VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
9-
SẮC
LỆNH
VỀ
GIÁO
DỤC
KITÔ
GIÁO
(GRAVISSIMUM
EDUCATIONIS)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
văn
Tuyên
Ngôn
Lời
Giới
Thiệu
Chú
ý
đọc
bản
Tuyên
Ngôn
về
giáo
dục,
chúng
ta
sẽ
cảm
thấy
những
ấn
tượng
khá
phức
tạp
buồn
vui
lẫn
lộn,
vừa
sung
sướng
vừa
thất
vọng.
Phân
tích
sơ
qua
ta
cũng
đủ
thấy
được
những
nguyên
do
rõ
rệt
gây
ra
những
hậu
quả
trên.
Trước
hết,
bản
Tuyên
Ngôn
có
một
chất
liệu
rất
là
phong
phú,
một
luồng
thanh
khí
sôi
bỏng
làm
cho
bản
Tuyên
Ngôn
trở
nên
sống
động,
chứng
tỏ
rằng
Cộng
Ðồng
đã
ý
thức
đầy
đủ
tính
chất
quan
trọng
cũng
như
tầm
mức
diễn
tiến
của
vấn
đề.
Nhất
là
người
ta
ngỡ
ngàng
trước
mối
thiện
cảm
chân
thành
và
đáng
phục
của
Giáo
Hội
đối
với
nỗ
lực
của
những
ai
đang
theo
đuổi
một
lý
tưởng
trùng
hợp
với
niềm
ưu
tư
liên
lỉ
của
mình
là
chu
toàn
sứ
mệnh
trần
gian
và
vĩnh
cửu
của
nhân
loại.
Trong
khi
đó,
cách
bố
cục
lại
thiếu
cân
xứng
và
vững
chắc.
Người
ta
mong
thấy
một
kiểu
trình
bày
khúc
chiết
hơn
để
độc
giả
có
cảm
tưởng
đầy
đủ
và
thoải
mái
như
khi
chiêm
ngưỡng
một
lâu
dài
kiên
cố
với
những
chi
tiết
tỉ
mỉ,
mỹ
thuật.
Lịch
sử
Ấn
tượng
lưỡng
diện
trên
thật
dễ
hiểu.
Ngày
17-11-1964
khi
các
Nghị
Phụ
thảo
luận
về
lược
đồ
của
bản
Tuyên
Ngôn
này,
đó
chỉ
là
một
bản
văn
ngắn
gọn,
không
có
giá
trị
tổng
quát
bao
nhiêu.
Một
số
Nghị
Phụ
muốn
thu
tóm
thành
một
đoạn
để
đưa
vào
một
sắc
lệnh
quan
trọng
khác;
một
số
khác
lại
muốn
khai
triển
tư
tưởng
của
Giáo
Hội
về
vấn
đề
này
một
cách
rộng
rãi
hơn.
Trước
tình
trạng
tế
nhị
đó,
đa
số
cố
gắng
đem
sơ
đồ
ra
biểu
quyết
để
định
hướng
vấn
đề,
sợ
rằng
nếu
bác
bỏ
lại
gặp
phải
một
lược
đồ
còn
nghèo
nàn
hơn.
Vì
thế
thà
chấp
nhận
những
cố
gắng
đáng
kể
về
phương
diện
giáo
dục
do
người
đời
đóng
góp
còn
hơn
là
tông
huấn
Divini
Illius
Magistri
quá
tách
biệt
với
các
định
chế
nhân
loại.
Như
vậy
các
ngài
hy
vọng
có
thể
bổ
túc
thêm
những
gì
cần
thiết.
Ngày
20-11-1964,
bản
văn
được
thông
qua
với
1,457
phiếu
thuận,
419
phiếu
chống
và
3
phiếu
trắng
trong
số
1,879
Nghị
Phụ
hiện
diện.
Tài
liệu
được
hoàn
lại
cho
Ủy
ban
đặc
trách.
Ủy
ban
lại
chỉ
định
một
tiểu
ban
gồm
có
cha
Hoffer,
thư
ký
ủy
ban
và
nhiều
vị
thông
thái
khác
như
Robert
Massi,
Paul
Dezza
v.v...
Từ
23
đến
30
tháng
3
năm
1965,
trong
khi
soạn
thảo
dự
án,
tiểu
ban
đã
lưu
ý
tất
cả
những
lời
bình
phẩm
cũng
như
"gợi
ý"
của
một
số
đông
các
Nghị
Phụ
gửi
tới.
Nhưng
bản
văn
mới
lại
quá
phong
phú,
xa
hẳn
bản
cũ
cả
về
lượng
lẫn
nội
dung.
Nhiều
Nghị
Phụ
cho
rằng
làm
như
thế
là
không
hợp
pháp
và
cần
duyệt
xét
lại
cẩn
thận.
Rất
may
là
không
xảy
ra
điều
chi
đáng
tiếc
cả
và
ngày
14-10-1965,
văn
kiện
đã
được
chấp
nhận
với
1,912
phiếu
thuận
đối
lại
với
183
phiếu
chống.
Sau
cùng
bản
Tuyên
Ngôn
đã
được
công
bố
với
2,290
phiếu
thuận,
chỉ
có
35
phiếu
chống.
Phân
tích
Giờ
đây
chúng
ta
hãy
cùng
nhau
phân
tích
văn
kiện
trên:
1.
Văn
kiện
này
dựa
trên
nguyên
tắc
của
luật
tự
nhiên:
mọi
người
đều
có
quyền
hưởng
một
nền
giáo
dục
đầy
đủ
và
xứng
hợp
với
thiên
chức
làm
người
của
mình,
"mỗi
ngày
một
tham
gia
vào
đời
sống
xã
hội
nhất
là
về
kinh
tế
và
chính
trị
một
cách
tích
cực
hơn
hầu
có
thể
hưởng
dụng
di
sản
văn
hóa
thiêng
liêng
của
nhân
loại
một
cách
dễ
dàng
hơn"
hợp
với
chức
vị
của
người
con
Thiên
Chúa.
Quyền
này
đã
được
nhiều
văn
kiện
chính
thức
của
Liên
Hiệp
Quốc
nhìn
nhận,
xác
định
và
khai
triển.
Ðây
là
lần
đầu
tiên
người
ta
dựa
vào
đó
để
bàn
luận
về
các
quyền
hành
của
Giáo
Hội
trong
lãnh
vực
giáo
dục.
Căn
cứ
trên
nguyên
tắc,
người
ta
có
thể
tố
cáo
lập
luận
của
Tông
Huấn
Divini
Ilius
Magistri
là
đã
đặt
nền
tảng
các
hoạt
động
giáo
dục
của
Giáo
Hội
trên
thực
tại
thần
linh
thuộc
sứ
mệnh
mình.
Tuy
nhiên
một
khi
người
ta
chấp
nhận
ưu
quyền
tổ
chức
thiêng
liêng
của
thế
giới
là
lo
lắng
đến
lợi
ích
toàn
diện
cho
mọi
phần
tử,
đồng
thời
cũng
là
những
con
người
của
xã
hội
dân
sự,
họ
không
thể
chối
bỏ
quyền
tối
thượng
của
con
người.
Một
khi
được
hiểu
biết
và
chấp
nhận,
quyền
này
sẽ
đem
lại
những
hậu
quả
thiết
thực
như:
việc
đào
luyện
những
đức
tính
tự
nhiên
của
một
người
công
dân,
phát
triển
những
khả
năng
trí
thức
và
óc
phán
đoán,
khai
tâm
cho
biết
những
giá
trị
luân
lý,
biết
nhận
thức
và
yêu
mến
Thiên
Chúa,
tiến
tới
ơn
lãnh
nhận
đức
tin,
xây
dựng
xã
hội
trần
thế
và
mở
rộng
nước
trời.
Tóm
lại,
không
có
gì
thuộc
sứ
mệnh
con
người
trong
mọi
thời
đại
mà
lại
ở
ngoài
phạm
vi
thực
hành
của
quyền
này.
Sau
cùng,
kể
từ
Thông
Ðiệp
Mater
et
Magistra
và
Pacem
in
Terris
của
Ðức
Gioan
XXIII
cũng
như
Ecclesiam
Suam
của
Ðức
Phaolô
VI,
một
âm
điệu
mới
đã
nhân
tính
hóa
tiếng
nói
của
Giáo
Hội
cho
thích
hợp
với
xã
hội
dân
sự
mà
không
còn
ai
phủ
nhận
nguồn
gốc
thần
linh
của
nó.
2.
Người
ta
hài
lòng
khi
thấy
Giáo
Hội
được
bành
trướng
trên
những
hậu
quả
thuộc
lãnh
vực
giáo
dục
nhờ
vào
"tiến
bộ
kỳ
diệu
về
kỹ
thuật,
về
các
nghiên
cứu
khoa
học",
trên
"những
kinh
nghiệm
mới
và
sự
phát
triển
về
các
phương
pháp
giáo
dục
và
giáo
huấn"
và
khi
thấy
Giáo
Hội
đòi
hỏi
mọi
người
phải
được
hưởng
"một
nền
giáo
dục
xứng
hợp
với
nhu
cầu
của
tâm
linh
và
phái
tính,
với
truyền
thống
quốc
gia
hầu
tiến
đến
một
sự
hợp
nhất
đích
thực
và
một
nền
hòa
bình
trên
thế
giới".
Người
ta
sung
sướng
khi
thấy
có
một
số
điều
cấm
đoán
và
xác
định
tính
cách
bấp
bênh
của
nhị
nguyên
thuyết
từ
lâu
vẫn
chủ
trương
tách
biệt
thể
xác
với
linh
hồn,
cộng
đoàn
quốc
gia
với
cộng
đồng
quốc
tế.
Bởi
đó,
Giáo
Hội
không
cón
tự
coi
mình
như
là
thẩm
cấp
duy
nhất
và
là
con
đường
độc
nhất
trong
việc
tìm
cách
chu
toàn
sứ
mệnh
của
con
người
nữa,
vì
không
những
Giáo
Hội
chấp
nhận
những
chiều
hướng
tuy
khác
mình
nhưng
cùng
tiến
tới
một
mục
đích,
mà
còn
sung
sướng
được
trông
thấy
nhiều
công
cuộc
đem
lại
lợi
ích
thực
sự
cho
con
người.
Trước
kia
Giáo
Hội
và
thế
giới
dân
sự
vẫn
cách
biệt
nhau,
nhưng
vì
là
con
cái
của
cả
hai
xã
hội
đó,
ngày
nay
chúng
ta
sung
sướng
khi
thấy
họ
hòa
hợp
lại
với
nhau
để
cùng
gánh
vác
những
công
việc
nặng
nề
và
cùng
nỗ
lực
xây
dựng
một
lâu
đài
độc
nhất
là
sự
thành
công
của
con
người
nay
ở
đời
này
cũng
như
sửa
soạn
cho
cuộc
sống
vinh
hiển
muôn
đời.
3.
Sau
hết,
văn
kiện
đề
cập
tới
những
tổ
chức
thuộc
về
các
hoạt
động
giáo
dục
như
là
học
đường,
một
"môi
trường
phát
triển
các
khả
năng,
óc
phán
đoán
và
giúp
khám
phá
những
di
sản
văn
hóa
của
các
thế
hệ
trước,
đề
cao
các
giá
trị,
chuẩn
bị
cho
cuộc
sống
chức
nghiệp
và
biết
thông
cảm
lẫn
nhau".
Như
thế
học
đường
vượt
trên
những
chiều
hướng
vật
chất
và
bao
gồm
tất
cả
các
hệ
thống
có
ảnh
hưởng
trên
chủ
thể
thụ
huấn:
gia
đình
"học
đường
đầu
tiên
dạy
các
đức
tính
xã
hội"
và
cách
riêng
là
môi
trường
học
đường
với
mọi
"yếu
tố"
trực
tiếp
ảnh
hưởng
ít
nhiều
như:
thầy
dạy,
bạn
bè,
bản
tín
và
phẩm
chất
của
việc
giáo
dục,
các
phương
pháp
cũng
như
tất
cả
các
điều
kiện
khác
giúp
cho
việc
giáo
dục
thành
công:
"trình
độ
học
vấn,
sức
khỏe
học
sinh
và
qui
chế
học
đường".
Trong
quá
khứ,
vì
sự
va
chạm
giữa
hai
quyền
bính
tôn
giáo
và
thế
tục
đã
gây
nên
một
cuộc
tranh
chiếm
độc
quyền
học
đường.
Vì
thế
văn
kiện
nêu
ra
nguyên
tắc
tương
trợ
để
loại
bỏ
tệ
đoan
đó
và
chấp
nhận
người
công
dân
có
quyền
đòi
hỏi
ít
ra
trong
trường
hợp
chính
quyền
thiếu
sót,
được
tự
do
chọn
lựa
trường
học
cho
con
em
hợp
với
tín
ngưỡng
của
họ.
Những
vị
có
trách
nhiệm
giáo
dục
chính
thức
trước
hết
phải
kể
tới
các
bậc
phụ
huynh.
Nhưng
trong
thực
tế,
vì
việc
giáo
dục
đòi
hỏi
những
điều
kiện
vượt
quá
khả
năng
của
mỗi
cá
nhân,
nên
xã
hội
lại
phải
đảm
nhiệm
tổ
chức
"những
gì
cần
thiết
cho
lợi
ích
chung
của
con
người":
bảo
đảm
quyền
lợi
và
bổn
phận
của
các
phụ
huynh,
giúp
đỡ
họ,
thiết
lập
các
trường
sở
giáo
dục.
Trên
cương
vị
quốc
gia,
nhà
nước
cụ
thể
hóa
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
tự
nhiên
này
bằng
cách
phân
phối
cho
một
cơ
quan
tối
cao
để
tổ
chức
và
điều
hành
đời
sống
của
từng
cá
nhân
trong
các
nhóm
người.
Bản
Tuyên
Ngôn
còn
hàm
chứa
cả
một
ý
niệm
về
giáo
dục
và
huấn
luyện
những
hoạt
động
nhằm
thăng
tiến
con
người,
từ
việc
dạy
A B
C
cho
người
lớn
tuổi,
chăm
sóc
các
trẻ
bất
thường
trong
những
cơ
sở
chuyên
biệt,
mở
trường
dạy
văn
hóa
chuyên
nghiệp
và
kỹ
thuật
cho
tới
những
cơ
sở
vĩ
đại
quảng
bá
nền
văn
hóa
phổ
thông
hay
khoa
học
chuyên
môn;
những
phân
khoa
thần
học
cũng
có
nhiệm
vụ
phải
cố
gắng
giúp
con
người
thành
công
mỹ
mãn
trong
cả
hai
chiều
hướng
tư
nhiên
và
siêu
nhiên.
Ba
khía
cạnh
của
văn
kiện
chúng
ta
vừa
phân
tích
tóm
kết
đại
cương
một
cách
khá
trung
thực
ý
hướng
của
Thánh
Công
Ðồng
đề
cập
đến
một
trong
những
vấn
đề
trọng
yếu
của
thế
giới
theo
chiều
hướng
đầy
đủ,
phong
phú
và
cao
đẹp
nhất.
Như
vậy
cũng
đã
tạm
đủ
để
chúng
ta
lưu
tâm
tới
khía
cạnh
hào
hứng
nhất
của
vấn
đề
đã
hình
thành
tư
tưởng
của
Giáo
Hội
về
một
điều
kiện
thiết
yếu
để
cứu
rỗi
nhân
loại.
Kết
luận
Trước
khi
đọc
nguyên
bản,
chúng
tôi
ước
mong
mọi
người
đọc
nó
với
tất
cả
tinh
thần
mà
Ðức
Gioan
XXIII,
vị
khởi
xướng
Công
Ðồng,
đã
đề
ra
tức
là
chú
ý
đến
những
hiện
trạng
của
thế
giới
ngày
nay.
Trong
khi
chú
thích
một
vài
tư
tưởng,
chúng
tôi
đặc
biệt
khai
thác,
duy
trì
và
nhấn
mạnh
tới
sự
hòa
hợp
những
viễn
tượng
hiện
đang
là
mối
bận
tâm
của
Giáo
Hội
và
thế
giới
hôm
nay
với
niềm
hy
vọng
sẽ
đem
lại
cho
nhân
loại
những
thành
quả
thật
mỹ
mãn.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II