VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
13-
TUYÊN
NGÔN
VỀ
TỰ
DO
TÔN
GIÁO
(DIGNITATIS
HUMANAE)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
Lời
Giới
Thiệu
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo
là
một
văn
kiện
đáng
kể
và
quan
trọng
trong
lịch
sử
Giáo
Hội,
khai
mở
một
kỷ
nguyên
mới
cho
mối
liên
lạc
của
Giáo
Hội
với
thế
giới
hiện
đại.
Bản
văn
hình
thành
rất
phức
tạp.
Có
đến
sáu
lược
đồ
được
đệ
trình
cho
các
Nghị
Phụ
tranh
luận,
sửa
chữa
để
đúc
kết
thành
bản
văn
chính
thức.
Chủ
đề
này
đã
tạo
nên
cuộc
tranh
luận
sôi
nổi
trong
Công
Ðồng
và
khiến
thế
giới
ngoài
Kitô
giáo
chú
trọng
đặc
biệt
để
tìm
hiểu
Giáo
Hội
thành
thực
đến
mức
nào
trong
nỗ
lực
cởi
mở
với
thế
giới
cũng
như
dành
cho
lược
đồ
này
tầm
quan
trọng
thế
nào.
Khi
trình
bày
lược
đồ
cho
các
Nghị
Phụ
ở
Công
Ðồng,
Ðức
Cha
De
Smedt
đã
lưu
ý
đến
nhiều
lý
do
cổ
võ
cho
tuyên
ngôn
này.
Trước
hết
là
lý
do
"chân
lý":
Giáo
Hội
phải
truyền
dạy
và
bênh
vực
quyền
tự
do
tôn
giáo
vì
đây
là
một
chân
lý
Chúa
Kitô
đã
ủy
thác
cho
Giáo
Hội
gìn
giữ.
Thứ
đến,
ngài
nói
tới
lý
do
"bảo
vệ":
chúng
ta
hiện
sống
trong
một
thời
đại
mà
phân
nửa
nhân
loại
không
có
Tự
Do
Tôn
Giáo
vì
sự
ngăn
cản
thiên
hình
vạn
trạng
của
chủ
nghĩa
duy
vật
vô
thần,
nên
Giáo
Hội
có
bổn
phận
phải
bảo
vệ
quyền
Tự
Do
này.
Sau
đó,
ngài
đề
cập
đến
lý
do
"sống
chung
hòa
bình":
trong
một
thời
đại
ngập
tràn
nhiều
lý
thuyết
khác
biệt.
Giáo
Hội
phải
vạch
đường
lối
hướng
đến
việc
cộng
tác
với
nhau
nhiều
hơn
và
rộng
lớn
hơn.
Sau
cùng
Ðức
Cha
đưa
ra
lý
do
"hiệp
nhất":
vì
nhiều
người
ngoài
Công
Giáo
nghi
ngờ
Giáo
Hội
Công
Giáo
theo
thuyết
của
Machiavello,
nghĩa
là
chỉ
cổ
động
Tự
Do
Tôn
Giáo
nơi
nào
Công
Giáo
chỉ
là
thiểu
số,
và
coi
thường
hay
từ
chối
quyền
Tự
Do
đó
khi
ngươì
Công
Giáo
chiếm
đa
số,
bởi
thế
Giáo
Hội
cần
cố
gắng
làm
sáng
tỏ
vấn
đề.
Thực
sự,
nếu
Công
Ðồng
chỉ
muốn
nêu
ra
vài
tiêu
chuẩn
hành
động,
chắc
chắn
bản
văn
sẽ
dễ
dàng
được
tất
cả
các
Nghị
Phụ
đồng
ý.
Nhưng
công
việc
quả
thật
rất
khó
khăn,
vì
ở
đây
Công
Ðồng
đưa
ra
vấn
đề
dựa
vào
những
nền
tảng
giáo
lý
vững
chắc.
Và
riêng
điểm
này
cũng
đã
là
nan
giải,
vì
nhiều
quan
điểm
đối
nghịch
nhau
có
thể
dễ
dàng
phát
khởi
tính
cách
phức
tạp
của
vấn
đề;
chẳng
hạn
như
những
kiểu
giải
thích
các
văn
kiện
thuôc
quyền
Giáo
Huấn
ở
các
thế
kỷ
vừa
qua,
cũng
như
hoàn
cảnh
văn
hóa
dị
biệt
của
những
cộng
đoàn
Công
Giáo
khác
nhau
mà
các
Nghị
Phụ
đại
diện.
Nhất
là
còn
phải
tránh
tất
cả
mọi
nguy
hiểm
thuyết
dửng
dưng,
của
chủ
trương
xu
thời,
cũng
như
của
thuyết
tương
đối
về
vấn
đề
tôn
giáo...
Do
đó,
phải
nêu
rõ
bổn
phận
đi
tìm
chân
lý
của
mỗi
cá
nhân
và
đồng
thời
vẫn
bảo
vệ
quyền
tự
do
thiết
yếu
của
họ
trong
công
cuộc
đi
tìm
chân
lý
ấy
trên
bình
diện
xã
hội.
Một
trong
những
khó
khăn
lớn
lao
nhất
là
phải
tìm
ra
một
khía
cạnh
thích
đáng
đề
cập
vấn
đề.
Ý
niệm
cổ
truyền
về
sự
"khoan
dung"
thì
quá
thiếu
sót
và
tiêu
cực.
Còn
ý
niệm
về
quyền
của
một
lương
tâm
sai
lầm
(ý
niệm
rất
thông
thường
trong
thần
học
luân
lý)
lại
đòi
hỏi
nhiều
tế
nhị.
Lý
luận
như
thế
có
thể
khiến
cho
lương
dân
không
thề
nào
hiểu
được,
vì
nó
giả
thiết
phải
chuyển
biến
từ
lãnh
vực
luân
lý
sang
lãnh
vực
pháp
lý.
Cuối
cùng,
các
Nghị
Phụ
đã
tìm
gặp
ý
niệm
nhân
phẩm;
và
dưới
nhiều
khía
cạnh
phụ
thuộc
khác
nhau,
ý
niệm
này
đã
trở
thành
nền
tảng
căn
bản
duy
nhất
cho
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo.
Có
thể
nói
rằng
tiến
trình
soạn
thảo
chậm
chạp
của
bản
Tuyên
Ngôn
đã
đánh
dấu
một
nỗ
lực
kiên
trì
của
Thánh
Công
Ðồng
nhằm
tránh
việc
đề
cập
vấn
đề
một
cách
quá
tín
lý.
Ðồng
thời
Tuyên
Ngôn
cố
gắng
dựa
vào
sứ
mệnh
đặc
biệt
mà
Giáo
Hội
đã
lãnh
nhận
nơi
Chúa
Kitô
để
diễn
tả
phạm
vi
này
là
một
phạm
vi
cần
thiết
cho
hết
mọi
người
cũng
như
cho
tất
cả
những
cộng
đoàn
tôn
giáo
trong
hành
trình
đi
tìm
chân
lý,
một
phạm
vi
đủ
để
Giáo
Hội
chu
toàn
sứ
mệnh
Chúa
Kitô
ủy
thác.
Ngày
7
tháng
12
năm
1965,
với
2,308
phiếu
thuận
và
70
phiếu
chống,
bản
văn
đã
được
các
nghị
Phụ
chấp
thuận
và
được
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
tuyên
bố
là
văn
kiện
thuộc
Quyền
Giáo
Huấn.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II