VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
6-
SẮC
LỆNH
VỀ
NHIỆM
VỤ
CỦA
CÁC
GIÁM
MỤC
TRONG
GIÁO
HỘI
(CHRISTUS
DOMINUS)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
Lời
Giới
Thiệu
Trong
giai
đoạn
chuẩn
bị
Công
Ðồng,
Ủy
Ban
đặc
trách
vấn
đề:
"Giám
Mục
và
việc
cai
quản
giáo
phận"
đã
soạn
thảo
7
dự
án.
Tháng
10
năm
1962
sau
khi
Công
Ðồng
khai
mạc,
một
Ủy
Ban
Công
Ðồng
được
bầu
lên
với
nhiệm
vụ
thu
góp
vấn
đề
vào
hai
văn
kiện:
hai
văn
kiện
này
được
kết
thúc
vào
mùa
xuân
1963.
Văn
kiện
thứ
nhất,
có
tính
cách
pháp
luật,
nói
về
các
mối
tương
quan
giữa
Tòa
Thánh
và
các
Giám
Mục,
giữa
các
Giám
Mục
Phó
và
các
Giám
Mục
Phụ
Tá,
giữa
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
v.v...
Văn
kiện
thứ
hai
có
khuynh
hướng
mục
vụ
hơn,
đề
cập
đến
những
điểm
sau
đây:
nhiệm
vụ
của
Giám
Mục,
nhiệm
vụ
mục
vụ
của
cha
chính
xứ,
việc
dậy
giáo
lý
cho
giáo
dân
v.v...
Trong
kỳ
họp
II
vào
mùa
thu
1963,
chỉ
có
văn
kiện
thứ
nhất
được
đưa
ra
thảo
luận.
Các
Nghị
Phụ
đưa
ra
nhiều
nhận
xét
vừa
phong
phú
vừa
đích
xác.
Nhưng
vì
Công
Ðồng
có
khuynh
hướng
giản
lược
danh
sách
các
lược
đồ,
nên
đã
quyết
định
đúc
kết
hai
văn
kiện
trên
thành
một,
đồng
thời
chỉ
chú
trọng
đến
các
nguyên
tắc
hướng
dẫn
nhiệm
vụ
mục
vụ.
Ủy
ban
khởi
công
soạn
lại
một
bản
văn
hoàn
toàn
mới.
Sau
khi
đệ
trình
hội
nghị
đầu
kỳ
họp
III,
lược
đồ
mới
này
đã
thỏa
mãn
được
các
Nghị
Phụ.
Tuy
nhiên
các
ngài
cũng
đưa
ra
nhiều
ý
kiến
hào
hứng.
Chính
vì
thế
đến
cuối
kỳ
họp,
bản
văn
vẫn
chưa
được
công
bố.
Cho
đến
ngày
28-10-1965,
trong
kỳ
họp
IV,
khóa
VII
bản
văn
mới
được
chính
thức
công
bố
với
2
phiếu
nghịch
trên
2,322
phiếu
thuận.
Sắc
Lệnh
không
có
mục
đích
gợi
lên
những
ý
tưởng
thần
học
mới
mẻ,
nhưng
cụ
thể
hóa
trên
phương
diện
mục
vụ
giáo
lý
thần
học
về
chức
Giám
Mục
mà
chương
III
của
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
đã
đề
cập
đến.
Sắc
Lệnh
có
đặc
điểm
này
là
không
ở
trên
lãnh
vực
lý
thuyết,
nhưng
đã
phác
họa
ra
một
thực
hành
mục
vụ,
đề
nghị
áp
dụng
cụ
thể
các
sắc
lệnh
khác.
Thật
vậy
Sắc
Lệnh
này
thiết
lập
nhiều
định
chế
mới:
Thượng
Hội
Ðồng
Giám
Mục,
Hội
Ðồng
Giám
Mục,
Hội
Ðồng
Mục
Vụ,
v.v...
Do
đó,
trong
thực
tế
Sắc
Lệnh
có
tầm
quan
trọng
đặc
biệt:
vì
Giáo
Hội
được
canh
tân
một
phần
lớn
là
do
việc
thi
hành
Sắc
Lệnh
này.
Ðó
cũng
là
lý
do
tại
sao
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
đã
cho
công
bố
nhiều
tài
liệu
nhằm
thực
thi
Sắc
Lệnh.
Ðây
là
những
tài
liệu
chính:
-
Apostolica
sollicitudo,
ngày
15-9-1965,
thiết
lập
Thượng
Hội
Ðồng
Giám
Mục
(AAS
1965,
trg
775-780;
DC
1965,
1663-1668).
De
episcoporum
muneribus,
ngày
15-6-1966,
thêm
nhiều
quyền
hành
cho
Giám
Mục
(AAS
1966,
trg
467-472;
DC
1966,
1249-1254).
Ecclesiae
sanctae,
ngày
6-8-1966,
đưa
ra
nhiều
tiêu
chuẩn
thực
tế
cho
nhiều
vấn
đề
(AAS
1966
trg
757-787;
DC
1966,
1441-1470).
Regimini
Ecclesiae
Universae,
ngày
15-8-1967,
canh
tân
Giáo
Triều
Rôma
(AAS
1967,
trg
885-928;
DC
1967,
1441-1473).
Về
Nội
Dung
Sắc
Lệnh
về
Nhiệm
Vụ
Mục
Vụ
của
các
Giám
Mục
xoay
quanh
ba
chủ
đề
chính:
I.
Dân
Chúa
hay
đúng
hơn,
loài
người,
có
tín
ngưỡng
hay
không.
Dù
bản
văn
trực
tiếp
liên
hệ
đến
Giám
Mục,
nhưng
dân
chúng
luôn
luôn
đứng
hàng
đầu
vì
chính
họ
là
điều
kiện
đời
sống
và
hoạt
động
của
chủ
chăn.
Dân
chúng
được
nhìn
dưới
3
phương
diện.
1)
Chung
kết
hoạt
động
mục
vụ
của
Giám
Mục
và
hàng
Linh
Mục.
Giáo
phận
trước
tiên
là
một
phần
dân
Thiên
Chúa,
chứ
không
phải
chỉ
là
một
lãnh
thổ
(Số
11
và
22).
Con
người
là
đối
tượng
đối
thoại
của
Giám
Mục
về
ơn
cứu
rỗi.
Giám
Mục
được
kêu
gọi
làm
việc
này
(số
13).
Con
người
có
quyền
hiểu
biết
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
(số
12),
cũng
như
những
nhu
cầu,
hoàn
cảnh
dân
sự
và
xã
hội
của
con
người
sẽ
là
những
tiêu
chuẩn
căn
bản
vạch
định
biên
giới
Giáo
Hội
(số
23
và
39).
Nói
tóm
lại
nếu
tìm
một
tiêu
chuẩn
thì
tiêu
chuẩn
đó
phải
là
dân
chúng.
2)
Ðề
tài
của
việc
giáo
huấn.
Con
người
nói
chung
(MV
3,10-22)
hay
Kitô
hữu
nói
riêng
(GH
9,32...)
tất
cả
đều
mang
trong
mình
một
mầu
nhiệm
cần
được
khai
sáng.
Chính
vì
thế,
các
Giám
Mục
phải
dạy
cho
họ
biết
giá
trị
của
con
người,
của
gia
đình,
của
xã
hội
dân
sự
(số
12)
phải
được
quí
trọng
đến
mức
nào,
và
phải
làm
cho
giáo
dân
hiểu
họ
có
bổn
phận
cộng
tác
vào
việc
tông
đồ
(số
13,
17,
30).
3)
Người
tông
đồ
bên
cạnh
Giám
Mục
và
Linh
Mục.
Sắc
Lệnh
nhấn
mạnh
người
giáo
dân
có
quyền
và
bổn
phận
cộng
tác
vào
việc
tông
đồ
của
Giáo
Hội
(số
6,
10,
14,
16,
17,
27,
30).
II.
Giám
Mục.
Ðây
là
chủ
đề
chính
trong
Sắc
Lệnh
cùng
với
chương
III
của
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Giáo
Hội,
Sắc
Lệnh
này
phác
họa
hình
ảnh
của
vị
Giám
Mục
ngày
nay.
Sau
đây
là
vài
nét
chính:
1)
Giám
Mục
không
còn
là
ông
hoàng
đơn
độc,
tùy
thích
cai
trị
vương
quốc
bé
nhỏ
của
mình
là
giáo
phận:
từ
này,
danh
từ
Giám
Mục
trên
phương
diện
mục
vụ
phải
hiểu
là
một
đa
số.
Ngài
là
thành
phần
trong
Giám
Mục
Ðoàn
và
như
thế
ngài
phải
quan
tâm
đến
Giáo
Hội
phổ
quát
(số
3,
4,
6).
Ngài
là
chủ
chăn
giáo
phận
nhưng
liên
kết
với
các
linh
mục
của
ngài
(số
11,
16,
27,
28-30,
34).
Ngài
là
thành
phần
của
Hội
Ðồng
Giám
Mục
Quốc
Gia
để
phát
huy
di
sản
thiêng
liêng
cho
quốc
gia
(số
38).
trong
một
thời
đại
được
đánh
dấu
bằng
tinh
thần
khoa
học,
kỹ
thuật
và
hiệu
năng
(MV
5-7),
họa
hiếm
lắm
Giám
Mục
mới
đơn
phương
hoàn
thành
sứ
mạng
một
cách
thích
hợp
(số
37),
chính
vì
thế
Sắc
Lệnh
thiết
lập
một
liên
lạc
chặt
chẽ
giữa
mục
vụ
đối
thoại
(số
13,
16,
28),
mục
vụ
cộng
tác
và
mục
vụ
phối
hợp
(số
11,
15,
17,
18,
23,
24,
25,
27),
mục
vụ
hiệp
nhất
(số
16,
18,
30,
36)
và
mục
vụ
công
hiệu
(số
5,
10,
25,
28,
30,
35,
37,
38,
39,
40,
42).
2)
Giám
Mục
phải
là
một
nhà
truyền
giáo.
Ðiều
này
có
hai
ý
nghĩa:
a)
Cộng
tác
vào
việc
truyền
bá
đức
tin
giữa
những
dân
tộc
chưa
biết
Phúc
Âm
(số
3-6,
11,
12,
14,
16,
17,
23,
30).
Cũng
như
các
Sắc
Lệnh
khác,
nói
chung
Sắc
Lệnh
này
quả
quyết
việc
truyền
giáo
phải
được
ưu
tiên
và
cấp
bách:
hãy
chú
ý
đến
tiếng
nhất
là
(số
6),
đặc
biệt
(số
15),
(xem
thêm
TG
29).
Nên
chú
ý:
Sắc
Lệnh
này
không
phân
biệt
Âu
Châu
với
các
Xứ
Truyền
Giáo.
Ngay
cả
Xứ
Truyền
Giáo
cũng
có
bổn
phận
truyền
giáo
(x.
TG
20).
b)
Rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
người,
đã
tin
hay
chưa
tin,
để
kêu
gọi
họ
trở
về
đức
tin
hay
để
phát
triển
đức
tin
của
họ
(số
12,
xem
thêm
số
11,
13,
30).
Rao
giảng
Phúc
Âm
là
bổn
phận
đầu
tiên
của
Giám
Mục
(số
6,
12,
13,
17,
30;
xem
GH
20,
21,
23,
24;
MK
132,
139;
MV
32,
43;
TG
1,
5,
20,
29,
38
v.v...);
bổn
phận
này
trổi
vượt
hơn
các
bổn
phận
khác
(số
12;
x.
GH
25;
TG
29).
3)
Giám
Mục
phải
là
chứng
nhân
của
Chúa
Kitô.
Chứng
tích
phải
là
tinh
thần
làm
sống
động
mọi
hoạt
động
của
Giám
Mục
(số
11,
15,
x.
GH
21).
III.
Công
việc
Tông
Ðồ.
Phương
diện
mục
vụ
là
nét
đặc
thù
của
Sắc
Lệnh.
Ðây
là
vài
nét
chính:
1)
Việc
tông
đồ
phải
đặt
trọng
tâm
nơi
Chúa
Kitô.
Nhiệm
vụ
của
Giáo
Hội
là
mạc
khải
Chúa
Kitô
cho
thế
giới,
chứ
không
phải
mạc
khải
thế
giới
cho
thế
giới.
Vì
Chúa
Kitô
là
vị
cứu
tinh
duy
nhất,
là
trung
tâm,
là
cứu
cánh
của
lịch
sử
(MV
10,
22,
45;
GH
7,
9;
TG
8...),
Giáo
Hội
là
"dấu
chỉ
và
bí
tích
cứu
rỗi"
GH
1,
9,
48;
TG
1,
5...),
nên
Giám
Mục
và
các
linh
mục
của
ngài
phải
rao
giảng
toàn
thể
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
(số
12;
TG
13).
Các
ngài
phải
là
những
chứng
nhân
của
Chúa
Kitô
(số
11,
15)
hướng
dẫn
giáo
dân
hiểu
biết
đầy
đủ
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
(số
30),
mầu
nhiệm
phục
sinh
(số
15;
xem
thêm
MV
22).
2)
Thích
nghi
với
nhu
cầu
thời
đại.
Giáo
Hội
ngày
nay
là
cho
con
người
ngày
nay.
Giáo
Hội
có
nhiệm
vụ
giải
đáp
thỏa
đáng
cho
mỗi
thế
hệ
những
câu
hỏi
căn
bản
của
con
người
(MV
4).
Chính
vì
thế
Giáo
Triều
Rôma
(số
9),
đời
sống
của
Giám
Mục
(số
16),
những
công
việc
tông
đồ
(số
17),
những
ranh
giới
giáo
phận
(số
23),
giáo
phủ
(số
27)
v.v...
phải
thích
ứng
với
những
nhu
cầu
và
hoàn
cảnh
không
những
trên
lãnh
vực
thiêng
liêng,
mà
ngay
cả
ở
lãnh
vực
xã
hội
và
kinh
tế
của
con
người
ngày
nay.
Ðiều
này
càng
đúng
cho
việc
giảng
dạy
(số
13,
14).
3)
Phải
sử
dụng
những
phương
tiện
khoa
học,
kỹ
thuật
của
thế
giới
ngày
nay
để
làm
việc
tông
đồ.
Những
phương
tiện
phổ
thông
(số
13),
khoa
tâm
lý,
sư
phạm
(số
14;
xem
thêm
ÐT
2,
3,
5,
11,
20),
phương
pháp
kiểm
kê
xã
hội
và
tôn
giáo
(số
16,
17;
xem
thêm
MV
62).
Giáo
dân
hiện
diện
trong
Giáo
Triều
Rôma
và
giáo
phủ
là
hai
sự
kiện
minh
chứng
khả
năng
hiểu
biết
của
họ
(số
10
và
27).

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II