VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
10-
TUYÊN
NGÔN
VỀ
LIÊN
LẠC
CỦA
GIÁO
HỘI
VỚI
CÁC
TÔN
GIÁO
NGOÀI
KITÔ
GIÁO
(NOSTRA
AETATE)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
văn
Tuyên
Ngôn
Lời
Giới
Thiệu
1.
Soạn
thảo
Tuyên
Ngôn
Danh
từ
"các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo"
trước
hết
bao
hàm
Do
Thái
giáo
và
Hồi
giáo.
Hai
tôn
giáo
này
dù
không
chấp
nhận
thiên
tính
của
Chúa
Kitô
và
mầu
nhiệm
Ba
Ngôi,
nhưng
vẫn
tôn
thờ
Thiên
Chúa
một
cách
chân
chính.
Danh
từ
trên
còn
ám
chỉ
các
tôn
giáo
ở Á
Châu
và
Phi
Châu
như
Phật
giáo
và
Ấn
giáo...
cũng
như
tất
cả
các
hình
thức
tôn
giáo
khác.
Lúc
đầu
Công
Ðồng
chỉ
muốn
thêm
một
chương
vào
Sắc
Lệnh
về
Hiệp
Nhất
để
nói
lên
lòng
ưu
ái
của
Giáo
Hội
đối
với
dân
Do
Thái,
nhất
là
vì
những
cuộc
bách
hại
bất
công
trước
kia
mà
họ
là
nạn
nhân.
Trong
diễn
văn
khai
mạc
tháng
9
năm
1963,
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
đã
minh
nhiên
biểu
lộ
mối
thiện
cảm
của
Giáo
Hội
đối
với
dân
Do
Thái
và
được
cụ
thể
hóa
bằng
chuyến
công
du
của
ngài
qua
Thánh
Ðịa
vào
tháng
Giêng
năm
1964.
Sau
đó,
mối
thiện
cảm
trên
lan
rộng
đến
Hồi
giáo
và
tất
cả
những
hình
thức
tôn
giáo
khác:
ngày
17-3-1964
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
thiết
lập
một
văn
phòng
đặc
trách
các
vấn
đề
có
liên
quan
đến
những
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo.
Rồi
trong
Thông
điệp
Ecclesiam
Suam
(6-8-1964)
Ðức
Thánh
Cha
còn
biểu
lộ
lòng
ao
ước
của
Giáo
Hội
muốn
đối
thoại
với
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo,
một
cuộc
đối
thoại
không
che
đậy
chân
lý.
Trong
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
công
bố
ngày
21-11-1964,
số
16,
Công
Ðồng
đã
manh
nha
một
giáo
thuyết
sẽ
được
diễn
tả
cách
tỉ
mỉ
trong
Tuyên
Ngôn
về
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo
và
được
các
Nghị
Phụ
phê
bình
ngày
15-10-1965
và
công
bố
ngày
28-10-1965
một
ít
lâu
trước
khi
Công
Ðồng
bế
mạc
ngày
8-12-1965.
2.
Tầm
quan
trọng
của
Tuyên
Ngôn
Bản
Tuyên
Ngôn
này
là
tài
liệu
ngắn
nhất
trong
các
văn
kiện
Công
Ðồng
Vaticanô
II
công
bố,
nhưng
không
phải
vì
thế
bản
Tuyên
Ngôn
kém
quan
trọng.
Ngày
18-11-1964,
Ðức
Hồng
Y
Bea
đã
nhấn
mạnh
đến
tầm
quan
trọng
đó
như
sau:
"Ðây
là
lần
đầu
tiên
trong
lịch
sử
Giáo
Hội,
một
Công
Ðồng
đã
long
trọng
trình
bày
các
nguyên
tắc
liên
hệ
đến
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo...
Ðây
là
vấn
đề
của
hơn
một
tỷ
người
chưa
biết
hay
không
nhìn
nhận
Chúa
Kitô
và
công
trình
cứu
rỗi
của
Người".
Trong
thế
giới
văn
minh
ngày
nay
có
hai
thái
cực
rất
dễ
nhận
thấy
ngay
cả
nơi
các
Kitô
hữu:
có
người
quan
niệm
rằng
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo
là
đối
lập
với
Kitô
giáo
nên
phải
bài
bác;
trái
lại
có
kẻ
chủ
trương
khuynh
hướng
hỗn
hợp
tôn
giáo
quan
niệm
rằng
mọi
tôn
giáo
đều
là
những
con
đường
cứu
rỗi.
Qua
Tuyên
Ngôn
này,
Giáo
Hội
minh
định
rằng
tất
cả
các
dân
tộc
làm
thành
một
cộng
đoàn
duy
nhất
(số
1).
Giáo
Hội
công
nhận
những
giá
trị
luân
lý
và
tôn
giáo
của
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo.
Giáo
Hội
chắc
chắn
rằng
tất
cả
những
ai
không
vì
lỗi
riêng
mình
đã
không
tiếp
nhận
Phúc
Âm
Chúa
Kitô
và
đang
tìm
kiếm
Chúa
với
một
lòng
chân
thành
đều
liên
kết
với
dân
duy
nhất
của
Chúa
bằng
nhiều
cách
(GH
16).
Quí
trọng
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo
và
ao
ước
thiết
lập
những
tiếp
xúc
huynh
đệ
như
thế,
không
làm
suy
giảm
sứ
mạng
chính
yếu
của
Giáo
Hội
là
loan
báo
cho
mọi
người
được
biết
Chúa
Kitô
là
nguồn
cứu
rỗi
chân
thật.
"Giáo
Hội
rao
giảng
và
có
bổn
phận
phải
kiên
trì
rao
giảng
Chúa
Kitô,
Ðấng
là
"đường,
sự
thật
và
sự
sống"
(Gio
14,6),
nơi
Người
con
người
tìm
thấy
đời
sống
tôn
giáo
sung
mãn
và
nhờ
Người
Thiên
Chúa
giao
hòa
mọi
sự
với
mình"
(số
2).
3.
Nội
dung
của
Tuyên
Ngôn
Bản
Tuyên
Ngôn
này
không
phải
là
một
bài
khảo
luận,
cũng
không
nhằm
diễn
tả
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo,
càng
không
phải
là
một
so
sánh
Kitô
giáo
với
các
tôn
giáo.
Tuyên
Ngôn
không
phân
biệt
giữa
các
hình
thức
và
giáo
phái
của
mỗi
tôn
giáo,
như
Phật
giáo
hay
Ấn
giáo.
Có
rất
nhiều
hình
thức
tôn
giáo
khác
được
quy
tụ
trong
danh
từ
"các
tôn
giáo
khác".
Tuy
dù
trong
thời
đại
chúng
ta
có
những
khuynh
hướng
vô
thần,
nhưng
giữa
lòng
các
tôn
giáo
đó
Công
Ðồng
đặt
tất
cả
quan
tâm
đến
một
số
đông
người
chân
thành
tìm
kiếm
chân
lý
trong
tôn
giáo
của
họ
theo
ánh
sáng
họ
nhận
lãnh.
Tuyên
Ngôn
chia
ra
5
tiết
mục:
phần
mở
đầu
và
đoạn
kết
nêu
lên
những
nguyên
tắc
tổng
quát;
tiết
mục
2,
3,
và
4
tuần
tự
đề
cập
đến
các
tôn
giáo
khác.
(1)
Phần
Mở
Ðầu
Giáo
Hội
muốn
cổ
võ
tinh
thần
hiệp
nhất
và
tình
bác
ái
giữa
loài
người.
Giáo
Hội
muốn
xét
đến
không
phải
những
gì
chia
rẽ
nhưng
những
gì
hiệp
nhất.
Mọi
người
dều
có
nguồn
gốc
nơi
Thiên
Chúa.
Họ
tự
nêu
lên
những
câu
hỏi
về
nguồn
gốc,
về
những
hoàn
cảnh
sống
và
mục
đích
tối
hậu
của
họ.
Tiết
mục
này
có
thể
so
sánh
với
số
3
trong
Hiến
Chế
mục
vụ,
ở
đó
Công
Ðồng
cũng
diễn
tả
nỗi
khắc
khoải
của
mọi
người
và
niềm
ao
ước
của
Giáo
Hội
muốn
cổ
võ
tinh
thần
nhất,
tiếp
tục
công
trình
của
Chúa
Kitô
Ðấng
đã
đến
để
cứu
rỗi
chứ
không
phải
để
kết
án,
để
phục
vụ
chứ
không
phải
để
được
phục
vụ.
(2)
Những
Tôn
Giáo
Ngoài
Kitô
Giáo
Hai
Tôn
Giáo
lớn,
Phật
giáo
và
Ấn
giáo,
liên
quan
mật
thiết
với
đà
tiến
triển
văn
hóa,
bao
hàm
nhiều
yếu
tố
như
những
động
lực
thúc
đẩy
những
người
theo
hai
tôn
giáo
đó
và
các
tôn
giáo
khác
để
họ
tìm
cách
thỏa
mãn
một
tâm
tình
sâu
xa
về
tôn
giáo
mà
tất
cả
đều
cảm
thấy;
đôi
khi
nhờ
vậy,
họ
còn
nhận
ra
có
Ðấng
Chí
Tôn.
Giáo
Hội
không
phủ
nhận
những
gì
chân
thật
và
thánh
thiện
nơi
các
tôn
giáo
đó,
nơi
đó
đôi
khi
cũng
bao
hàm
một
tia
sáng
chân
lý.
Tuy
nhiên,
Giáo
Hội
muốn
loan
báo
Chúa
Kitô
(xem
ở
trên)
và
khuyến
khích
giáo
dân
thực
hiện
một
cuộc
đối
thoại
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo,
đồng
thời
cộng
tác
với
những
người
theo
tôn
giáo
khác,
nhưng
phải
biểu
dương
đức
tin
chân
chính
bằng
gương
sáng
đời
sống
Kitô
hữu
của
mình.
(3)
Hồi
Giáo
Ðây
là
lần
đầu
tiên
trong
Giáo
Hội,
qua
một
vài
dòng
vắn
tắt,
Công
Ðồng
ghi
lại
tất
cả
những
gì
có
tính
cách
tích
cực
trong
Hồi
giáo:
sự
thờ
phượng
Thiên
Chúa
Tạo
Hóa,
thái
độ
tuân
phục
ý
định
Thiên
Chúa
của
các
tín
hữu,
lời
cầu
nguyện
và
việc
sám
hối
của
họ,
lòng
tin
tưởng
vào
Abraham.
Dù
không
chấp
nhận
thiên
tính
của
Chúa
Giêsu,
người
Hồi
giáo
vẫn
tôn
kính
Người
như
một
vị
Ngôn
Sứ
và
tôn
sùng
mẹ
đồng
trinh
của
Người.
"Công
Ðồng
còn
khích
lệ
người
Công
giáo
cố
gắng
để
mọi
người
quên
đi
mối
hận
thù
xưa
kia
giữa
người
Công
giáo
và
Hồi
giáo,
và
trong
niềm
quý
trọng
lẫn
nhau,
hãy
ý
thức
nhiệm
vụ
chung
nhằm
lợi
ích
cho
mọi
người"
(Hồng
Y
Koenig).
(4)
Do
Thái
Giáo
Vấn
đề
Do
Thái
giáo
được
đề
cập
dồi
dào
hơn,
vì
đây
là
nguồn
gốc
của
Tuyên
Ngôn
về
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo.
Vấn
đề
được
bàn
cãi
lâu
dài
trước
khi
đúc
kết
thành
bản
văn
hiện
nay.
Khi
suy
niệm
về
mầu
nhiệm
của
mình,
Giáo
Hội
nhìn
nhận
có
một
liên
kết
chặt
chẽ
với
dân
Do
Thái
trong
Cựu
Ước,
với
Môisen
và
các
Ngôn
Sứ.
Dân
Do
Thái
là
hình
bóng
Dân
Chúa,
đã
sinh
ra
chính
Chúa
Kitô,
các
Tông
Ðồ
và
những
tín
hữu
tiên
khởi.
Giáo
Hội
tuyên
bố
rằng
không
một
lý
do
nào
cho
phép
xem
người
Do
Thái
hiện
thời
như
những
người
có
trách
nhiệm
giết
Chúa
Kitô,
cũng
như
không
phải
tất
cả
người
Do
Thái
thời
đó
đều
tham
dự
vào
vụ
án
của
Người,
Ðấng
đã
cầu
nguyện
cho
những
ai
vì
không
biết
mới
lên
án
Người
như
thế.
Giáo
Hội
không
đứng
trên
phương
diện
chính
trị,
nhưng
trên
phương
diện
tôn
giáo
lên
lên
án
tất
cả
mọi
hình
thức
bách
hại,
đàn
áp
dân
Do
Thái
trong
thời
đại
hiện
nay.
Sau
cùng,
khi
nhắc
lại
rằng
Chúa
Kitô
đã
tự
ý
chấp
nhận
khổ
nạn
vì
yêu
thương:
cuộc
khổ
nạn
của
Người
là
nguồn
suối
phát
sinh
mọi
ân
sủng
cứu
độ
cho
tất
cả
mọi
người,
bản
văn
kết
thúc
với
niềm
mong
ước
có
một
cuộc
đối
thoại
thần
học
giữa
người
Công
giáo
và
Do
Thái.
(5)
Tình
Huynh
Ðệ
Phổ
Quát
Bản
Tuyên
Ngôn
kết
thúc
bằng
lời
kêu
gọi
bác
ái
huynh
đệ
đối
với
mọi
ngươì,
vì
tất
cả
được
tạo
dựng
giống
hình
ảnh
thiên
Chúa
và
là
con
cùng
một
Cha.
Do
đó,
Giáo
Hội
bài
bác
tất
cả
mọi
sự
kỳ
thị
và
tranh
chấp
giữa
con
người
do
sự
khác
biệt
về
nòi
giống,
màu
da,
giai
cấp
hay
tôn
giáo,
vì
như
thế
là
đi
ngược
với
tinh
thần
Chúa
Kitô.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II