VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
11-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
MẠC
KHẢI
CỦA
THIÊN
CHÚA
(DEI
VERBUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
Lời
Giới
Thiệu
I.
Lịch
Sử
Bản
Văn:
Hiến
chế
Dei
Verbum
là
một
trong
những
văn
kiện
quan
trọng
nhất
của
Công
Ðồng
Vaticano
II
về
phương
diện
giáo
thuyết
cũng
như
về
thái
độ
khác
biệt
giữa
các
nghị
phụ;
Thật
vậy,
chính
trong
khi
bàn
cãi
về
Lược
đồ
này,
các
nghị
phụ
đã
nhận
thức
về
sự
phân
chia
khuynh
hướng
thần
học
giữa
các
ngài.
Lược
đồ
về
Mac
Khải
nằm
ở
ngoài
quyển
sách
đã
được
Ủy
Ban
Trung
ương
xuất
bản
năm
1962.
Và
như
vậy
người
ta
tưởng
sẽ
được
bàn
cãi
trước
tiên.
Nhưng
Ðức
Gioan
XXIII
nhận
thấy
đã
có
những
bất
đồng
ý
kiến
trong
bản
văn
"về
Mạc
Khải",
nên
ngài
không
muốn
khởi
đầu
Công
đồng
với
bản
văn
gai
góc
này,
và
đã
quyết
định
bàn
cãi
về
Phụng
vụ
trước
tiên,
vì
các
nghị
phụ
dễ
đồng
ý
về
vấn
đề
này
hơn.
Bản
văn
trình
bày
trong
sách
trên
thật
ra
là
bản
văn
thứ
năm
mà
Ủy
ban
và
các
nghị
phụ
đã
soạn
thảo.
Ngày
12.7.1962,
Ðức
Gioan
XXIII
truyền
lệnh
gửi
cho
các
nghị
phụ
bàn
cãi
loạt
Lược
đồ
lần
thứ
nhất.
Trong
số
đó,
có
Lược
đồ
"Hiến
chế
Tín
lý
về
các
nguồn
Mạc
khải".
Lược
đồ
này
được
bàn
cãi
từ
ngày
14
đến
21.11.1962.
Chính
trong
các
cuộc
bàn
cãi
này
mà
Công
đồng
Vaticano
II
đã
tự
chia
ra
phe
"đa
số"
và
"thiểu
số"
theo
luồng
tư
tưởng
và
theo
lối
diễn
tả
thần
học
của
các
nghị
phụ.
Từ
đó
các
khuynh
hướng
khác
biệt
này
chi
phối
tất
cả
các
công
việc
của
Công
đồng.
Trong
diễn
văn
khai
mạc
ngày
11.10.1962
(Khóa
I
từ
11.10
đến
08.12.1962),
Ðức
Gioan
XXIII
đã
nói:
"Bản
chất
của
giáo
thuyết
cổ
truyền
chứa
trong
kho
tàng
đức
tin
là
một
chuyện,
còn
việc
định
thức
bản
chất
lại
là
chuyện
khác,
vì
việc
định
thức
căn
cứ
trên
những
hình
thức
và
sự
tương
xứng
với
những
nhu
cầu
giáo
huấn,
nhất
là
về
mục
vụ".
Sự
phân
biệt
giữa
"bản
chất"
và
"định
thức"
sẽ
giữ
một
vai
trò
quan
trọng
trong
cuộc
bàn
cãi
lược
đồ
này.
Lược
đồ
đã
được
các
Hồng
y
Ottaviani,
Ruffini,
Siri...
bênh
vực,
và
bị
các
Hồng
y
Liénart,
Frings...
kết
án,
còn
các
Hồng
y
Bea,
Léger,
Tisserant...
thì
chỉ
trích.
Người
ta
cho
rằng
cách
nói
quá
kinh
viện,
lối
hành
văn
phản
mục
vụ,
phản
Kinh
Thánh
và
phản
hiệp
nhất.
Chủ
tịch
đoàn
Công
đồng
quyết
định
bỏ
thăm
bản
văn
(ngày
20.11.1962),
và
bản
văn
bị
loại
bỏ
với
1,368
phiếu
chống,
822
phiếu
thuận,
và
18
phiếu
bất
hợp
lệ.
Buổi
họp
trải
qua
vài
giờ
lộn
xộn
vì
chưa
đủ
đa
số
2/3
để
loại
bỏ
một
lược
đồ
(cần
phải
1,473
phiếu
mới
đủ
2/3).
Nhưng
có
nên
chấp
nhận
một
lược
đồ
bị
một
đa
số
như
trên
loại
bỏ
không?
Khi
ấy,
Ðức
Giáo
Hoàng
Gioan
XXIII
đích
thân
can
thiệp;
ngài
quyết
định
trao
trả
lược
đồ
cho
một
Ủy
ban
Thần
học
và
của
Văn
phòng
Hợp
nhất
Kitô
giáo.
Ủy
ban
này
khởi
công
bằng
việc
đồng
ý
về
nhiều
điểm
quan
trọng,
như
bỏ
tựa
đề
"về
hai
nguồn..."
(vì
nó
sẽ
gây
ra
nhiều
hiểu
lầm),
đặt
lại
tựa
đề
cho
chương
I:
"Về
Lời
Chúa
được
Mạc
khải..."
(như
thế,
nó
tổng
quát
và
dễ
dàng
chấp
nhận
hơn).
Tuy
nhiên
vẫn
còn
những
bất
đồng,
nhất
là
về
tương
quan
giữa
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền.
Lược
đồ
được
hoàn
thành
vào
tháng
3.1963
và
được
gửi
cho
các
nghị
phụ
vào
tháng
5.1963.
Bản
văn
sẽ
không
được
bàn
cãi
trong
kỳ
họp
thứ
hai,
nhưng
vẫn
không
thiếu
những
phê
bình
được
gửi
tới.
Thật
vậy,
các
vị
soạn
thảo
muốn
"cố
ý
tránh
vấn
đề
Hai
nguồn
Mạc
khải
mà
không
xác
nhận
hay
chối
bỏ
rằng
Thánh
Truyền
chứa
những
gì
mà
Thánh
Kinh
không
có"
(Relatio...,
tr.5).
Ðiều
đó
làm
cho
bản
văn
trở
nên
nhạt
nhẽo,
thiếu
màu
sắc
và
hàm
hồ...
Mạc
khải
được
hiểu
như
là
"nội
dung"
của
Mạc
khải
hơn
là
"hành
động"
Chúa
Mạc
khải.
Thánh
Truyền
duy
nhất
bị
lẫn
lộn
với
các
truyền
thống,
điều
này
gây
nhiều
hiểu
lầm...
Ðến
ngày
31.1.1964,
các
nghị
phụ
hết
hạn
gửi
các
nhận
xét.
Như
thế,
người
ta
có
thể
lợi
dụng
được
các
ý
kiến
trong
các
cuộc
bàn
cãi
đang
diễn
ra
"về
Lược
đồ
Giáo
Hội",
vì
Mạc
khải
và
Giáo
Hội
không
thể
tách
rời
nhau.
Những
lời
than
phiền
của
các
nghị
phụ
hầu
như
chỉ
quy
về
hai
điểm:
các
bản
văn
chưa
đánh
giá
đầy
đủ
tầm
quan
trọng
của
Mạc
khải
và
của
Thánh
Truyền,
cũng
như
chưa
được
cân
nhắc
đầy
đủ.
Ngày
07.3.1964,
người
ta
thành
lập
một
tiểu
ban
phụ
trách
tu
chỉnh
bản
văn
dưới
sự
chủ
tọa
của
Ðức
Giám
Mục
Charue
với
sự
cộng
tác
của
nhiều
chuyên
viên.
Ủy
ban
này
chia
làm
2
nhóm:
Nhóm
thứ
nhất
phụ
trách
chương
I
và
II
(chủ
tịch:
Ðức
Giám
Mục
Florit
và
các
chuyên
viên
Congar,
Rahner,
Moeller,
Ramirez...),
Nhón
thứ
hai
phụ
trách
chương
III
đến
chương
VI
(chủ
tịch:
Ðức
Giám
Mục
Semmonelroth...).
Từ
20
đến
24.4.1964,
các
ngài
bổ
túc
bản
văn
mới,
và
đưa
ra
bản
tối
hậu.
Sau
đó,
bản
văn
được
trình
lên
Văn
phòng
Hợp
nhất
để
xem
có
phải
sửa
đổi
gì
không.
Ngày
30.6.1964,
Văn
phòng
trả
lời
chấp
thuận;
Ðức
Hồng
Y
Bea
xét
rằng
không
cần
phải
hợp
hai
cơ
quan
để
tu
chỉnh.
Sau
đó,
Ủy
ban
Giáo
thuyết
cứu
xét
bản
văn
(từ
ngày
3
đến
5.6.64).
Chương
II
tạm
được
chấp
nhận
(17
phiếu
thuận,
7
chống),
vì
7
nghị
phụ
đòi
phải
nói:
Thánh
Truyền
khách
quan
rộng
hơn
Thánh
Kinh
(x.
Relatio...,
tr.6).
Cuộc
bàn
cãi
bản
văn
bắt
đầu
từ
ngày
30.9.1964
tại
đền
Thánh
Phêrô.
Có
hai
bản
phúc
trình:
một
của
nhóm
đa
số
trong
Ủy
ban
(Ðức
Giám
Mục
Florit
đọc),
và
một
của
nhóm
thiểu
số
(Ðức
Giám
Mục
Franic
trình
bày).
Vấn
nạn
quan
trọng
nhất
do
nhóm
thiểu
số
đưa
ra
là
ý
tưởng
về
"Thánh
Truyền
cấu
thành"
(Traditio
constitutive).
Ðó
là
giảng
thuyết
và
đức
tin
của
toàn
thể
Giáo
Hội
tông
đồ,
dưới
sự
tác
động
của
Thánh
Thần
Mạc
khải,
chứa
đựng
những
chân
lý
thật
ra
không
có
trong
Thánh
Kinh.
Ðó
là
trường
hợp
các
tín
điều
về
Ðức
Mẹ
(Ðức
Giám
Mục
Beras).
Ngoài
ra,
nếu
hạ
giá
Thánh
Truyền,
như
Lược
đồ
đã
làm,
người
ta
sẽ
rơi
vào
một
thứ
Tân
Thời
thuyết.
Tuy
thế,
đa
số
chấp
nhận
và
khen
ngợi
ý
tưởng
của
bản
văn.
Dầu
vậy,
những
phê
bình
của
nhóm
thiểu
số
cũng
rất
hữu
ích
vì
nó
xác
định
rõ
ràng
nhiều
ý
niệm.
Theo
Ủy
ban,
kết
quả
cuộc
can
thiệp
của
các
nghị
phụ
như
sau:
1)
Ðiểm
tích
cực:
a.
Ngôn
ngữ
rõ
rang,
cẩn
thận
và
có
tính
cách
trình
bày.
b.
Cơ
cấu
bản
văn
được
sắp
đặt
kỹ
lưỡng
và
cân
đối.
c.
Giáo
thuyết
chắc
chắn
phát
xuất
từ
Cổ
truyền
và
Thánh
Kinh.
d.
Quan
niệm
Mạc
khải
quy
về
Chúa
Kitô
và
con
người
cũng
như
cách
thức
trình
bày
tương
quan
giữa
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền.
2)
Ðiểm
tiêu
cực:
a.
Cách
hành
văn
phức
tạp
và
đôi
khi
tối
nghĩa.
b.
Im
lặng
trước
những
sai
lạc
và
lạm
dụng
hiện
có.
c.
Trình
bày
khiếm
khuyết
về
Cựu
Ước.
d.
Thiếu
chiều
hướng
Giáo
Hội
trong
Mạc
khải.
e.
Phải
trình
bày
vai
trò
của
Chúa
Thánh
Thần
trong
hoạt
động
của
Huấn
quyền
Giáo
Hội.
Các
tiểu
ban
bắt
tay
làm
việc
để
tổng
hợp
đề
nghị
của
các
nghị
phụ.
Nhờ
đó
một
bản
văn
thứ
tư
được
thành
hình
và
đã
được
gửi
tới
cho
các
nghị
phụ
trong
phiên
họp
khoáng
đại
cuối
cùng
của
kỳ
họp
thứ
ba
(20.11.1964).
Có
thể
tóm
tắt
các
thay
đổi
chính
như
sau:
a.
Nhấn
mạnh
đến
truyền
thống
"phát
nguyên
từ
các
tông
đồ"
thay
vì
Thánh
Truyền
"sống"
(có
thể
phát
xuất
từ
đời
sống
Giáo
Hội).
b.
Vấn
đề
phát
triển
tín
lý,
bản
văn
trước
nói
rằng
kinh
nghiệm
của
các
tín
hữu
là
một
yếu
tố
phát
triển,
nhưng
bản
văn
mới
nhắc
thêm
đến
lý
trí
(số
8b)
để
tránh
chủ
quan
thuyết
hiện
tượng
luận.
c.
Nhắc
đến
việc
nhờ
Thánh
Thần
mà
Giáo
Hội
biết
được
bản
chính
lục
Thánh
Kinh
(số
8c).
d.
Phân
biệt
rõ
ràng
hơn
nội
dung
của
Thánh
Truyền
thời
các
tông
đồ
(số
9).
e.
Xác
định
vai
trò
của
Huấn
quyền
bằng
cách
bãi
bỏ
danh
từ
uy
quyền
"tối
thượng"
và
không
nhắc
đến
ơn
bất
khả
ngộ,
hơn
nữa
còn
nói
rằng
quyền
giáo
huấn
phải
"thành
kính
lắng
nghe"
Lời
Chúa
(số
10).
Trong
kỳ
họp
thứ
ba,
các
nghị
phụ
không
bỏ
phiếu
bản
văn
này,
nên
các
ngài
có
thể
viết
các
nhận
xét
gửi
về
Ủy
ban.
Sau
cùng,
ngày
21.9.1965,
các
nghị
phụ
đã
bỏ
phiếu
Lược
đồ
này.
Các
chương
đều
được
chấp
thuận
với
vài
sửa
đổi.
Ủy
ban
phụ
trách
kết
nạp
các
tu
chỉnh,
cố
gắng
dung
hòa
ý
kiến
mọi
người
bằng
cách
sửa
đổi
từng
tiểu
tiết
của
bản
văn.
Chính
Ðức
Phaolô
VI
cũng
đã
đề
nghị
một
vài
thay
đổi.
Sau
khi
Ủy
ban
Giáo
thuyết
xem
xét,
bản
văn
được
phát
cho
các
nghị
phụ
ngày
25.10.1965,
và
bỏ
phiếu
ngày
29.10.1965.
Ở
vòng
bỏ
phiếu
chót,
trong
số
2,115
nghị
phụ
bỏ
phiếu,
có
2,081
phiếu
thuận,
27
phiếu
chống,
và
7
phiếu
bất
hợp
lệ.
Ngày
18.11.1965
là
ngày
công
bố
với
2,344
phiếu
thuận,
và
06
phiếu
chống.
II.
Cơ
Cấu
Hiến
Chế:
Những
nét
chính
của
bản
sơ
thảo
đầu
tiên
được
giữ
lại
đến
cùng:
một
phần
nói
về
Mạc
khải
tổng
quát,
một
phần
dành
cho
Thánh
Kinh.
Lược
đồ
thứ
nhất
được
chia
như
sau:
Chương
I:
Hai
nguồn
Mạc
khải;
Chương
II:
Linh
hứng,
bất
ngộ
và
cấu
tạo
văn
chương
của
Thánh
Kinh;
Chương
III:
Cựu
Ước;
Chương
IV:
Tân
Ước;
Chương
V:
Thánh
Kinh
trong
Giáo
Hội.
Như
trong
Lược
đồ
thứ
nhất,
Lược
đồ
thứ
hai
giữ
lại
Chương
I
như
một
lời
mở
đầu
giới
thiệu
Thánh
Kinh,
các
Chương
khác
cũng
chứa
đựng
chất
liệu
tương
tự
như
Lược
đồ
thứ
nhất.
Chính
trong
lần
soạn
thảo
thứ
ba
mà
giáo
thuyết
về
Mạc
khải
chiếm
vai
trò
ưu
thắng.
Như
vậy,
phần
thứ
nhất
của
bản
văn
trở
thành
quan
trọng
nhất,
vì
chứa
đựng
giáo
thuyết
"chi
phối"
mọi
việc
khai
triển
khác.
Nội
dung
của
Lược
đồ
thứ
ba
là:
Chương
I:
Về
chính
Mạc
Khải;
Chương
II:
Sự
lưu
truyền
Mạc
khải;
Chương
III:
Linh
hứng
của
Thiên
Chúa
và
việc
chú
giải
Thánh
Kinh;
Chương
IV:
Cựu
Ước;
Chương
V:
Tân
Ước;
Chương
VI:
Thánh
Kinh
trong
đời
sống
Giáo
Hội.
Như
thế,
chúng
ta
có
một
bản
văn
chia
làm
hai
phần
lớn,
được
soạn
thảo
dưới
sự
hướng
dẫn
của
hai
tiểu
ban.
Phần
nhất
bàn
về
Mạc
khải
tổng
quát,
gồm
chương
I
bàn
về
diễn
tiến
Mạc
khải
mà
Thiên
Chúa
đã
tự
biểu
lộ
cho
con
người
và
phó
mình
cho
họ,
đến
mức
độ
trọn
vẹn
trong
Chúa
Kitô;
Chương
II
trình
bày
tính
cách
liên
tục
trong
việc
Thiên
Chúa
tự
biểu
lộ
và
phó
mình
cách
trọn
vẹn
trong
Giáo
Hội
bằng
tất
cả
những
gì
tạo
thành
đời
sống
Giáo
Hội,
qua
tiến
trình
lịch
sử.
Phần
hai
bàn
về
Thánh
Kinh,
một
hình
thức
đặc
biệt
của
sự
biểu
lộ
và
phó
mình
của
Thiên
Chúa:
chương
III
trình
bày
những
khía
cạnh
tổng
quát
của
Thánh
Kinh:
đó
là
một
tác
phẩm
của
Thiên
Chúa,
Ðấng
hạ
mình
đến
với
chúng
ta,
nhưng
cũng
là
một
tác
phẩm
của
con
người;
chương
IV
bàn
về
giá
trị
của
Cựu
Ước;
chương
V
bàn
về
Tân
Ước;
chương
VI
trình
bày
ý
nghĩa
của
Thánh
Kinh
đối
với
Giáo
Hội
mọi
thời
đại
và
mọi
hoàn
cảnh.
III.
Tầm
Quan
Trọng:
Hiến
chế
Mạc
khải
đã
không
giải
quyết
mọi
vấn
đề,
đã
không
có
thái
độ
rõ
ràng
về
nhiều
vấn
đề,
và
không
làm
thoả
mãn
mọi
người.
Hiến
chế
không
thể
làm
điều
đó.
Dầu
vậy,
Hiến
chế
cũng
nói
lên
một
bước
tiến
rất
tích
cực
trong
công
cuộc
tìm
hiểu
Mạc
khải,
cũng
sẽ
có
một
tầm
ảnh
hưởng
lớn
lao
trong
nền
thần
học
Công
giáo
và
cuộc
đối
thoại
hợp
nhất.
Công
đồng
tiến
hành
công
việc
trong
nỗ
lực
hòa
giải.
Hiến
chế
Mạc
khải
đã
phải
tổng
hợp
nhãn
quan
của
nhiều
trường
phái
không
luôn
luôn
phù
hợp
nhau,
phải
tóm
lược
các
ý
tưởng
(dù
làm
như
vậy
có
vẻ
đơn
giản
hóa
vấn
đề).
Bản
văn
phải
được
nghiên
cứu
cẩn
thận
chứ
không
chỉ
đọc
thoáng
qua.
Tuy
nhiên,
không
được
vì
thế
mà
lãng
quên
tâm
điểm
của
toàn
thể
giáo
thuyết,
tâm
điểm
đó
chính
là
tác
động
cứu
độ
của
Thiên
Chúa
đang
diễn
tiến
trên
thế
gian
và
trong
lịch
sử
nhờ
Lời
của
Ngài
là
Chúa
Kitô.
Cũng
nên
chú
ý
là
bản
văn
sau
cùng
đã
được
đại
đa
số
nghị
phụ
trong
Công
đồng
chấp
thuận,
như
thế
bản
văn
nói
lên
đức
tin
của
Giáo
Hội
về
vấn
đề
này.
Dù
không
đồng
tâm
về
những
chi
tiết,
nhưng
phần
giáo
thuyết
căn
bản
thì
không
ai
có
thể
bàn
cãi
được
nữa.
Người
ta
có
thể
lấy
làm
tiếc
là
Thánh
Truyền
và
Huấn
quyền
lại
đứng
bên
cạnh
Thánh
Kinh.
Nhưng
như
thế
là
vì
đã
có
thành
kiến
luôn
đối
chiếu
ba
thực
thể
trên.
Trong
khi
đó,
Công
đồng
đã
quan
niệm
và
thành
công
trong
việc
dung
hòa:
Cả
ba
đều
mang
Lời
Chúa,
tuy
mỗi
thực
thể
theo
một
cách
thức
riêng
và
với
một
tước
vị
riêng.
Bản
văn
này
phải
thúc
đẩy
các
nhà
thông
thái
nghiên
cứu
Thánh
Kinh
và
giúp
tín
hữu
say
mê
Thánh
Kinh.
Theo
đường
hướng
cởi
mở
của
Thông
điệp
Divino
afflante
Spiritu,
Hiến
chế
về
Mạc
khải
mở
ra
những
chân
trời
mới
cho
công
việc
chú
giải.
Người
ta
được
tự
do
nghiên
cứu
để
khai
thác
các
"văn
loại"
và
các
khám
phá
mà
lịch
sử
và
khoa
học
đem
lại,
mà
không
sợ
những
cấm
đoán
đè
nặng
từ
bên
ngoài
như
trường
hợp
các
đồng
nghiệp
của
họ
thời
trước.
Nhưng
cùng
một
lúc
Hiến
chế
cũng
xác
định
những
điều
ta
không
thể
chối
bỏ
mà
không
triệt
tiêu
Mạc
khải.
Do
đó,
không
được
nghi
ngờ
lịch
sử
tính
của
Phúc
Âm
và
nguồn
gốc
tông
đồ
của
các
sách
đó.
Công
đồng
đã
không
kết
án
phương
pháp
văn
hình
sử
(formgeschichte)
nhưng
đã
nêu
ra
những
giới
hạn
của
phương
pháp
ấy;
không
phải
tất
cả
những
ý
tưởng
"giải
huyền
thoại"
của
R.
Bultmann
là
sai,
nhưng
phải
cẩn
thận
để
khỏi
rơi
vào
thuyết
duy
tín
mà
phương
pháp
này
đưa
đến.
Còn
về
tầm
quan
trọng
thực
tế
của
những
lời
khuyên
mục
vụ
ở
chương
VI
thì
chỉ
có
tương
lai
mới
có
thể
trả
lời
chúng
ta.
Việc
xác
định
chân
lý
Thánh
Kinh
ở
số
11
là
một
điều
rất
quan
trọng.
Người
ta
không
thể
tìm
thấy
trong
Thánh
Kinh
bất
cứ
loại
chân
lý
nào
(khoa
học,
lịch
sử,
địa
lý,
nhân
chủng
học...)
nhưng
chỉ
có
thứ
chân
lý
cứu
thoát
chúng
ta,
và
ta
cũng
nên
lưu
ý
Công
đồng
không
nói
những
chân
lý,
nhưng
nói
chân
lý
ở
số
ít;
chân
lý
ấy
đồng
thời
cũng
là
sự
sống,
là
đường
dẫn
đến
sự
cứu
độ.
Ðiều
đó
muốn
nói
rằng:
chân
lý
của
chúng
ta
không
phải
chỉ
là
một
điều
ta
biết
suông,
nhưng
là
một
bổn
phận
phải
thực
hành:
"Thực
Hành
Chân
Lý"
(x.
Ep
4,15)
và
phải
tiến
tới
trong
chân
lý:
"Ði
Trong
Chân
Lý".
Công
đồng
muốn
giải
phóng
thần
học
khỏi
quan
niệm
Hy
Lạp
về
chân
lý
quá
tĩnh
để
trở
về
với
ý
niệm
Do
Thái
linh
động
hơn,
hiện
sinh
hơn,
cởi
mở
hơn
đối
với
mầu
nhiệm
Thiên
Chúa.
Một
số
người
công
kích,
số
khác
lại
ca
tụng
về
tầm
quan
trọng
hợp
nhất
của
Hiến
chế
về
Mạc
khải.
Người
ta
đã
chỉ
trích
"sự
hàm
hồ"
về
mối
tương
quan
giữa
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền.
Nhưng
có
người
lại
thấy
ở
đó
một
cánh
cửa
đưa
đến
đối
thoại,
nhất
là
vào
thời
đại
các
Giáo
Hội
phát
sinh
sau
khi
Phong
Trào
Cải
cách
đặt
lại
vấn
đề
Thánh
Truyền.
Việc
tự
do
tìm
hiểu
đã
chiếm
được
một
địa
vị,
nhờ
đó
sự
cộng
tác
giữa
các
nhà
chú
giải
Công
giáo
và
Tin
lành
cùng
dễ
dàng
và
đáng
khích
lệ
hơn.
Ngoài
ra,
việc
khuyến
khích
đọc
Thánh
Kinh
đã
tạo
nên
một
nền
tảng
vững
chắc
đưa
các
Kitô
hữu
xích
lại
gần
nhau
hơn,
vì
họ
cũng
lắng
nghe
một
Lời
Chúa.
Dù
bản
chính
lục
Thánh
Kinh
vẫn
còn
đôi
chút
khác
biệt,
nhưng
sự
kiện
này
không
có
tầm
quan
trọng
thực
tiễn
nào.
Ủy
Ban
Giáo
Lý
Ðức
Tin
Hội
Ðồng
Giám
Mục
Việt
Nam
Saigon,
ngày
2
tháng
11
năm
2005

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II