệp
Nhất.
Quả
thực,
theo
ngôn
từ
của
Ðức
Hồng
Y
Bea,
Sắc
Lệnh
đã
biểu
lộ
lập
trường
chính
thức
của
quyền
tối
cao
trong
Giáo
Hội
Công
Giáo
trước
vấn
đề
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu
nói
chung
và
trước
phong
trào
hiệp
nhất
nói
riêng.
Sắc
Lệnh
không
chỉ
trình
bày
một
giáo
thuyết,
nó
còn
là
một
hành
động:
qua
Sắc
Lệnh
đó,
Công
Ðồng
đã
ủy
thác
cho
Giáo
Hội
Công
Giáo
nhiệm
vụ
hiệp
nhất.
Sắc
Lệnh
đã
tạo
nên
một
bầu
khí
Kitô
giáo
đầy
tình
huynh
đệ
giữa
những
phần
tử
của
Giáo
Hội
Công
Giáo
và
các
anh
em
ngoài
Công
Giáo.
Nó
còn
là
khởi
điểm
cho
nỗ
lực
hiệp
nhất
của
Giáo
Hội
Công
Giáo
sau
Công
Ðồng.
Sắc
Lệnh
nhấn
mạnh
một
số
điểm
quan
trọng
đối
với
phong
trào
hiệp
nhất.
Tất
cả
những
ai
đã
được
rửa
tội
đều
kết
hiệp
với
Chúa
Kitô
và
thật
sự
là
anh
em
với
nhau
trong
Người.
Qua
phép
Rửa
Tội,
họ
cũng
hiệp
thông
với
Giáo
Hội
Công
Giáo
một
cách
nào
đó,
cho
dù
mối
thông
hiệp
này
chưa
toàn
hảo.
Những
Kitô
hữu
ngoài
Công
Giáo
cũng
thừa
hưởng
các
sản
nghiệp
phong
phú
đích
thực
về
chân
lý
và
ân
sủng.
Chúa
Thánh
Thần
sử
dụng
các
cộng
đồng
Kitô
giáo
khác
nhau
như
những
khí
cụ
ân
sủng.
Cho
nên,
những
hành
vi
thánh
mà
họ
thực
hiện
có
thể
làm
nẩy
sinh
và
tăng
triển
đời
sống
ân
sủng
của
họ.
Vậy
nên
Sắc
Lệnh
công
nhận
rằng:
tín
đồ
của
những
cộng
đồng
ly
khai
này
có
khả
năng
đạt
được
ơn
cứu
rỗi.
Tuy
nhiên,
Sắc
Lệnh
không
che
dấu
những
gì
tách
biệt
chúng
ta
khỏi
các
anh
em
Kitô
hữu
không
Công
Giáo.
Họ
không
thừa
hưởng
sự
hiệp
nhất
trọn
vẹn
mà
Chúa
Giêsu
Kitô
đã
muốn
ban
phát
cho
tất
cả
những
ai
Người
đã
sinh
thành
và
bồi
dưỡng
trong
chính
một
thân
thể.
Vì
thế,
họ
không
hưởng
thụ
hết
tất
cả
những
kho
tàng
thiêng
liêng
Chúa
Kitô
đã
ký
thác
trong
Giáo
Hội
Người.
Sau
hết,
Sắc
Lệnh
vạch
ra
một
chương
trình
hành
động
hiệp
nhất
bao
la.
Kế
hoạch
này
mở
nhiều
viễn
ảnh
rộng
lớn
và
cống
hiến
một
sự
chọn
lựa
đề
mục
thật
phong
phú
để
đối
thoại
với
những
anh
em
ly
khai
của
chúng
ta.
Một
nhận
xét
về
cách
dụng
ngữ
của
Sắc
Lệnh
có
thể
thật
hữu
ích.
Thông
thường,
danh
từ
"Hiệp
Thông"
chỉ
định
những
cộng
đồng
Kitô
ngoài
Công
Giáo,
không
phân
biệt
Ðông
Phương
ly
khai,
Anh
Giáo
hay
Tin
Lành
và
không
thẩm
định
giá
trị
tín
lý
của
những
cộng
đoàn
khác
nhau
này.
Danh
từ
"Giáo
Hội"
thỉnh
thoảng
được
áp
dụng
cho
những
cộng
đoàn
đông
phương
ly
khai,
những
cộng
đoàn
quả
thực
có
cơ
cấu
của
một
Giáo
Hội.
Lúc
đề
cập
đến
anh
em
Tin
Lành,
Sắc
Lệnh
nói
đến
những
Giáo
Hội
và
những
"cộng
đoàn"
giáo
hội.
Những
kiểu
danh
xưng
ấy
lúc
đó
hiểu
theo
một
nghĩa
rộng.
Bởi
lẽ,
theo
nghĩa
hẹp,
danh
từ
Giáo
Hội
dường
như
dòi
buộc
một
cơ
cấu
bí
tích
và
phẩm
trật;
cơ
cấu
nầy,
nói
cho
đúng,
không
thấy
có
nơi
những
anh
em
Tin
Lành.
Hơn
nữa,
có
vài
nhóm
Tin
Lành
từ
khước
danh
hiệu
"Giáo
Hội"
ấy.
Vì
thế
"Cộng
Ðoàn
Giáo
Hội"
muốn
diễn
tả
những
cộng
đoàn
tín
hữu
có
vẻ
tương
tự
với
một
Giáo
Hội:
đó
là
một
từ
ngữ
khá
mơ
hồ.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II