VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
8-
SẮC
LỆNH
VỀ
ĐÀO
TẠO
LINH
MỤC
(OPTATAM
TOTIUS)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
Văn
Sắc
Lệnh
Lời
Giới
Thiệu
Ðể
đo
lường
tất
cả
những
gì
Sắc
Lệnh
về
Ðào
Tạo
Linh
Mục
mang
lại,
trước
tiên,
chúng
ta
hãy
nhìn
qua
chính
việc
đào
tạo
các
Linh
Mục
qua
các
thời
đại,
từ
thời
Giáo
Hội
sơ
khai
đến
thời
Công
Ðồng
Triden
-
lúc
các
chủng
viện
được
thành
lập
-
và
từ
thời
đó
đến
thời
Công
Ðồng
Vaticanô
II.
Sau
đó
chúng
ta
sẽ
nêu
lên
nguồn
gốc
và
sự
tiến
triển
của
chính
bản
Sắc
Lệnh;
rồi
chúng
ta
sẽ
tóm
lược
nội
dung
bản
văn
để
rút
tỉa
những
viễn
tượng
mới
mẻ
và
những
lợi
ích
của
Sắc
Lệnh.
Sau
cùng
là
một
vài
trang
về
tài
liệu
hướng
dẫn
tham
khảo
giúp
những
ai
muốn
tìm
hiểu
vấn
đề
một
cách
sâu
rộng
hơn.
I.
Quá
Trình
Lịch
Sử
Về
Việc
Ðào
Tạo
Linh
Mục
A.
Từ
thời
thượng
cổ
đến
thời
Công
Ðồng
Triden
Các
vị
chăn
dắt
Giáo
Hội
sơ
khai
thường
được
tuyển
chọn
trong
số
các
giáo
hữu
trưởng
thành
sống
bên
cạnh
các
Thánh
Tông
Ðồ
và
những
môn
đệ
trực
tiếp
của
Chúa.
Họ
rao
giảng
Phúc
Âm,
chủ
tọa
các
buổi
họp,
"ban
phát
bánh"
như
chính
Chúa
Giêsu
đã
làm.
Những
trẻ
em
Kitô
giáo,
cũng
như
các
trẻ
em
khác,
đều
theo
học
nền
giáo
dục
cổ
điển
La
Hy
do
các
giáo
sư
Kitô
giáo
hay
lương
dân
chỉ
dạy.
Khi
hoàng
đế
Giulianô
cấm
các
nhà
giáo
dục
Kitô
hữu
với
sắc
lệnh
ngày
17-6-362,
người
ta
nhận
thấy
các
nhà
giáo
dục
Kitô
hữu
đã
tìm
phương
thế
thiết
lập
những
trường
Kitô
giáo
nhưng
lại
dạy
theo
lối
cổ
điển:
đó
là
hai
giáo
sư
Apollinarios
Tiền
và
Apollinarios
Hậu.
Họ
phỏng
tác
năm
cuốn
đầu
của
Cựu
Ước
theo
thể
văn
thơ,
những
sách
sử
ký
của
Cựu
ước
theo
văn
thể
kịch,
và
những
bản
văn
của
Tân
Ước
dưới
nhiều
hình
thức
phỏng
theo
Plato.
Khi
sắc
lệnh
ngăn
cấm
được
bãi
bỏ,
năm
364
các
giáo
sư
và
học
sinh
Kitô
hữu
trở
lại
với
các
trường
cổ
điển.
Nếu
thời
ấy
không
có
những
trường
học
Kitô
giáo
đặc
biệt
dành
riêng
cho
các
lớp
tiểu
học
và
trung
học,
thì
lại
có
những
trường
cho
các
lớp
cao
hơn.
Những
giáo
sư
như
thánh
Giustinô,
thánh
Clementê
thành
Alexandria,
Origenê
đã
mở
phân
khoa
triết
học
Kitô
giáo
với
mục
đích
chống
lại
chủ
trương
muốn
hạ
vấn
đề
mạc
khải
xuống
bậc
hiểu
biết
thuần
túy
tự
nhiên.
Những
vị
giáo
sư
rất
hùng
biện
này
đã
đào
sâu
và
trình
bày
đạo
lý
Kitô
giáo
theo
đòi
hỏi
của
các
nhu
cầu
thời
đại.
Dĩ
nhiên
những
trường
này
hầu
hết
đều
dựa
vào
việc
học
hỏi
vững
chắc
về
Thánh
Kinh
và
đào
tạo
cho
Giáo
Hội
những
vị
Linh
Mục
và
Giám
Mục,
nhất
là
ở
Rôma
và
ở
Alexandria.
Tuy
nhiên
hầu
hết
những
giáo
sĩ
được
tuyển
chọn
đều
nhờ
sự
tiếp
xúc
cá
nhân
với
các
Giám
Mục
hay
Linh
Mục
đứng
tuổi
tại
địa
phương.
Thánh
Augustinô
đã
thành
lập
chủng
viện
theo
phương
cách
đó:
Giám
Mục
đương
kim
và
linh
mục
cùng
chung
sống
dưới
một
kỷ
luật,
và
lời
giảng
dạy
với
gương
sáng
của
các
đấng
chăn
dắt
là
yếu
tố
chính
yếu
trong
việc
đào
tạo
linh
mục.
Hình
thức
này
đã
lan
rộng
đến
một
vài
nơi
ở
Ý,
ở
Pháp,
và
ở
Tây
Ban
Nha
nhưng
không
kéo
dài
được
bao
lâu.
Vào
thời
Trung
Cổ,
các
nơi
tu
học
được
liên
kết
với
các
học
viện
lớn
để
rồi
dần
dần
trở
thành
những
chủng
viện
của
các
dòng
này,
và
đã
bảo
đảm
việc
đào
tạo
các
linh
mục
tương
lai
của
dòng.
Vào
khoảng
năm
826,
Ðức
Giáo
Hoàng
Eugeniô
II,
trong
Công
Ðồng
họp
ở
Rôma,
đã
yêu
cầu
thiết
lập
trường
học
bên
cạnh
mỗi
nhà
thờ
chánh
tòa
để
giáo
dục
thanh
thiếu
niên
và
để
chuẩn
bị
hàng
giáo
sĩ
tương
lai.
Chẳng
bao
lâu,
với
đà
phát
triển
của
các
đại
học,
những
trường
trung
học
và
nội
trú
được
thành
lập
bên
cạnh
các
đại
học
để
cho
các
tu
sĩ
lui
tới
tham
dự.
Nhưng
số
tu
sĩ
tham
dự
lại
quá
ít,
và
ngoài
số
các
tu
sĩ
có
trình
độ
học
vấn
cao
đó,
phần
lớn
các
tu
sĩ
tiếp
tục
thụ
giáo
tại
nhà
để
đạt
một
sự
hiểu
biết
khái
quát
mà
thôi.
Vào
năm
1179,
Công
Ðồng
Lateranô
III
ca
ngợi
việc
thành
lập
các
trường
giáo
phận
trong
toàn
thể
Giáo
Hội.
Công
Ðồng
Lateranô
IV
năm
1215
nhấn
mạnh
rằng
tại
mỗi
trường
như
thế
cần
phải
có
một
giáo
sư
thần
học
đầy
đủ
tư
cách
để
dạy
Thánh
Kinh
và
Mục
Vụ
cho
các
linh
mục
tương
lai.
Ðức
Giáo
Hoàng
Honoriô
III
(năm
1183)
trong
sắc
lệnh
"Super
Specula"
và
Ðức
Bonifaciô
VIII
(năm
1289)
trong
sắc
lệnh
"Cum
ex
Eo"
cũng
đã
đặc
biệt
chú
trọng
đến
vấn
đề
đào
tạo
linh
mục.
Vào
thời
Phục
Hưng,
người
ta
cho
rằng
một
trong
những
khó
khăn
trầm
trọng
của
Giáo
Hội
chính
là
việc
thiếu
chuẩn
bị
chu
đáo
cho
công
trình
đào
tạo
linh
mục.
Phong
trào
ly
giáo
phát
khởi
từ
Luther
lại
biến
nhu
cầu
cấp
bách
đó
thành
mãnh
liệt
hơn.
Do
đó
Công
Ðồng
Triden
nhất
quyết
đương
đầu
với
vấn
đề
này.
B.
Công
trình
của
Công
Ðồng
Triden
đối
với
việc
đào
tạo
linh
mục
Công
trình
này
không
đột
khởi
như
một
"ngẫu
sinh".
Cũng
nên
biết
rằng
chính
các
linh
mục
dòng
Tên
tiên
khởi
đã
cảm
thấy
nhu
cầu
đó.
Trong
suốt
thời
giảng
đạo
ở
Ðức,
từ
năm
1542-1545,
một
đồ
đệ
của
thánh
Inhaxiô
thành
Loyola
đã
từng
nhấn
mạnh
về
việc
cần
phải
thiết
lập
những
học
viện
đặc
biệt
để
giúp
tu
sinh.
Ðã
có
người
quan
tâm
tới
ý
kiến
của
ngài:
đó
là
Ðức
Hồng
Y
Giovanni
Morone,
người
đã
giúp
thánh
Inhaxiô
thành
lập
ở
Rôma
một
Học
Viện
Ðức
vào
năm
1552
cho
những
linh
mục
tương
lai
sắp
được
gởi
sang
Ðức.
Họ
cư
ngụ
ở
Học
Viện
Ðức
nhưng
theo
học
ở
Học
Viện
Rôma
(thánh
Inhaxiô
thành
lập
Học
Viện
này
trước
đó
hai
năm
để
đào
tạo
các
linh
mục
dòng
Tên).
Thêm
vào
số
đó
còn
có
rất
nhiều
tu
sĩ
ở
các
nơi
khác
cũng
đến
học.
Lúc
đó
Học
Viện
Rôma
có
tới
300
sinh
viên
(trong
số
có
60
tu
sinh)
và
con
số
đã
lên
đến
1,000
vào
năm
1567.
Các
trường
giáo
phận
được
canh
tân
ở
một
vài
nơi:
Ðức
Giám
Mục
Gian
Matteo
Giberti
de
Verona
với
"trường
trợ
sĩ"
ở
Verona;
giảng
sư
J.
Kayserberg
đã
tích
cực
góp
ý
kiến
cho
Giám
Mục
Albert
de
Barrière
để
bổ
khuyết
cho
trường
giáo
phận
một
học
viện
thần
học.
Ngay
cả
những
anh
em
ly
khai
cũng
đã
chú
ý
đến
vấn
đề
này:
Tổng
Giám
Mục
Catobury
là
Thomas
Crammer
(1489-1556)
đã
canh
tân
những
trường
giáo
phận
trong
năm
1553.
Lược
đồ
đầu
tiên
trình
bày
ở
Công
Ðồng
Triden
được
gợi
hứng
một
cách
trung
thực
do
bản
văn
của
Ðức
Hồng
Y
Reginald
Pole:
"De
Seminariis
Erigendis"
trong
giáo
luật
số
11
của
cuộc
họp
Thượng
Hội
Ðồng
ở
nước
Anh
năm
1556.
Người
ta
cũng
đã
thành
lập
một
ủy
ban
nghiên
cứu
về
sự
lạm
dụng
trong
việc
ban
chức
phẩm
và
tìm
kiếm
những
phương
thế
để
tu
sửa
lại
bằng
nỗ
lực
đào
tạo
giáo
sĩ
một
cách
tốt
đẹp.
Năm
1563
ủy
ban
đã
thâu
góp
được
nhiều
tập
kỷ
yếu
khác
nhau:
kỷ
yếu
của
Ðức
Tổng
Giám
Mục
Ragusa
Louis
Beccadelli
gợi
ý
thành
lập
chủng
viện,
kỷ
yếu
của
Tổng
Giám
Mục
Reins
ca
ngợi
sự
canh
tân
các
trường
giáo
phận.
Sau
cùng
hoàng
đế
Ferdinand
I,
em
ruột
của
Carlos
Quinto,
yêu
cầu
thiết
lập
những
trường
dành
riêng
cho
giáo
sĩ
bên
cạnh
các
đại
học.
Năm
1563,
Công
Ðồng
Triden
dành
trọn
mục
18
của
phiên
họp
thứ
23
cho
vấn
đề
hệ
trọng
này.
Ðây
là
những
nét
chính:
mỗi
giáo
phận
phải
có
một
tiểu
chủng
viện
bên
cạnh
nhà
thờ
chính
tòa;
nếu
không
thể
được,
có
thể
lập
một
tiểu
chủng
viện
chung
cho
những
giáo
phận
lân
cận;
không
nhận
những
trẻ
em
dưới
12
tuổi
vào
tiểu
chủng
viện
vì
chúng
chưa
ý
thức
đủ
và
rõ
ràng
về
thiên
chức
Linh
Mục.
Nên
nhận
những
trẻ
em
nghèo;
những
trẻ
em
giàu
muốn
được
thu
nhận
phải
đóng
lệ
phí.
Phải
có
Thánh
Lễ
mỗi
ngày
cho
mọi
người
tham
dự.
Cho
hồi
tục
tức
khắc
những
kẻ
bất
tuân
và
những
kẻ
không
có
ơn
kêu
gọi.
Phải
lựa
chọn
kỹ
lưỡng
những
linh
mục
phụ
trách
công
việc
hệ
trọng
này.
Lợi
tức
và
tiền
quyên
trong
giáo
phận
được
dùng
để
giúp
đỡ
chủng
viện.
Chính
Ðức
Giám
Mục
đích
thân
điều
hành
chủng
viện,
bên
cạnh
ngài
có
hai
hội
đồng
phụ
tá:
một
hội
đồng
kỷ
luật
và
linh
hướng,
một
hội
đồng
tài
chánh.
C.
Áp
dụng
Sắc
Lệnh
của
Công
Ðồng
Triden
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
IV
đã
nêu
gương
bằng
cách
thiết
lập
tại
Rôma
một
chủng
viện
vào
năm
1565.
Rất
nhiều
Công
Ðồng
Miền
thêm
một
số
quy
luật
về
thành
lập
chủng
viện
khắp
nơi.
Thánh
Carolô
Borromeô
là
một
trong
những
nhà
vô
địch
của
vấn
đề
canh
tân
theo
chiều
hướng
Công
Ðồng:
tuy
ở
Milan
chẳng
bao
lâu,
ngài
cũng
đã
mở
một
chủng
viện
cho
150
sinh
viên
học
về
Giáo
Hội.
Ngài
cũng
thiết
lập
"La
Canonisa"
cho
những
người
tuy
không
có
năng
khiếu
về
môn
học
này
nhưng
có
dịp
thể
hiện
niềm
hy
vọng
trở
thành
linh
mục
nhân
đức
và
nhiệt
thành:
có
60
sinh
viên
được
đào
tạo
với
một
căn
bản
vững
chắc
về
Thánh
Kinh,
thần
học
tín
lý
và
mục
vụ.
Sau
đó
ngài
còn
thiết
lập
3
chủng
viện
"dự
bị":
một
cho
lớp
người
đứng
tuổi,
một
cho
thanh
niên
và
một
cho
thiếu
niên.
Ngài
mời
các
cha
Dòng
Tên
cộng
tác
trong
chủng
viện
và
chính
ngài
cũng
hô
hào
phong
trào
"góp
công
góp
của"
(theo
gương
Thánh
Ambrosiô)
để
nuôi
sống
chủng
viện.
Ngài
viết
tập
"Institutiones
ad
unversum
seminarii
regimen
pertinentes".
Ở
Pháp,
Ðức
Hồng
Y
Charles
de
Lorraine,
Tổng
Giám
Mục
Reins
là
người
đầu
tiên
áp
dụng
Sắc
Lệnh
Công
Ðồng
Triden;
dầu
chiến
tranh
tôn
giáo
đã
làm
chậm
trễ
nhiều
nhưng
ngài
cũng
đã
thành
công
trong
việc
thực
hiện.
Ba
vĩ
nhân
tên
tuổi
trong
việc
thực
hiện
sắc
lệnh
của
Công
Ðồng
ở
Pháp
là:
Thánh
Vincent
de
Paul,
Cha
J.J.
Olier
và
Thánh
Jean
Eudes.
Thánh
Vincent
de
Paul
bắt
đầu
bằng
việc
mở
một
cuộc
họp
suốt
mười
ngày
để
huấn
đức
cho
các
linh
mục
tương
lai;
sau
đó
việc
huấn
đức
biến
thành
một
giai
đoạn
học
tập
trong
vòng
2
hoặc
3
năm
kể
từ
khi
mãn
triết
học
cho
đến
lúc
thụ
phong
linh
mục.
Năm
1635
ngài
mở
một
phân
khoa
thần
học
ở
Học
Viện
"Des
Bons
Enfants",
rồi
ở
St.
Lazare
cho
phân
khoa
nhân
văn.
Vào
năm
1642
ngài
cũng
thành
lập
một
chủng
viện.
Lúc
cách
mạng
1789
xảy
ra,
các
linh
mục
của
Hội
Truyền
Giáo
(do
thánh
Vincent
de
Paul
sáng
lập)
đã
điều
khiển
đến
một
phần
ba
những
chủng
viện
ở
Pháp:
khoàng
53
đại
chủng
viện
và
9
tiểu
chủng
viện.
Cha
Olier
thành
lập
chủng
viện
quốc
gia
tại
họ
đạo
St.
Sulpice
ở
Paris,
và
hai
năm
sau
tức
năm
1644,
ngài
nhận
chủng
sinh
của
20
giáo
phận
khắp
nước
Pháp
gởi
đến.
Vào
năm
1651
ngài
phát
hành
một
bản
qui
luật
mô
phỏng
theo
"các
qui
luật
của
chủng
viện".
Các
linh
mục
của
chủng
viện
này
cũng
đã
đích
thân
giúp
đỡ
những
chủng
viện
khác
theo
sự
yêu
cầu
của
các
Giám
Mục.
Thánh
Jean
Eudes,
nhà
giảng
thuyết
và
cũng
là
sáng
lập
viên
dòng
Thánh
Tâm,
lập
một
chủng
viện
ở
Caen
năm
1663.
Sau
đó
một
thế
kỷ,
các
linh
mục
của
chủng
viện
này
trở
thành
những
nhà
giáo
dục
của
40
chủng
viện.
Cuộc
Cách
Mạng
Pháp
1789
đã
gây
ra
những
hậu
quả
tai
hại
cho
công
trình
thiết
lập
chủng
viện
ở
Âu
Châu:
hầu
hết
các
chủng
viện
đều
phải
đóng
cửa
hay
giải
tán.
Vào
thế
kỷ
XIX,
dần
dần
các
chủng
viện
lại
được
tái
lập
khắp
nơi.
Vào
thời
đại
này,
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
X
phục
hưng
Giáo
Triều
Rôma
và
đặc
biệt
nâng
đỡ
các
đại
học.
Năm
1915,
Ðức
Beneđictô
XV
thêm
vào
Thánh
Bộ
về
đại
học
một
Thánh
Bộ
về
chủng
viện.
Những
khoản
luật
(1357-1377)
của
bộ
Giáo
luật
mới
năm
1918
tiế
tục
xác
định
điều
đó.
Tóm
lại,
các
vị
Giáo
Hoàng
đã
bận
tâm
rất
nhiều
về
vấn
đề
đào
tạo
hàng
Giáo
Sĩ.
Trong
thế
kỷ
XX
này,
tất
cả
những
bận
tâm
ấy
đã
trở
thành
một
"tài
liệu"
quí
giá
cho
vấn
đề
đào
tạo
các
linh
mục:
chính
Công
Ðồng
Vaticanô
II
đã
ghi
rõ
điều
đó
trong
"lời
mở
đầu"
của
"Sắc
Lệnh
về
Ðào
Tạo
Linh
Mục".
II.
Nguồn
Gốc
Và
Sự
Phát
Triển
Của
Bản
Văn
"Sắc
Lệnh
Về
Ðào
Tạo
Linh
Mục"
Ðược
triệu
tập
trong
chiều
hướng
mục
vụ
hơn
là
tín
lý,
Công
Ðồng
Vaticanô
II
không
thể
không
đưa
lên
hàng
đầu
mối
quan
tâm
về
viêc
đào
tạo
các
linh
mục
tương
lai.
Với
truyền
thống
sống
động
luôn
đổi
mới
"giống
như
tế
bào
của
một
đại
thân
thể"
(theo
lời
Ðức
Giám
Mục
Brunon),
và
với
nền
tảng
kinh
nghiệm
của
hàng
chục
thế
kỷ.
Giáo
Hội
muốn
nghiên
cứu
lại
lãnh
vực
này
và
canh
tân
phương
pháp
để
việc
chuẩn
bị
các
linh
mục
được
hữu
hiệu
hơn.
Sắc
Lệnh
đáp
ứng
lại
mối
ưu
tư
của
tất
cả
các
nghị
Phụ
Công
Ðồng.
Ðược
các
phiên
họp
ban
đầu
sửa
soạn
chu
đáo,
bản
văn
là
một
thành
quả
đã
được
vun
tưới
và
chín
mùi
do
việc
học
hỏi
và
đào
sâu
tất
cả
những
vấn
đề
khác
của
Công
Ðồng.
Bản
văn
được
bỏ
phiếu
chấp
thuận
hầu
như
tuyệt
đối
ngày
29-10-1965
trong
suốt
phiên
họp
cuối
cùng.
Chúng
ta
tuần
tự
ghi
lại
những
giai
đoạn
cấu
thành
Sắc
Lệnh
quan
trọng
này:
-
5-6-1960:
Tự
Sắc
"Superno
Dei
Nutu"
thành
lập
10
Ủy
Ban
chuẩn
bị
Công
Ðồng.
Ủy
Ban
thứ
Bảy
là
ủy
ban
lo
về
vấn
đề
giáo
dục
và
chủng
viện
Chủ
Tịch
Ủy
Ban
là
Ðức
Hồng
Y
Pizzardo;
Ủy
Ban
có
90
hội
viên
gồm
19
quốc
gia.
32
cố
vấn
thuộc
8
quốc
gia:
tất
cả
đều
được
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
triệu
tập.
-
24-2-1962:
Ðức
Hồng
Y
Pizzardo
trình
bày
ở
phiên
họp
thứ
tư
của
ủy
Ban
Trung
Ương
hai
bản
văn
đã
được
soạn
thảo
từ
năm
1960
và
đã
được
thông
tri
cho
các
Giám
Mục.
Lược
đồ
A1:
Sắc
Lệnh
về
việc
"cổ
võ
ơn
thiên
triệu
trong
Giáo
Hội".
Lược
đồ
A2:
Hiến
chế
về
việc
đào
tạo
các
chủng
sinh
có
chức
thánh".
-
27-2-1965:
Kết
thúc
phiên
họp
thứ
tư
của
Ủy
Ban
Trung
Ương.
Ðức
Giáo
Hoàng
Gioan
XXIII
đã
nói:
"Chúng
con
hãy
biết
rằng
những
vấn
đề
đó
(ơn
kêu
gọi,
chủng
viện)
đã
ăn
rễ
sâu
trong
tim
Cha".
-
12-6-1962:
Kết
quả
cuộc
bàn
cãi:
một
lược
đồ
mới
thành
hình:
lược
đồ
B,
gồm
tóm
cả
hai
lược
đồ
A1
và
A2.
-
16-10-1962:
Các
Nghị
Phụ
Công
Ðồng
chọn
16
nhân
viên
vào
tân
Ủy
Ban;
Ðức
Giáo
Hoàng
cho
thêm
9
nhân
viên
nữa:
Ủy
Ban
đại
diện
cho
16
quốc
gia.
-
21-2-1963
đến
2-3-1963:
Duyệt
kỹ
lại
lược
đồ
B;
lược
đồ
C
ra
đời,
sẵn
sàng
gởi
đến
các
Nghị
Phụ
Công
Ðồng
vào
tháng
5.
-
4-1964:
Sau
khi
đúc
kết
ý
kiến
của
các
Nghị
Phụ
và
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục,
một
bản
văn
mới
lại
được
đưa
ra:
lược
đồ
D.
- 3
đến
11-3-1964:
Ủy
Ban
duyệt
lại
bản
văn
D
và
rút
gọn
lại,
do
đó
có
lược
đồ
E:
"Sacra
synodus"
được
gởi
tới
tận
tay
các
Nghị
Phụ
ngày
27-7-1964.
- 9
và
10-1964:
Duyệt
lại
lược
đồ
E
theo
những
đề
nghị
nhận
được,
lược
đồ
F
ra
đời
và
được
gởi
đến
các
Nghị
Phụ
vào
tháng
11.
-
12-11-1964:
Sau
bài
thuyết
trình
của
Ðức
Cha
Carraro,
nguyên
Viện
Trưởng
chủng
viện
Treviso,
bản
văn
được
bàn
cãi
trong
Công
Ðồng
suốt
bốn
ngày.
Có
tới
32
lần
phát
biểu
ý
kiến
(trong
đó
có
bốn
lần
thuộc
các
xứ
truyền
giáo)
và
67
lần
góp
ý
bằng
thư.
-
17-11-1964:
Bản
văn
hầu
như
được
chấp
thuận
hoàn
toàn
nhưng
có
tới
1,358
đề
nghị
tu
chỉnh.
-
5-1965:Bản
văn
mới,
lược
đồ
G,
hoàn
tất
sau
khi
Ủy
Ban
đã
cố
gắng
đưa
vào
nhiều
đề
nghị
tu
chỉnh.
-
11-10-1965:
Kỳ
họp
IV
Công
Ðồng:
bỏ
phiếu
chung
quyết.
Trước
tiên
là
bỏ
phiếu
các
số
của
Sắc
Lệnh.
-
13-10-1965:
Sau
đó
bỏ
phiếu
chung
cho
lược
đồ
G:
có
2,196
phiếu
thuận
trong
số
2,212.
-
28-10-1965:
Bỏ
phiếu
công
bố
chính
thức:
trong
tổng
số
2,321
phiếu
có
tới
2,318
phiếu
thuận
và
chỉ
có
3
phiếu
chống.
Thế
là
lược
đồ
H
thành
bản
văn
chính
thức
của
Sắc
Lệnh.
Trong
tất
cả
những
văn
kiện
của
Công
Ðồng,
chỉ
có
2
Sắc
Lệnh:
tức
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
(với
2
phiếu
chống)
và
Sắc
Lệnh
về
Nhiệm
Vụ
Mục
Vụ
của
các
Giám
Mục
(với
2
phiếu
chống
và
một
phiếu
bất
hợp
lệ)
là
đạt
được
đa
số
tuyệt
đối
cao
hơn
Sắc
Lệnh
này.
Có
thể
nói
rằng
bản
văn
này
là
kết
tinh
của
bao
nỗ
lực
của
Công
Ðồng
và
đã
mang
lại
cho
Giáo
Hội
hôm
nay
những
định
hướng
quan
trọng.
Vì
vậy,
mặc
dù
những
khủng
hoảng
hiện
nay,
nó
vẫn
cho
ta
thấy
trước
một
cuộc
canh
tân
và
một
thành
quả
có
thể
làm
cho
tâm
hồn
các
vị
chủ
chăn
tràn
đầy
tin
tưởng.
III
Tổng
Quát
Về
Nội
Dung
Sắc
Lệnh
Lời
mở
đầu:
Tầm
quan
trọng
và
giá
trị
phổ
quát
của
vấn
đề
đối
với
việc
canh
tân.
Chương
I:
Số
1:
Phương
thức
đào
tạo
phải
được
áp
dụng
trong
mỗi
quốc
gia:
sự
đồng
nhất
và
thích
nghi.
Chương
II:
Số
2:
Ân
cần
cổ
võ
ơn
thiên
triệu
linh
mục
là
việc
chung
của
mọi
người:
gia
đình,
giáo
xứ,
nhà
giáo
dục,
linh
mục,
giám
mục;
chỉnh
đốn
hành
động
để
đáp
ứng
với
hành
động
của
Chúa
Quan
Phòng;
phương
tiện
cổ
truyền
và
mới
mẻ.
Số
3:
Ðối
tượng
của
số
này:
các
Tiểu
Chủng
Viện;
cung
ứng
một
nền
giáo
dục
vững
chắc
và
thích
hợp
về
nhân
bản
và
thiêng
liêng;
về
những
thanh
thiếu
niên
thuộc
các
ngành
giáo
dục
khác
và
những
ơn
kêu
gọi
muộn.
Chương
III:
Tổ
chức
các
Ðại
Chủng
Viện.
Số
4:
Sự
cần
thiết
và
mục
đích
của
mục
vụ
đòi
phải
đào
tạo
chủng
sinh
dưới
mọi
khía
cạnh.
Số
5:
Vấn
đề
quan
trọng:
các
nhà
giáo
dục
phải
được
chọn
lựa,
chuẩn
bị,
thống
nhất
chặt
chẽ,
được
Giám
Mục
và
tất
cả
các
linh
mục
trong
giáo
phận
khuyến
khích:
tất
cả
mọi
người
giúp
đỡ
chủng
viện.
Số
6:
Nghiên
cứu
về
ơn
thiên
triệu:
ý
ngay
lành,
tự
do,
khả
năng,
sự
kiên
quyết.
Số
7:
Chủng
Viện
từng
vùng:
để
có
một
nhóm
những
nhà
giáo
dục
hoàn
hảo.
Chú
trọng
đến
phẩm
cách
những
kẻ
thụ
giáo:
nếu
nhóm
quá
đông,
nên
thành
lập
những
nhóm
nhỏ
hơn,
có
người
hướng
dẫn
đàng
hoàng.
Chương
IV:
Huấn
luyện
tu
đức
vững
chắc.
Số
8:
Ðào
tạo
đời
sống
mật
thiết
với
Chúa
Ba
Ngôi,
Chúa
Kitô,
Ðức
Mẹ:
một
đời
sống
cầu
nguyện
theo
tinh
thần
Phúc
Âm
và
nhiệt
thành.
Số
9:
Ðào
tạo
tinh
thần
Giáo
Hội:
cộng
tác
viên
tương
lai
của
các
Giám
Mục,
những
cộng
sự
viên
của
các
Linh
Mục
khác,
trong
tinh
thần
phục
vụ
khiêm
nhượng,
vâng
lời
với
trách
nhiệm,
nghèo
khó,
tin
tưởng
vào
ơn
thiên
triệu.
Số
10:
Ðào
tạo
một
đời
sống
độc
thân
linh
mục:
một
động
lực
siêu
nhiên,
cánh
chung
và
tông
đồ,
một
ân
huệ
do
sự
kiên
tâm
cầu
nguyện
đem
lại.
Ý
thức
rõ
ràng
về
hôn
nhân.
Chấp
nhận
sự
từ
bỏ
ấy
trong
tự
do
và
ý
thức.
Số
11:
Ðào
tạo
trưởng
thành
về
nhân
cách:
tính
tình,
sự
bền
chí,
những
đức
tính
nhân
bản,
sống
kỷ
luật
với
tinh
thần
siêu
nhiên
và
trong
cách
sử
dụng
tự
do.
Số
12:
Phương
thế
đặc
biệt
của
việc
đào
tạo:
thời
gian
đào
tạo,
thời
kỳ
tập
sự
giữa
các
năm
học,
tuổi
truyền
chức
được
ấn
định
cao
hơn,
thực
tập
chức
phó
tế.
Chương
V:
Các
môn
học
của
Giáo
Hội.
Số
13:
Trước
hết
phải
có
một
nền
giáo
dục
trung
đẳng
vững
chắc
về
nhân
bản
và
khoa
học,
phải
biết
La
Ngữ
và
những
cổ
ngữ
trong
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền.
Số
14:
Ðịnh
hướng
tiên
quyết;
học
về
mầu
nhiệm
Chúa
Cứu
Thế
và
việc
Cứu
Chuộc,
biết
dung
hòa
môn
triết
học
với
thần
học.
Số
15:
Triết
học:
Mục
đích:
tìm
hiểu
về
con
người,
vũ
trụ,
Thiên
Chúa;
trọng
trách
bảo
vệ
gia
sản
có
giá
trị
ngàn
đời,
những
tương
quan
triết
học
hiện
đại,
đào
sâu
lịch
sử,
khuyến
khích
việc
học
hỏi
cá
nhân,
chứng
minh
sự
liên
quan
giữa
học
thuyết
với
những
vấn
đề
nhân
sinh
và
mầu
nhiệm
Cứu
Chuộc.
Số
16:
Thần
học:
Mục
đích:
thấu
triệt
vấn
đề
mạc
khải;
sống
mạc
khải
và
biết
trình
bày
mạc
khải.
Thánh
Kinh:
linh
hồn
của
môn
thần
học,
học
biết
chú
giải,
biết
những
đề
tài
quan
trọng
của
mạc
khải.
Thánh
Kinh
như
món
ăn
thiêng
liêng.
Tín
lý:
Bắt
đầu
từ
những
đề
tài
trong
Thánh
Kinh,
minh
chứng
sự
đóng
góp
của
các
Giáo
Phụ,
với
sự
liên
quan
lịch
sử.
Suy
luận
theo
chiều
hướng
của
Thánh
Tôma.
Luân
lý:
có
tính
cách
Thánh
Kinh
hơn
và
theo
chiều
hướng
bác
ái.
Giáo
luật
và
Giáo
sử:
liên
quan
với
mầu
nhiệm
Giáo
Hội.
Phụng
vụ:
Theo
"Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
Thánh".
Học
về
hiệp
nhất
và
các
tôn
giáo
khác.
Số
17:
Phương
pháp
sư
phạm:
Học
hỏi
kỹ
càng,
khuyến
khích
làm
việc
riêng,
làm
việc
tập
thể,
nhằm
sự
hiệp
nhất
và
tinh
thần
liên
đới;
tránh
những
phiền
phức
gò
bó
của
luật
lệ,
nên
chọn
lựa
những
vấn
đề
thực
tế
hơn.
Số
18:
Giáo
dục
nơi
đại
học:
Lựa
chọn
cẩn
thận
những
người
có
khả
năng
thích
hợp
theo
các
phân
khoa
đại
học
nhưng
vẫn
tiếp
tục
hướng
dẫn
họ
về
vấn
đề
tu
luyện
đạo
đức.
Chương
VI:
Vấn
đề
đào
tạo
mục
vụ
nói
riêng.
Số
19:
việc
đào
tạo
mục
vụ
phải
chi
phối
tất
cả
các
việc
đào
tạo
khác;
biết
nghệ
thuật
linh
hướng,
biết
phát
triển
mọi
khả
năng
đối
thoại,
biết
nghe,
biết
yêu
thương.
Số
20:
Những
môn
học
bổ
túc:
Sư
phạm,
tâm
lý
xã
hội,
tông
đồ
giáo
dân,
tinh
thần
tông
đồ
phổ
quát
và
truyền
giáo.
Số
21:
Thực
hành
việc
tông
đồ:
Ðó
là
vấn
đề
cần
thiết
trong
kỳ
nghỉ
và
suốt
thời
gian
học
tập
với
một
phương
pháp
được
người
có
thẩm
quyền
hướng
dẫn
chu
đáo;
phải
xác
tín
tầm
quan
trọng
ưu
tiên
của
những
phương
tiện
siêu
nhiên
đối
với
việc
tông
đồ.
Chương
VII:
Việc
huấn
luyện
bổ
túc
sau
khi
mãn
trường.
Số
22:
Tiếp
tục
đào
luyện
thường
xuyên
cho
các
giáo
sĩ:
nhờ
các
học
viện,
qua
các
kỳ
hội
thảo,
bằng
những
hoạt
động
định
kỳ.
Kết
luận:
Trong
chiều
hướng
của
Công
Ðồng
Triden
nhưng
với
một
tinh
thần
mới
mẻ,
Giáo
Hội
và
Công
Ðồng
Vaticanô
II
hy
vọng
nhiều
nơi
các
linh
mục
tương
lai,
vì
nhờ
sự
huấn
luyện
kỹ
càng
và
thích
hợp,
các
linh
mục
đó
sẽ
đạt
được
những
kết
quả
lâu
bền.
IV.
Viễn
Tượng
Mới
Do
Sắc
Lệnh
Mang
Lại
Tuy
được
cưu
mang
trước
Công
Ðồng,
nhưng
Sắc
Lệnh
chỉ
chào
đời
vào
thời
kỳ
họp
cuối
cùng.
Có
thể
nói
Sắc
Lệnh
đã
hấp
thụ
bầu
khí
của
Công
Ðồng
để
chín
dần,
đã
được
dinh
dưỡng
bằng
nhựa
sống
dồi
dào
và
phong
phú
trong
khoảng
đất
đầy
mầu
mỡ
do
những
dữ
kiện
học
hỏi
giáo
lý
và
mục
vụ
ở
những
sắc
lệnh
khác.
Nơi
đây
ta
còn
nhận
thấy
các
quan
tâm
và
định
hướng
rõ
rệt
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II:
tính
cách
ưu
tiên
của
mục
vụ
trong
việc
đào
tạo,
nhấn
mạnh
việc
giáo
dục
nhân
bản,
tinh
thần
hiệp
nhất,
cởi
mở
với
những
trào
lưu
hiện
đại
để
đưa
đến
một
cuộc
đối
thoại
thực
sự,
những
hoạt
động
mục
vụ
trong
toàn
thể
Giáo
Hội
đối
với
việc
dìu
dắt
mầm
non
ơn
thiên
triệu,
tinh
thần
mới
mẻ
trong
việc
học
tập
rộng
rãi
các
huấn
lệnh
của
Giáo
Hội,
trách
nhiệm
tiên
phong
của
những
Hội
Ðồng
Giám
Mục
đối
với
những
việc
liên
quan
đến
phương
thức
đào
tạo
các
linh
mục,
nhấn
mạnh
về
vấn
đề
đào
tạo
trường
kỳ
cho
giáo
sĩ
giữa
một
thế
giới
luôn
luôn
đổi
mới
của
thời
đại
này.
Bởi
vậy
Sắc
Lệnh
này
phù
hợp
với
tất
cả
những
văn
kiện
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II.
Tập
"Giáo
Huấn"
ngày
6-1-1970
của
Thánh
Bộ
Giáo
Dục
Công
Giáo
đã
trình
bày
những
tiêu
chuẩn
đào
tạo
linh
mục
tương
lai.
Với
tài
liệu
này,
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
có
trách
nhiệm
đã
được
chỉ
dẫn
đầy
đủ.
Các
linh
mục
tương
lai
có
thể
vững
tâm
trông
cậy
hoàn
toàn
vào
Thánh
Thần
Thiên
Chúa,
Ðấng
đã
linh
ứng
và
hướng
dẫn
Giáo
Hội
không
ngừng,
để
dọn
mình
làm
linh
mục
của
Chúa
Kitô,
linh
mục
của
ngày
mai
và
của
hết
thảy
mọi
thời
đại.
Với
Sắc
Lệnh
này,
chúng
ta
thấy
được
biết
bao
tiến
bộ
về
quan
niệm
đào
tạo
linh
mục.
Chỉ
cần
đọc
lại
những
mệnh
lệnh
của
giáo
luật
về
vấn
đề
chủng
viện
cũng
đủ
để
đi
đến
kết
luận
rằng:
dù
mối
bận
tâm
của
Giáo
Hội
đối
với
những
linh
mục
tương
lai
trước
sau
vẫn
là
một,
nhưng
tinh
thần
những
định
hướng
mới
mẻ
và
những
chú
trọng
đặc
biệt
trong
Sắc
Lệnh
cho
chúng
ta
thấy
có
một
cái
gì
rất
đặc
sắc.
Linh
mục
theo
Công
Ðồng
Vaticanô
II
là
một
linh
mục
kết
hiệp
với
Thầy
Chí
Thánh,
khao
khát
một
đời
sống
Phúc
Âm
thực
sự,
đi
theo
đường
Chúa
Giêsu
đã
đi,
và
đồng
thời
là
người
lo
lắng
đem
thân
mình
phục
vụ
anh
em
và
mọi
người
trong
một
cuộc
gặp
gỡ
cởi
mở,
chân
thành
và
thích
nghi.
Nhờ
đó
linh
mục
có
thể
đem
đến
cho
mọi
người
Sứ
điệp
của
Chúa
Kitô
trong
một
ngôn
ngữ
dễ
hiểu
và
linh
động,
cống
hiến
cho
họ
ơn
cứu
rỗi
của
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
tự
hiến
qua
một
Giáo
Hội
có
khuôn
mặt
trẻ
trung,
có
vòng
tay
và
con
tim
rộng
mở
chờ
đón
hết
mọi
con
người
của
thời
đại
chúng
ta
và
tất
cả
mọi
dân
tộc.
Ðồng
ý
với
một
quan
sát
viên
Công
Ðồng,
chúng
ta
tin
rằng:
"Ðó
là
một
trong
số
những
bản
văn
rất
cởi
mở
và
rất
mới
mẻ
của
Công
Ðồng"
(Etudes,
tháng
1,
1968).

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II