VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
12-
SẮC
LỆNH
TÔNG
ĐỒ
GIÁO
DÂN
(APOSTOLICAM
ACTUOSITATEM)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
Lời
Giới
Thiệu
Ðôi
dòng
lịch
sử
Năm
1960,
Ðức
Gioan
XXIII
thiết
lập
Ủy
Ban
Giáo
Hoàng
về
hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân.
Và
sau
200
lần
hội,
Ủy
Ban
đã
hoàn
tất
việc
soạn
thảo
một
lược
đồ
gồm
200
trang.
Ủy
Ban
gồm
tất
cả
39
thành
phần,
trong
số
có
11
Giám
Mục.
Bên
cạnh
Ủy
Ban
còn
có
29
vị
cố
vấn,
mà
14
vị
cũng
là
Giám
Mục.
Ngoài
ra,
các
đại
diện
của
26
quốc
gia
và
của
nhiều
tổ
chức
quốc
tế
cũng
đến
tham
dự.
Ngay
từ
ban
đầu,
Hồng
Y
Cento,
chủ
tịch
Ủy
Ban,
đã
đề
nghị
mời
giáo
dân
tham
dự,
ít
nhất
với
tư
cách
cố
vấn.
Trong
kỳ
họp
đầu
tiên,
Ðức
Gioan
XXIII
đã
chính
thức
mời
Jean
Guitton
tham
dự
Công
Ðồng
với
tư
cách
là
dự
thính
viên
giáo
dân.
Rồi
trong
những
phiên
họp
khoáng
đại
về
sau,
Ðức
Phaolô
VI
cũng
đã
đề
cử
nhiều
dự
thính
viên
giáo
dân
khác,
nam
giới
vào
năm
1963
và
cả
nữ
giới
vào
năm
1964
tham
dự.
Như
vậy
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
đã
được
thành
phần
giáo
dân
cộng
tác
hoàn
thành.
Trong
suốt
thời
gian
tranh
luận,
bản
văn
được
sửa
đổi
và
soạn
thảo
lại
nhiều
lần.
Ban
đầu
lược
đồ
đề
cập
hết
sức
bao
quát
về
vai
trò
của
người
giáo
dân
trên
thế
giới
và
trong
Giáo
Hội.
Về
sau
các
Nghị
Phụ
đã
cố
gắng
thu
hẹp
lại
vào
một
khía
cạnh
tiêu
biểu
nhất:
tông
đồ
giáo
dân.
Thực
ra
lược
đồ
đã
được
đem
bàn
cãi
từ
những
phiên
họp
ở
năm
1963,
và
Ủy
Ban
liên
hệ
đã
phải
rút
ngắn
lại
còn
48
trang,
rồi
15
trang
ở
năm
1964.
Vì
các
Nghị
Phụ
nhận
thấy
rằng
lược
đồ
chưa
thỏa
mãn
đủ
cho
sự
đòi
hỏi
cần
thiết,
nên
nhiều
lần
cuộc
tranh
luận
đã
gặp
những
khó
khăn
đáng
kể.
Và
như
vậy,
để
được
chấp
thuận
lược
đồ
đã
phải
trải
qua
những
"cơn
sốt"
trầm
trọng.
Ở
đây
chúng
ta
cố
gắng
đưa
ra
một
vài
lý
do
của
những
trở
ngại
đó.
Trước
hết,
chúng
ta
nhận
thấy
rằng
"Tông
Ðồ
Giáo
Dân"
là
một
đề
mục
hoàn
toàn
mới
lạ,
chưa
có
một
sắc
lệnh
hay
một
văn
kiện
nào
trước
Công
Ðồng
Vaticanô
II
đã
đề
cập
tới.
Ðàng
khác
vấn
đề
tự
bản
tính
đã
là
khó
khăn,
phức
tạp;
thật
vậy,
chưa
có
một
quan
điểm
thần
học
căn
bản
Công
Giáo
nào
nói
về
những
thực
tại
trần
thế
cũng
như
về
hành
động
của
Kitô
hữu
trong
thế
giới.
Sau
nữa,
muốn
tìm
một
định
nghĩa
đứng
đắn
cho
"tông
đồ
giáo
dân"
thì
tự
nó
không
thể
cung
cấp
đủ
nhưng
người
ta
còn
phải
đi
tìm
những
minh
chứng
và
cảm
hứng
bên
ngoài
và
phải
đặt
nền
tảng
ở
Giáo
Hội
cũng
như
nương
tựa
vào
nhân
chủng
học
(x.
René
Rémond,Introduction
du
Décret,
Ed.
du
Centurion).
Tính
cách
độc
đáo
Ðây
là
lần
đầu
tiên
trong
lịch
sử,
một
Công
Ðồng
Chung
đã
quan
tâm
đặc
biệt
tới
vấn
đề
tông
đồ
của
giáo
dân,
cũng
như
đã
dành
nhiều
nỗ
lực
cho
sự
xác
định
lại
sứ
mệnh
của
giáo
dân
trong
Giáo
Hội
và
trong
thế
giới.
Nhưng
điều
đó
không
có
nghĩa
là
Giáo
Hội
chưa
bao
giờ
ý
thức
sự
hiện
diện
mật
thiết
của
giáo
dân
trong
Giáo
Hội.
Bởi
Giáo
Hội
được
thiết
lập
vì
các
tín
hữu
là
con
cái
mình,
và
ngay
từ
ban
đầu
thời
Giáo
Hội
sơ
khai,
giáo
dân
không
những
là
đối
tượng
cho
hoạt
động
của
các
Tông
Ðồ,
mà
còn
là
những
cộng
tác
viên
đắc
lực
của
các
ngài.
Như
phần
mở
đầu
của
Sắc
Lệnh
có
nhắc
đến,
những
hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân
xuất
hiện
tự
nhiên
từ
giai
đoạn
đầu
của
Giáo
Hội
và
đã
đem
lại
những
kết
quả
phong
phú.
Rồi
qua
dòng
lịch
sử,
chúng
ta
thấy
rằng
có
nhiều
tu
hội
và
hiệp
hội
tông
đồ
phát
sinh
do
cảm
hứng
của
giáo
dân
hay
do
họ
điều
khiển.
Tuy
nhiên,
phải
công
nhận
rằng
cho
tới
Vaticanô
II
địa
vị
của
người
giáo
dân
vẫn
chỉ
được
xem
như
một
ngoại
lệ
do
ơn
sủng
đặc
biệt
hay
riêng
tư
nào
đó;
và
như
vậy
sự
có
mặt
của
họ
chưa
bao
giờ
được
nhìn
nhận
như
một
hàng
riêng
biệt.
Hơn
nữa,
với
ý
niệm
hầu
như
hoàn
toàn
tiêu
cực,
hình
như
Giáo
Luật
đã
không
quan
tâm
tới
việc
đề
cao
và
công
nhận
giá
trị
của
người
giáo
dân.
Ðàng
khác,
tình
trạng
của
giáo
dân
lại
luôn
lệ
thuộc
vào
hàng
Giáo
Phẩm
và
Giáo
Sĩ.
Chúng
ta
có
thể
nói
rằng
quan
niệm
thế
quyền
từ
nhiều
thế
kỷ
về
đây
liên
lạc
giữa
chính
quyền
với
công
dân
được
đưa
ra
áp
dụng
vào
trong
Giáo
Hội
khi
qui
định
mối
tương
quan
giữa
Giáo
Sĩ
và
Giáo
Dân.
Lại
nữa
trong
số
các
hình
ảnh
dùng
diễn
tả
bản
tính
Giáo
Hội,
hình
như
người
ta
vẫn
còn
giữ
lại
hình
ảnh
có
chiều
hướng
Trung
Cổ:
mục
tử
và
đoàn
chiên.
Quyền
bính
và
trách
nhiệm
hướng
dẫn
là
việc
của
các
mục
tử;
đoàn
chiên
giáo
dân
chỉ
việc
vâng
theo
những
chỉ
dẫn
của
chủ
chăn.
Công
Ðồng
Vaticanô
II
đã
nỗ
lực
xét
lại
hoàn
toàn
quan
niệm
tổng
quát
về
sự
liên
lạc
giữa
Giáo
Hội
và
các
tín
hữu.
Công
Ðồng
xác
nhận
rằng
người
giáo
dân
phải
được
đánh
giá
như
cộng
tác
viên
đích
thực
trong
sứ
mệnh
duy
nhất
của
Giáo
Hội
là
cứu
độ
mọi
người.
Ðây
là
một
thành
quả
tốt
đẹp
của
Công
Ðồng
trong
việc
quan
niệm
địa
vị
người
giáo
dân
trong
Giáo
Hội.
Sau
đó,
Công
Ðồng
giải
quyết
một
vấn
nạn
đươc
đặt
ra
từ
đầu:
đó
là
việc
phân
chia
hoạt
động
tông
đồ
ra
"tông
đồ
trực
tiếp
và
gián
tiếp",
hoặc,
theo
nhiều
người,
phân
biệt
ra
"tông
đồ
chuyên
biệt
và
không
chuyên
biệt".
Lúc
ấy
người
ta
quan
niệm
rằng
hoạt
động
tông
đồ
trực
tiếp
là
tất
cả
những
phương
cách
truyền
bá
Phúc
Âm
và
thánh
hóa
các
Kitô
hữu
hay
những
người
ngoài
Kitô
hữu
bằng
sự
loan
báo
Chúa
Kitô,
loan
báo
Phúc
Âm
hay
bằng
chính
đời
sống.
Hoạt
động
tông
đồ
gián
tiếp,
trái
lại,
được
cho
rằng
đó
là
những
hoạt
động
hệ
tại
sự
bảo
đảm
và
làm
hoàn
hảo
trần
thế,
cho
thấm
nhuần
tinh
thần
Phúc
Âm
và
nhờ
vậy
tạo
nên
bầu
khí
thích
hợp
cho
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
và
thánh
hóa
con
người.
Như
vậy,
theo
các
quan
niệm
nầy,
tất
cả
những
hoạt
động
tông
đồ
có
tính
cách
xã
hội
chỉ
được
coi
như
là
tông
đồ
gián
tiếp.
Rất
nhiều
Nghị
Phụ
không
đồng
ý
quan
niệm
nầy.
Về
sau,
Ủy
Ban
liên
hệ
bàn
cãi
lại
và
quyết
định
không
dùng
những
từ
ngữ
phân
biệt
đó
ở
trong
Sắc
Lệnh.
Những
nét
chính
Nhìn
vào
Sắc
Lệnh,
chúng
ta
nhận
thấy
điều
được
Sắc
Lệnh
nhấn
mạnh
trước
hết
là
xác
định
lại
giáo
lý
về
tông
đồ
giáo
dân
đã
trình
bày
trong
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Giáo
Hôi:
theo
đó,
Giáo
Hội
được
thành
lập
với
mục
đích
đem
đến
cho
mọi
người
ơn
cứu
chuộc
và
cứu
rỗi.
Sau
đó,
Sắc
Lệnh
đề
cập
tới
vấn
đề
chính
là
tông
đồ
giáo
dân
trong
khi
vẫn
dựa
vào
những
gì
đã
trình
bày
ở
Hiến
Chế
về
Giáo
Hội.
Nhưng
điều
quan
trọng
là
Sắc
Lệnh
phân
biệt
"chức
linh
mục
thừa
tác"
và
"chức
linh
mục
cộng
đồng".
Với
"chức
linh
mục
thừa
tác",
các
giám
mục
và
từ
đó
các
linh
mục
có
quyền
thi
hành
những
chức
vụ
tông
đồ
"nhân
danh
Chúa
Kitô
Thủ
Lãnh
Hiện
Thân"
(x.
Sắc
Lệnh
về
Linh
Mục)
và
do
đó
các
ngài
trở
nên
như
Mục
Tử
chăn
dắt.
Còn
các
tín
hữu,
nhờ
"chức
linh
mục
cộng
đồng",
thi
hành
những
việc
tông
đồ
riêng
biệt
của
họ
trong
Giáo
Hội.
Sắc
Lệnh
đã
nhắc
lại
nhiều
lần
rằng
vì
giáo
dân
tham
dự
vào
chức
vụ
tư
tế,
ngôn
sứ
và
vương
giả
của
Chúa
Kitô
theo
cách
thế
của
họ,
cũng
phải
nắm
giữ
vai
trò
riêng
do
phép
Rửa
Tội,
Thêm
Sức
và
nhất
là
do
các
đặc
sủng
riêng
biệt
của
họ.
Thứ
đến,
Sắc
Lệnh
nói
đến
một
vấn
đề
đã
gây
nên
nhiều
khó
khăn
cho
việc
tông
đồ
giáo
dân:
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội.
Sắc
Lệnh
xác
định
rằng
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội
vẫn
là
duy
nhất,
nhưng
có
thể
được
diễn
tả
bằng
những
hình
thức
tông
đồ
khác
nhau
với
những
thành
quả
khác
nhau.
Như
vậy
người
giáo
dân
sẽ
thi
hành
việc
tông
đồ
trong
các
cộng
đồng
của
Giáo
Hội
mà
họ
sống
trong
gia
đình,
ở
môi
trường
xã
hội,
môi
trường
giới
trẻ,
hay
trong
lãnh
vực
quốc
gia
hoặc
quốc
tế.
Bởi
đó,
việc
tông
đồ
của
người
giáo
dân
cũng
có
thể
đem
lại
những
thành
quả
phong
phú.
Nhờ
hoạt
động
tông
đồ,
họ
sẽ
loan
báo
Phúc
Âm
cho
người
khác,
hoặc
thánh
hóa
họ.
Họ
cũng
có
thể
nhờ
hoạt
động
mà
đem
tinh
thần
Phúc
Âm
thấm
nhuần
lãnh
vực
trần
thế.
Ðề
cập
tới
việc
thực
hiện
tông
đồ
giáo
dân,
Sắc
Lệnh
nhắc
tới
hai
phương
pháp
hoạt
động
trong
Giáo
Hội:
tông
đồ
tập
thể
và
tông
đồ
cá
nhân.
Cả
hai
đều
là
những
cách
thế
hoạt
động
của
giáo
dân;
tuy
nhiên,
theo
Sắc
Lệnh,
hoạt
động
tông
đồ
có
tổ
chức
qui
củ
sẽ
đáp
ứng
hữu
hiệu
hơn
cho
nhu
cầu
của
con
người
và
của
tín
hữu.
Bởi
thế,
phương
pháp
hoạt
động
tập
thể
này
cần
được
phát
động
và
khích
lệ
nhiều
hơn
trong
các
lãnh
vực
hoạt
động
của
giáo
dân.
Sắc
Lệnh
đã
đặc
biệt
lưu
ý
tới
những
hội
đoàn
mới
xuất
hiện
vào
quãng
mươi
năm
nay,
dưới
danh
hiệu
Công
Giáo
Tiến
Hành.
Sau
hết,
Sắc
Lệnh
nhấn
mạnh
tới
việc
cần
thiết
huấn
luyện
cho
những
hoạt
động
tông
đồ
này
cũng
như
những
phương
tiện
sử
dụng.
Chiều
hướng
nền
tảng
Ðể
thấu
triệt
hơn
ý
nghĩa
Sắc
Lệnh,
ở
đây
chúng
ta
cố
gắng
đưa
ra
một
vài
tư
tưởng
chủ
điểm
và
độc
đáo,
dựa
vào
những
nét
chính
vừa
nêu
trên.
Trước
hết,
chúng
ta
nhận
thấy
rằng
ý
tưởng
"tham
dự
vào"
trước
đã
có
tiếng
vang
đáng
kể
trong
Thông
Ðiệp
"Pacem
in
terris",
giờ
đây
được
Sắc
Lệnh
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
nhắc
lại
và
nhấn
mạnh
trong
tầm
mức
ý
nghĩa
của
nó,
từ
đầu
cho
đến
cuối
bản
văn.
Thật
vậy,
trước
hết
và
trên
hết,
Giáo
Hội
có
sứ
mệnh
giúp
mọi
người
tham
dự
vào
ơn
cứu
độ
và
giáo
dân
là
thành
phần
được
tham
dự
vào
chức
vị
tư
tế,
ngôn
sứ
và
vương
giả
của
Chúa
Kitô.
Họ
được
mời
tham
dự
vào
sinh
hoạt
của
Giáo
Hội,
trong
sứ
mệnh
rao
giảng
Phúc
Âm;
cho
nên
đối
tượng
của
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
là
xác
định
những
hình
thái
và
điều
kiện
cho
việc
tham
dự
nầy.
Thời
gian
mà
các
tín
hữu
chỉ
đóng
vai
trò
thụ
động
đã
qua
rồi.
Ngày
nay
Giáo
Hội
đặt
niềm
tin
ở
sự
can
thiệp,
ở
sáng
kiến
cũng
như
nơi
sự
tuân
phục
của
con
cái
mình.
Nguồn
gốc
sự
tham
dự
đó
phát
sinh
từ
địa
vị,
hoàn
cảnh
khác
nhau
của
mỗi
người
trong
thế
giới.
Người
giáo
dân
sống
trong
thế
giới
và
giữa
những
thực
tại
trần
gian;
cho
nên
ơn
gọi
của
họ
là
thánh
hóa
những
gì
trần
tục.
Chính
ơn
gọi
này
với
hoàn
cảnh
riêng
biệt
của
mỗi
người
sẽ
định
hướng
cho
đời
sống
tôn
giáo
của
họ.
Bởi
thế,
đời
sống
đạo
đức
cá
nhân
của
người
giáo
dân
sẽ
nhận
được
cảm
hứng
từ
đời
sống
hoạt
động
của
họ
giữa
người
khác
và
giữa
cuộc
đời;
như
vậy,
với
những
yếu
tố
của
các
hoàn
cảnh
cụ
thể
của
cuộc
sống,
của
đời
vợ
chồng,
gia
đình,
nghề
nghiệp
và
xã
hội,
họ
sẽ
tạo
cho
mình
khoa
tu
đức
hữu
hiệu
cho
bậc
sống.
Như
vậy
sự
chạm
trán
với
những
vấn
đề
không
ngừng
đặt
ra
do
cuộc
sống
hiện
tại
và
theo
sự
phán
đoán
trong
tầm
mức
Kitô
hữu,
là
cơ
hội
quí
báu
cho
người
giáo
dân
để
kiểm
điểm
lại
cuộc
sống.
Ðịnh
nghĩa
và
quan
niệm
về
ơn
gọi
của
người
giáo
dân
như
thế,
hàm
chứa
một
cách
nào
đó,
quan
niệm
thần
học
về
những
thực
tại
trần
thế;
quan
niệm
nầy
hòa
hợp
với
quan
điểm
được
trình
bày
ở
Hiến
Chế
nầy,
trật
tự
trần
thế
có
giá
trị
riêng
của
nó
và
người
giáo
dân
sử
dụng
trật
tự
đó
với
trách
nhiệm
của
mình.
Thế
giới
chưa
hoàn
tất
và
khuôn
mặt
của
nó
tùy
thuộc
vào
hoạt
động
tự
do
và
ý
thức
của
con
người.
Như
vậy,
đứng
trước
thế
giới,
người
giáo
dân
có
sứ
mệnh
phải
kiến
tạo,
hoàn
hảo
hóa
sao
cho
nó
trở
nên
hấp
dẫn
đối
với
mọi
người
và
thích
hợp
với
ý
định
của
Thiên
Chúa.
Một
chiều
hướng
quan
trọng
khác
của
Sắc
Lệnh
là
đặc
biệt
chú
tâm
tới
thực
tại
cụ
thể
của
thế
giới
hiện
đại.
Bản
văn
của
Sắc
Lệnh
đã
dùng
lại
ý
niệm
"dấu
chỉ
thời
đại"
mà
Thông
Ðiệp
"Pacem
in
Terris"
đã
sử
dụng
và
xem
như
là
một
ý
niệm
quan
trọng
của
Thông
Ðiệp.
Sắc
Lệnh
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
đã
đề
cập
nhiều
lần
tới
tình
trạng
biến
chuyển
của
thế
giới,
những
điều
kiện
sống
mới
mẻ,
những
đổi
thay
bất
ngờ,
tình
trạng
tăng
gia
dân
số,
sự
tiến
bộ
của
khoa
học
và
kỹ
thuật.
Những
phân
tích
nầy
không
khác
mấy
với
những
điều
đã
trình
bày
ở
"Hiến
Chế
Mục
Vụ
về
giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay";
nhưng
nét
đặc
biệt
của
Sắc
Lệnh
là
niềm
khát
vọng
khám
phá
ra
ngôn
ngữ
của
các
dấu
chỉ
thời
đại,
là
sự
coi
trọng
những
thực
tại
trần
thế,
là
nỗi
băn
khoăn
tìm
cách
thích
ứng
việc
tông
đồ
giáo
dân
với
hoàn
cảnh,
nhu
cầu
và
khả
năng
của
thế
giới
hiện
đại.
Trong
những
đặc
điểm
chính
của
thế
giới
văn
minh
có
lẽ
sự
liên
đới
ngày
càng
gia
tăng
giữa
các
dân
tộc
là
một
đặc
điểm
quan
trọng
nhất.
Thật
vậy,
Thánh
Công
Ðồng
đã
đặc
biệt
chú
tâm
tới
chiều
hướng
quốc
tế
đó,
và
Sắc
Lệnh
nầy
là
một
trong
những
bằng
chứng
của
sự
chú
tâm
trên.
Hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân
phải
nhằm
tới
viễn
ảnh
quốc
tế
và
thực
hiện
thế
nào
để
giúp
cho
các
dân
tộc
gần
gũi
nhau
hơn.
Có
lẽ
sự
quan
tâm
tới
hoạt
động
tông
đồ
phổ
quát
của
Sắc
Lệnh
là
một
đặc
điểm
hấp
dẫn
nhất.
theo
đó,
mọi
giáo
dân
trên
thế
giới
đều
được
kêu
mời
tới
công
việc
ấy,
và
hoạt
động
tông
đồ
nầy
nhằm
đến
hết
mọi
người,
làm
thế
nào
để
người
giáo
dân
có
thể
đối
thoại
với
tất
cả
dù
có
đức
tin
hay
không.
Như
thế,
hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân
sẽ
lan
rộng
tới
mọi
khía
cạnh
của
cuộc
đời
thực
tế,
tới
bất
cứ
bậc
sống
nào
cũng
như
nhu
cầu
nào
của
nhân
loại.
Ðứng
trên
phương
diện
nầy,
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
đã
trở
nên
một
trong
những
thành
quả
cũng
như
một
trong
những
khát
vọng
chính
yếu
của
Thánh
Công
Ðồng
Vaticanô
II.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II