VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
Lời
Giới
Thiệu
Tổng
Quát
Về
Công
Ðồng
I.
Một
Vài
Khái
Niệm
Về
Các
Công
Ðồng
A.
Ðịnh
Nghĩa
Công
Ðồng:
Công
Ðồng
là
gì?
Ðó
là
câu
hỏi
mà
thiết
tưởng
cần
được
trả
lời
trước
hết.
Một
cách
tổng
quát
Công
Ðồng
là
một
hội
nghị
gồm
các
Giám
Mục
cùng
một
số
chức
vị
trong
Giáo
Hội
chính
thức
nhóm
họp
với
mục
đích
bàn
luận
và
quyết
định
những
vấn
đề
thuộc
giáo
lý
hoặc
qui
luật
của
Giáo
Hội.
Có
những
cấp
bậc
Công
Ðồng
khác
nhau,
được
kể
trong
hai
loại
tổng
quát:
Công
Ðồng
phổ
quát
và
Công
Ðồng
riêng.
Công
Ðồng
phổ
quát
còn
được
gọi
là
Công
Ðồng
Chung.
Theo
pháp
chế
hiện
hành
của
Giáo
Hội,
Công
Ðồng
Chung
là
một
hội
nghị
toàn
thể
các
Giám
Mục
của
Giáo
Hội,
được
triệu
tập
do
và
dưới
thẩm
quyền
của
Ðức
Giáo
Hoàng.
Từ
ngữ
"chung"
được
dịch
từ
một
tỉnh
từ
Hy
Lạp
mang
ý
nghĩa
"thuộc
về
mọi
phần
đất
có
người
ở":
nghĩa
là
chỉ
toàn
thể
thế
giới.
Trước
Công
Ðồng
Vaticanô
II,
chỉ
có
những
Giám
Mục
tông
tòa
mới
có
quyền
tham
dự
Công
Ðồng
Chung.
Nhưng
ngày
nay,
Sắc
lệnh
về
Nhiệm
Vụ
Giám
Mục
xác
định
lại:
"Thánh
Công
Ðồng
chế
định:
mọi
Giám
Mục
đều
có
quyền
tham
dự
Công
Ðồng
Chung,
vì
là
thành
phần
của
cộng
đoàn
Giám
Mục"
(GM
4).
Thứ
đến,
được
gọi
là
Công
Ðồng
riêng,
một
hội
nghị
gồm
các
Giám
Mục
của
khu
vực
nào
đó
trong
Giáo
Hội.
Công
Ðồng
riêng
được
gọi
là
Ðại
Công
Ðồng,
nếu
hội
nghị
gồm
các
Giám
Mục
của
nhiều
giáo
tỉnh
khác
nhau,
dưới
quyền
chủ
tọa
của
Sứ
Thần
Tòa
Thánh.
Nếu
chỉ
có
các
Giám
Mục
của
một
giáo
tỉnh,
dưới
quyền
chủ
tọa
của
Tổng
Giám
Mục
hay
một
Giám
Mục
thâm
niên
công
vụ,
thì
Công
Ðồng
được
gọi
là
Công
Ðồng
tỉnh.
Ngoài
ra,
chúng
ta
còn
có
thể
kể
thêm
vài
loại
khác
như
Công
Ðồng
toàn
quốc,
Công
Ðồng
toàn
miền,
v.v...
Chúng
ta
còn
thấy
có
những
hội
nghị
Giám
Mục
khác,
chẳng
hạn
như
các
thượng
hội
đồng.
Thượng
hội
đồng
giáo
phận
được
dùng
để
chỉ
những
phiên
họp
của
vị
Giám
Mục
giáo
phận
với
hàng
giáo
sĩ
của
mình.
Còn
thượng
hội
đồng
Giám
Mục
là
một
hội
nghị,
được
thành
lập
ngay
sau
Công
Ðồng
Vaticanô
II,
gồm
những
Giám
Mục
được
chọn
trong
số
các
Giám
Mục
toàn
thế
giới,
do
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
triệu
tập,
với
mục
đích
cùng
tìm
hiểu
và
cố
vấn
cho
Ngài
trong
những
vấn
đề
có
tính
cách
thời
sự
của
Giáo
Hội.
B.
Thẩm
quyền
của
Công
Ðồng:
Công
Ðồng
giữ
thẩm
quyền
tối
thượng
trong
Giáo
Hội.
Nền
tảng
này
dựa
vào
chính
ý
muốn
của
Chúa
Kitô
là
Ðấng
đã
ban
quyền
cho
các
Tông
Ðồ
và
những
người
kế
vị
các
Ngài,
để
dạy
dỗ
và
điều
khiển
Giáo
Hội.
Công
Ðồng
Chung
là
cơ
quan
lập
pháp
và
giáo
huấn
tối
cao
của
Giáo
Hội.
Thực
ra,
đó
chính
là
Giám
Mục
Ðoàn
qui
tụ
về
một
nơi.
Những
sắc
lệnh
giáo
lý
của
Công
Ðồng
này
giữ
một
giá
trị
giáo
thuyết
rất
cao:
với
một
vài
điều
kiện,
chúng
thành
bất
khả
ngộ.
Những
sắc
lệnh
Công
Ðồng
có
thể
chia
làm
hai
loại:
giáo
lý
hoặc
qui
luật.
Sắc
lệnh
về
qui
luật
đề
cập
đến
luật
lệ,
tập
quán,
nghi
lễ
v.v...
Sắc
lệnh
về
giáo
lý
nhằm
ngay
đến
giáo
lý
mạc
khải,
làm
sáng
tỏ
những
điểm
còn
nghi
ngờ,
xác
quyết
những
chân
lý
bị
lạc
giáo
chối
từ
v.v...
Vì
thế,
trong
những
sắc
lệnh
về
loại
này,
chúng
ta
thấy
có
những
"định
thức".
Gọi
là
định
thức,
những
công
thức
ngắn
về
một
điểm
của
giáo
lý,
hoặc
xác
quyết
một
chân
lý,
hoặc
lên
án
một
lạc
giáo,
và
kết
thúc
bằng
phán
quyết
"tuyệt
thông".
Giáo
lý
ở
các
định
thức
thuộc
về
tín
điều:
chối
bỏ
sẽ
bị
liệt
vào
hàng
lạc
giáo.
C.
Các
Công
Ðồng
trong
lịch
sử:
Trước
hết
chúng
ta
nói
đến
Công
Ðồng
"Giêrusalem".
Ðó
là
cuộc
hội
nghị
của
các
Tông
Ðồ
và
những
môn
đồ
khác,
vào
khoảng
năm
48-50
(x.
CvSđ
15).
Giáo
Hội
sơ
khai
đã
bắt
đầu
tổ
chức
hội
nghị
công
đồng
rất
sớm,
vì
thực
sự
đó
chính
là
sự
thể
hiện
tính
cách
cộng
đoàn
của
Giám
Mục.
Ngay
trước
thời
kỳ
thanh
bình
dưới
đời
vua
Constantinô,
đầu
thế
kỷ
thứ
IV,
cũng
đã
có
Công
Ðồng
Elvira
(Tây
Ban
Nha),
nổi
tiếng
trong
quyết
nghị
công
bố
luật
độc
thân
giáo
sĩ.
Sau
đó,
do
lệnh
vua
Constantinô,
Công
Ðồng
Arles
(Pháp)
được
nhóm
họp
để
chống
lại
lạc
giáo
Ðonatô.
Cũng
chính
vị
Hoàng
Ðế
này
triệu
tập
Công
Ðồng
Chung
thứ
nhất
ở
Nicea
(Nikaia)
vào
năm
325.
Bảy
Công
Ðồng
Chung
đầu
tiên
đã
có
một
thẩm
quyền
đặc
biệt:
ngày
nay
Giáo
Hội
Ðông
Phương
và
Tây
Phương
cũng
như
nhiều
người
Tin
Lành
đều
nhìn
nhận.
Tất
cả
bảy
Công
Ðồng
đó
đều
được
triệu
tập
do
hoàng
đế
(hay
nữ
hoàng)
chứ
không
do
Ðức
Giáo
Hoàng:
và
đôi
khi
chống
lại
Ðức
Giáo
Hoàng,
như
Công
Ðồng
Chung
thứ
II
thành
Constantinopla.
Thẩm
quyền
của
những
Công
Ðồng
Chung
đó
dựa
vào
sự
chấp
nhận
của
Giáo
Hội
phổ
quát,
bởi
Giáo
Hội
nhìn
thấy
ở
đó
sự
phản
chiếu
trung
thành
của
Mạc
Khải.
Sau
đây
là
danh
sách:
1.
Công
Ðồng
Nicea
(Nikaia)
năm
325:
thành
phần
tham
dự
gồm
khoảng
300
Giám
Mục
Ðông
Phương,
4
Giám
Mục
Tây
Phương,
với
2
linh
mục
Roma
giữ
chức
vụ
sứ
thần
cho
Ðức
Giáo
Hoàng
Silvester
I.
Công
Ðồng
lên
án
lạc
giáo
Ariô,
và
định
tín
rằng
Ngôi
Lời
đồng
bản
tính
với
Ðức
Chúa
Cha.
2.
Công
Ðồng
Constantinopla
I,
năm
381:
do
Hoàng
Ðế
Theođosiô
triệu
tập.
Khoảng
186
Giám
Mục
Ðông
Phương
tham
dự.
Không
có
một
Giám
Mục
Tây
Phương
nào.
Ðức
Giáo
Hoàng
Ðamasô
không
được
phép
chủ
tọa.
Công
Ðồng
lên
án
lạc
giáo
Maceđôniô,
và
tuyên
bố
thiên
tính
của
Chúa
Thánh
Thần.
3.
Công
Ðồng
Êphesô,
năm
431:
do
Hoàng
Ðế
Theođosiô
II
triệu
tập.
Thành
phần
tham
dự:
khoảng
250
Giám
Mục
Ðông
Phương,
1
Giám
Mục
Tây
Phương
và
1
phó
tế
thành
Carthagô,
cùng
với
3
Sứ
thần
của
Ðức
Giáo
Hoàng
Celestinô
I
(2
Giám
Mục
và
1
linh
mục).
Công
Ðồng
lên
án
2
thủ
lãnh
lạc
giáo:
Nestoriô
và
Pelagiô.
Công
Ðồng
tuyên
bố
Ðức
Maria
là
Mẹ
Thiên
Chúa,
và
xác
định
sự
Ngôi
hiệp
nơi
Chúa
Kitô.
4.
Công
Ðồng
Calceđonia
(Khalkedon),
năm
451.
Hoàng
Ðế
Marcianô
đứng
ra
triệu
tập.
Thành
phần
tham
dự:
có
lẽ
khoảng
600
Giám
Mục
Ðông
Phương,
2
Giám
Mục
Phi
Châu
và
3
Sứ
thần
của
Ðức
Giáo
Hoàng
Lêô
I
(2
Giám
Mục
và
1
linh
mục).
Công
Ðồng
lên
án
thủ
lãnh
lạc
giáo
Eutiches,
và
tuyên
bố
Chúa
Kitô
có
một
ngôi
vị
và
hai
bản
tính.
5.
Công
Ðồng
Constantinopla
II,
năm
553,
do
Hoàng
Ðế
Giustinianô
I
triệu
tập.
Thành
phần
tham
dự:
khoảng
150
Giám
Mục
Ðông
Phương,
8
Giám
Mục
Phi
Châu.
Ðức
Giáo
Hoàng
Vigiliô
không
muốn
tham
dự
(mặc
dầu
Ngài
có
mặt
ở
Constantinopla
cùng
với
16
Giám
Mục
La
tinh).
Công
Ðồng
lên
án
"Ba
Giảng
Thuyết"
tức
các
tác
giả:
Origenes,
Theođoretô
và
Ibas.
6.
Công
Ðồng
Constantinopla
III,
năm
680.
Thành
phần
tham
dự:
165
Giám
Mục
Ðông
Phương,
6
Giám
Mục
Tây
Phương,
và
3
Sứ
thần
của
Ðức
Giáo
Hoàng
Agathon
(2
linh
mục
và
1
phó
tế).
Công
Ðồng
lên
án
lạc
giáo
nhị-tính-nhất-ý
và
dạy
rằng
Chúa
Kitô
có
2 ý
chí.
7.
Công
Ðồng
Nicea
II
(Nikaia),
năm
787.
Hơn
300
Giám
Mục
Ðông
Phương
và
2
Sứ
thần
của
Ðức
Giáo
Hoàng
Hadrianô
I
(1
linh
mục
hạt
trưởng
và
1
linh
mục)
tham
dự.
Công
Ðồng
lên
án
phái
chủ
trương
bác
bỏ
việc
tôn
kính
ảnh
tượng.
Ðối
với
7
Công
Ðồng
vừa
kể
trên,
người
ta
không
đặt
vấn
đề
nghi
ngờ
về
giá
trị.
Nhưng
với
Công
Ðồng
thứ
8
mà
chúng
ta
sắp
nói
đến,
có
nhiều
bất
đồng
ý
kiến.
8.
Công
Ðồng
Constantinopla
IV:
Theo
Công
Giáo,
Công
Ðồng
được
nhóm
họp
năm
870,
do
Hoàng
Ðế
Basiliô
triệu
tập,
có
102
Giám
Mục
Ðông
Phương,
3
Sứ
thần
của
Ðức
Giáo
Hoàng
Hađrianô
II
(2
Giám
Mục
và
1
phó
tế).
Công
Ðồng
lên
án
Ðức
Thượng
Phụ
Photios.
Nhưng
theo
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
Công
Ðồng
này
đã
bị
Công
Ðồng
năm
880
hủy
bỏ,
và
đây
mới
thực
là
Công
Ðồng
Chung
giá
trị.
Sau
đây
chúng
ta
sẽ
kể
đến
những
Công
Ðồng
nhóm
họp
ở
Tây
Phương;
không
có
Giáo
Hội
Ðông
Phương
tham
dự,
trừ
ở
hai
Công
Ðồng
Lyon
và
Firenze
(Florentinô).
9.
Công
Ðồng
Lateranô
I,
năm
1123.
Ðức
Giáo
Hoàng
Callitô
II
triệu
tập,
và
gồm
300
Giám
Mục
Tây
Phương
tham
dự.
Công
Ðồng
bàn
luận
về
vấn
đề
"ban
chức".
10.
Công
Ðồng
Lateranô
II,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Innocentiô
II
triệu
tập
vào
năm
1139.
Khoảng
1,000
nhân
vật
tham
dự.
Công
Ðồng
lên
án
các
giáo
phái
ly
khai,
và
đề
cập
tới
vấn
đề
qui
luật.
11.
Công
Ðồng
Lateranô
III,
năm
1179,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Alexanđrô
III
triệu
tập.
300
Giám
Mục
và
400
giáo
sĩ
tham
dự.
Công
Ðồng
bàn
về
việc
bầu
Giáo
Hoàng,
và
lên
án
lạc
giáo
Albigenses
(hoặc
Cathari).
12.
Công
Ðồng
Lateranô
IV,
năm
1215,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Innocentiô
III
triệu
tập.
Thành
phần
tham
dự:
412
Giám
Mục
và
388
giáo
sĩ.
Công
Ðồng
lên
án
lạc
giáo
Albigeois,
và
các
lạc
giáo
do
P.
de
Vaux
và
do
Joachim
khởi
xướng.
13.
Công
Ðồng
Lyon
I,
năm
1245,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Innocentiô
IV
triệu
tập,
với
sự
tham
dự
của
140
Giám
Mục
và
nhiều
giáo
sĩ.
Công
Ðồng
cách
chức
Hoàng
đế
Frederic
II.
14.
Công
Ðồng
Lyon
II,
năm
1274,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Gregoriô
X
triệu
tập.
Thành
phần
tham
dự:
khoảng
500
Giám
Mục
và
570
giáo
sĩ
(có
Thánh
Tôma
và
Thánh
Bonaventura)
với
Hoàng
Ðế
Ðông
Phương
Michael
Paleologô.
Công
Ðồng
bàn
luận
về
vấn
đề
hiệp
nhất
giữa
Giáo
Hội
Ðông
Phương
và
Tây
Phương.
15.
Công
Ðồng
Vienne,
năm
1321,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Clementê
V
triệu
tập.
Người
ta
không
rõ
thành
phần
tham
dự:
có
người
cho
là
114,
người
khác
bảo
300.
Công
Ðồng
hủy
bỏ
dòng
tu
Ðền
Thờ
và
lên
án
lạc
giáo
do
Lambert
de
Bègue
chủ
xướng.
16.
Công
Ðồng
Constance,
từ
năm
1414
đến
1418,
do
Hoàng
Ðế
Segismunđô
triệu
tập,
với
sự
tham
dự
của
32
Hồng
Y,
183
Giám
Mục,
100
linh
mục
và
350
giáo
sĩ.
Công
Ðồng
bãi
nhiệm
3
Ðức
Giáo
Hoàng
đang
tranh
chấp
nhau,
chấm
dứt
tình
trạng
ly
khai
ở
Tây
Phương,
lên
án
Wiclef
và
Huss.
Sau
hết,
Công
Ðồng
chọn
Giáo
Hoàng
Martinô
V.
17.
Công
Ðồng
Firenze,
từ
năm
1438
đến
1445,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Eugentiô
IV
triệu
tập.
Ðều
tiên
Công
Ðồng
nhóm
ở
Basel,
sau
rời
về
Ferrara
và
cuối
cùng
ở
Firenze.
Thành
phần
tham
dự:
150
Giám
Mục
Tây
Phương,
với
30
Giám
Mục
Ðông
Phương.
Các
Giám
Mục
tham
dự
ký
một
bản
công
thức
hiệp
nhất.
18.
Công
Ðồng
Lateranô
V,
năm
1512-1517,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Giuliô
II
triệu
tập,
gồm
115
Giám
Mục
Tây
Phương.
Công
Ðồng
bàn
về
vấn
đề
canh
tân
Giáo
Hội
và
lên
án
những
nhà
tân
thuyết
Aristoteles
(Neo-aristotelismô).
19.
Công
Ðồng
Triđen,
từ
năm
1545
đến
1563,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
III
triệu
tập.
Lúc
đầu
70
Giám
Mục
tham
dự
và
lúc
cuối
có
252
Giám
Mục,
với
nhiều
giáo
sĩ
khác.
Công
Ðồng
lên
án
giáo
phái
Tin
Lành
và
tuyên
bố
nhiều
định
tín
khác.
Công
Ðồng
ra
lệnh
canh
tân
Giáo
Hội.
20.
Công
Ðồng
Vaticanô
I,
năm
1870,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
IX
triệu
tập,
với
sự
tham
dự
của
747
Giám
Mục.
Công
Ðồng
lên
án
thuyết
duy
lý
và
thuyết
chủ
trương
Giáo
Hội
Pháp
độc
lập.
Công
Ðồng
tuyên
bố
tính
cách
bất
khả
ngộ
của
Ðức
Giáo
Hoàng.
21.
Công
Ðồng
Vaticanô
II,
do
Ðức
Gioan
XXIII
triệu
tập
và
kết
thức
ở
thời
Ðức
Phaolô
VI.
Ngoài
những
Công
Ðồng
Chung
kể
trên,
chúng
ta
biết
còn
có
nhiều
Công
Ðồng
riêng
ảnh
hưởng
lớn
lao
trong
Giáo
Hội,
như
Công
Ðồng
Cathagô
(do
Thánh
Cyprianô
khởi
xướng
năm
256)
và
Công
Ðồng
Toleđô.
Trong
thời
Trung
Cổ,
các
Công
Ðồng
và
Thượng
Hội
Ðồng
được
triệu
tập
rất
thường.
II.
Công
Ðồng
Vaticanô
II
A.
Vaticanô
II,
một
ý
nghĩ
cá
nhân
của
Ðức
Gioan
XXIII:
Nguồn
tin
Ðức
Giáo
Hoàng
Gioan
XXIII
loan
báo
triệu
tập
Công
Ðồng
đã
làm
cho
toàn
thế
giới
ngạc
nhiên;
hầu
như
không
một
ai
chờ
đón
và
nghĩ
tới
sự
kiện
đó.
Lúc
đó
là
ngày
25
tháng
Giêng
năm
1959.
Ðức
Giáo
Hoàng
và
một
vài
Hồng
Y
đến
tham
dự
một
nghi
lễ
tại
Vương
Cung
Thánh
Ðường
Thánh
Phaolô
ngoại
thành.
Sau
buổi
lễ,
trong
một
phòng
khách
của
tu
viện
cạnh
thánh
đường,
khi
ngỏ
lời
với
các
Hồng
Y,
Ðức
Thánh
Cha
nói
Ngài
đã
có
ý
định
triệu
tập
một
Công
Ðồng
Chung,
một
Thượng
Hội
Ðồng
giáo
phận
Roma
và
muốn
cải
tổ
giáo
luật.
Lúc
đó,
người
ta
bắt
đầu
nói
đến
một
"Công
Ðồng
Hiệp
Nhất"
mọi
Kitô
hữu;
thực
vậy
chính
Ðức
Thánh
Cha
muốn
Công
Ðồng
trở
thành
một
lời
mời
gọi
đến
hiệp
nhất.
Cũng
ngày
25
tháng
Giêng
năm
1959,
Ðức
Gioan
XXIII
bế
mạc
tuần
lễ
hiệp
nhất,
và
bốn
ngày
sau
Ngài
đã
tuyên
bố
về
Công
Ðồng
như
sau:
"Chúng
ta
hãy
hiệp
nhất
với
nhau
và
chúng
ta
hãy
chấm
dứt
mọi
bất
hòa".
Tinh
thần
hiệp
nhất
đã
trở
nên
niềm
hy
vọng
và
là
động
lực
hướng
dẫn
cho
Công
Ðồng,
cũng
như
sau
này
sẽ
là
một
trong
những
thành
quả
hiển
nhiên
nhất
của
Công
Ðồng.
Ý
nghĩ
triệu
tập
Công
Ðồng
là
một
linh
ứng
đặc
biệt
của
Ðức
Gioan
XXIII.
Ngài
không
thổ
lộ
với
ai,
cũng
như
chưa
có
ai
đề
nghị
cho
ngài
ý
tưởng
đó.
Hơn
thế,
lúc
ấy
người
ta
nghĩ
rằng
các
Công
Ðồng
sẽ
không
còn
cần
thiết
nữa.
Sau
Công
Ðồng
Vaticanô
I
với
định
tín
ơn
bất
khả
ngộ
của
Ðức
Giáo
Hoàng,
nhiều
người
đã
ngầm
chấp
nhận
"luận
đề"
của
Bismark
cho
rằng
từ
nay
Công
Ðồng
trở
nên
vô
ích.
Và
trong
suốt
thế
kỷ
sau
Công
Ðồng
Vaticanô
I,
uy
quyền
Giáo
Hoàng
vươn
dần
tới
chỗ
độc
tôn
đến
nỗi
ai
cũng
công
nhận
rằng
ngay
cả
quyền
giáo
huấn
thông
thường
của
Giáo
Hoàng
vẫn
là
"mực
thước
của
đức
tin"
cho
tín
hữu
thực
hành.
Bởi
thế,
do
ơn
quan
phòng,
Ðức
Gioan
XXIII,
"vị
Giáo
Hoàng
chuyển
tiếp",
như
người
ta
vẫn
gọi
thế,
đã
đưa
Giáo
Hội
thoát
xa
"duy
giáo
hoàng
thuyết",
để
đến
gần
với
"nguồn
Phúc
Âm"
hơn.
B.
Tổng
luận
về
Công
Ðồng
Vaticanô
II:
Vaticanô
I
phải
chấm
dứt
vào
ngày
20
tháng
10
năm
1870,
khi
giáo
phận
Roma
bị
sát
nhập
vào
vương
quốc
Ý.
Công
Ðồng
đành
đình
hoãn
vô
thời
hạn.
Chương
trình
các
vấn
đề
bàn
cãi
còn
dang
dỡ.
Tối
thượng
quyền
và
ơn
bất
khả
ngộ
của
Ðức
Giáo
Hoàng
là
những
vấn
đề
không
nằm
trong
chương
trình
ban
đầu,
lại
được
Công
Ðồng
định
tín
trước;
còn
nhiều
tiết
mục
quan
trọng
khác
về
Giáo
Hội,
nhất
là
về
vấn
đề
truyền
giáo,
về
nhiệm
vụ
các
Giám
Mục
v.v...
chưa
được
bàn
cãi
tới.
Vì
thế,
Công
Ðồng
Vaticanô
I
là
một
Công
Ðồng
đã
ngưng
trệ
nhưng
chưa
hoàn
tất.
Ðức
Piô
IX,
Ðức
Leô
XIII
và
cả
Ðức
Piô
X
hình
như
đã
không
nghĩ
tới
việc
tiếp
tục
và
hoàn
tất
Công
Ðồng.
Sau
trận
đại
chiến,
Ðức
Piô
XI
đã
quan
tâm
đến
vấn
đề:
trong
Thông
Ðiệp
đầu
tiên
Ubi
arcano
(23-12-1922),
ngài
có
đề
cập
tới
vấn
đề
tiếp
tục
tiến
hành
công
việc
còn
dang
dỡ
của
Công
Ðồng
(AAS
14
(1922)
692).
Ngài
đã
đề
cử
một
ủy
ban
để
tìm
hiểu
các
văn
kiện
của
Công
Ðồng
Vaticanô
I
và
tìm
cách
thức
tiến
hành.
Rồi
đến
Ðức
Piô
XII,
ngay
khi
vừa
nhận
chức
Giáo
Hoàng,
ngài
đã
được
Hồng
Y
Ruffini
đề
nghị
tiếp
tục
Công
Ðồng.
Ðã
có
một
nhóm
chuyên
viên
làm
việc
trong
nhiều
năm
với
mục
đích
chuẩn
bị
Công
Ðồng,
cho
tới
khi
Ðức
Piô
XII
băng
hà.
Ðức
Gioan
XXIII
đã
tiếp
tục.
Tuy
nhiên,
điều
mới
mẻ
nơi
ngài
là
ý
định
triệu
tập
Công
Ðồng
không
phải
phát
sinh
từ
việc
học
hỏi
các
tài
liệu,
nhưng
từ
những
nhu
cầu
cấp
bách
thực
tế
của
Giáo
Hội.
Và
đó
cũng
là
hướng
đi
đặc
biệt
của
Vaticanô
II.
Thông
thường,
Công
Ðồng
là
một
giải
đáp
của
Giáo
Hội
trước
một
khủng
hoảng
rõ
ràng,
chẳng
hạn
một
lạc
giáo
hay
một
cuộc
ly
khai
v.v...
Thế
nhưng
vào
năm
1959,
người
ta
có
cảm
tưởng
rằng
Giáo
Hội
không
phải
bận
tâm
về
một
khó
khăn
nào:
không
có
lạc
giáo,
không
có
bách
hại.
Hơn
thế,
uy
quyền
Giáo
Hội
lớn
mạnh
hơn
lúc
nào
hết.
Tuy
nhiên,
phải
nhìn
thẳng
vào
bề
mặt
của
Giáo
Hội,
người
ta
mới
nhận
thấy
rằng
hơn
bao
giờ
hết.
Giáo
Hội
đang
đương
đầu
với
những
vấn
nạn
cực
kỳ
khó
khăn.
Từ
Vaticanô
I,
thế
giới
đã
đổi
thay
còn
nhanh
hơn
19
thế
kỷ
qua.
Cuộc
cách
mạng
khoa
học
và
kỹ
thuật
đã
có
hấp
lực
hướng
về
viễn
ảnh
tương
lai,
mà
đối
với
họ,
hình
như
đang
ở
trong
tầm
tay.
Con
người
đặt
trọn
niềm
hy
vọng
của
mình
nơi
thế
giới
vật
chất
này,
vì
đối
với
họ,
những
hứahẹn
của
các
tôn
giáo
đều
tan
vỡ.
Nhưng
đồng
thời
và
hơn
bao
giờ
hết,
con
người
lại
cảm
thấy
luôn
bị
đe
dọa
do
chính
những
khám
phá
của
họ:
hiểm
nguy
tiêu
diệt
của
bom
nguyên
tử,
bầu
khí
thiếu
lành
mạnh
và
nhiễm
độc
của
môi
trường
văn
minh,
chiến
tranh
liên
lỉ...
Ðang
khi
đó,
các
Kitô
hữu,
thành
phần
thiểu
số
của
thế
giới,
lại
chia
rẽ
hơn
bao
giờ
hết.
Giáo
Hội
Công
Giáo
đã
mất
đi
những
cơ
hội
truyền
giáo
hứa
hẹn
nhất,
và
đau
đớn
vì
những
rạn
nứt
nội
bộ
không
ngừng
xảy
ra
nơi
các
xứ
Kitô
giáo
lâu
đời.
Vì
sự
hiệp
nhất
Kitô
hữu
đã
trở
nên
hết
sức
cần
thiết.
Nhưng
sự
hiệp
nhất
không
thể
đương
nhiên
thành
tựu,
mà
trái
lại
chính
người
Kitô
hữu
phải
bắt
đầu
và
khởi
sự
đi
dần
tới
hiệp
nhất.
Bởi
vậy,
cần
phải
thay
đổi
nhiều
và
"tự
cải
hóa"...
Những
vấn
đề
ấy
là
những
lý
do
đủ
để
khai
mở
một
Công
Ðồng.
1.
Giai
đoạn
tiền
chuẩn
bị
(từ
17-5-1959
đến
5-6-1960)
Công
Ðồng
bao
giờ
cũng
là
công
việc
rất
quan
trọng,
cho
nên
ngay
cả
công
cuộc
chuẩn
bị,
người
ta
cũng
phải
sửa
soạn
trước.
Do
đó
có
giai
đoạn
được
gọi
là
"tiền
chuẩn
bị".
Trong
giai
đoạn
này,
người
ta
có
thể
theo
hai
phương
pháp
làm
việc:
hoặc
tiếp
tục
công
trình
của
Vaticanô
I,
hay
khởi
sự
từ
những
vấn
đề
mới.
Trong
phương
pháp
thứ
hai,
người
ta
còn
có
thể
bàn
luận
những
đề
mục
do
Tòa
Thánh
Roma
đề
nghị
hay
hỏi
ý
kiến
các
Giám
Mục
về
những
đề
mục.
Phương
pháp
thứ
hai
được
áp
dụng
cho
giai
đoạn
này
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II.
Ðể
thực
hiện
việc
này
Ðức
Gioan
XXIII
đã
đề
cử
một
Ủy
Ban
do
Hồng
Y
Tarđini
làm
chủ
tịch.
Và
đây
là
lần
đầu
tiên
trong
lịch
sử,
các
Nghị
Phụ
Công
Ðồng
tương
lai
được
tham
khảo
ý
kiến
(ở
Công
Ðồng
Vaticanô
I,
chỉ
có
35
Giám
Mục
được
hỏi
ý
kiến).
Các
Ðại
Học
cũng
được
thăm
dò.
Hơn
thế,
một
sự
kiện
chưa
từng
có
là
không
có
vấn
đề
giới
hạn
các
đề
mục.
Con
số
trả
lời
lên
tới
2,109,
làm
thành
8
quyển.
Tổng
kết
gồm
8,972
đề
nghị.
Ðể
khai
triển
những
đề
nghị
trên,
Ðức
Giáo
Hoàng
ra
tự
sắc
Superno
Dei
nutu
ngày
5-6-1960,
ngày
Lễ
Hiện
Xuống,
trong
đó,
ngài
thành
lập
12
Ủy
Ban
và
3
Văn
Phòng.
Các
Ủy
Ban
này
tương
đương
với
những
Thánh
Bộ
của
Giáo
Triều
Roma,
cũng
có
một
bộ
trưởng
tướng
ứng.
Ủy
Ban
Trung
Ương
do
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
làm
Chủ
Tịch,
và
Tổng
Thư
Ký
lúc
đó
là
Ðức
Cha
Felici,
sau
này
trở
thành
Tổng
Thư
Ký
của
Công
Ðồng.
Thành
phần
các
Ủy
Ban
được
tuyển
chọn
trong
toàn
thế
giới,
mặc
dầu
phần
đông
thuộc
Âu
Châu,
vì
lý
do
tài
chánh
và
kỹ
thuật.
Còn
về
tên
gọi
của
Công
Ðồng,
người
ta
bàn
cãi
không
biết
đó
có
phải
là
một
Công
Ðồng
khác,
hay
là
kế
tiếp
Vaticanô
I.
Cuối
cùng,
vào
ngày
7
tháng
12
năm
1959,
Ðức
Giáo
Hoàng
chính
thức
đặt
tên
là
Vaticanô
II.
2.
Quá
trình
giai
đoạn
chuẩn
bị
(từ
14-11-1960
đến
11-10-1962)
Ngày
14-11-1960,
Ðức
Giáo
Hoàng
đọc
diễn
văn
khai
mạc
giai
đoạn
chuẩn
bị
trước
33
Hồng
Y
và
hàng
trăm
Giám
Mục:
mục
đích
của
Công
Ðồng
là
"đem
lại
chân
giá
trị
cho
tư
tưởng
con
người,
cũng
như
cho
đời
sống
nhân
loại
và
Kitô
giáo",
trong
một
tinh
thần
biết
tìm
về
nguồn
và
biết
vâng
theo
Chúa
Thánh
Thần
(AAS
59
(1960)
1004-1014).
Ngay
trước
khi
khai
mạc,
các
Ủy
Ban
đã
phải
làm
việc
ngày
đêm.
Họ
lo
soạn
thảo
các
lược
đồ
hội
nghị.
Ðể
hoàn
thành
một
lược
đồ,
các
thành
phần
của
Ủy
Ban
phải
họp
lại
với
nhau,
dưới
quyền
chủ
tọa
của
một
Hồng
Y;
bên
họ
luôn
có
những
nhà
chuyên
môn
tài
giỏi.
Trong
8
quyển
chứa
đựng
các
đề
nghị,
họ
phải
chọn
lựa
ra
những
chất
liệu
căn
bản,
dựa
theo
tầm
quan
trọng
và
theo
con
số
những
người
đề
nghị
v.v...
Sau
đó,
họ
bàn
cãi
để
đi
đến
chấp
nhận
cách
tổng
quát
những
đề
tài
và
những
tiêu
chuẩn
làm
việc.
Thế
rồi,
để
tiến
hành
công
việc,
các
chất
liệu
lại
được
phân
chia
thành
những
tiểu
đề
do
các
tiểu
ban
hoặc
các
nhóm
chuyên
viên
đảm
trách.
Các
nhóm
và
tiểu
ban
này
một
lần
nữa
sẽ
đúc
kết
các
tiểu
dề
và
phân
thành
chương,
rồi
cuối
cùng
soạn
thành
một
bản
sơ
thảo.
Bản
sơ
thảo
này
sẽ
được
chính
tiểu
ban
soạn
thảo
bàn
cãi
một
lần
nữa,
tu
bổ
lại,
hoặc
có
khi
loại
bỏ.
Sau
đó,
tiểu
ban
sẽ
soạn
lại
một
sơ
thảo
mới.
Khi
tiểu
ban
đã
đồng
ý,
bản
sơ
thảo
sẽ
được
cho
in
và
gởi
đến
mọi
thành
phần
của
Ủy
Ban
và
các
cố
vấn;
những
vị
này
sẽ
gởi
nhận
xét
đến
tiểu
ban.
Một
số
các
cố
vấn;
những
vị
này
sẽ
gởi
nhận
xét
đến
tiểu
ban.
Một
số
các
nhà
chuyên
môn
sẽ
tìm
hiểu
các
nhận
xét
đó,
sắp
xếp
và
chuyển
về
cho
các
thành
phần
tiểu
ban.
Tiểu
ban
sẽ
xem
xét
các
nhận
xét,
chấp
thuận
hay
loại
bỏ.
Cuối
cùng
lược
đồ
sẽ
được
Ủy
Ban
nhóm
họp
lại
bàn
cãi
tự
do
và
bỏ
phiếu
quyết
định.
Một
lược
đồ
đã
được
Ủy
Ban
chấp
thuận
còn
phải
đệ
trình
lên
Ủy
Ban
Trung
Ương.
Ủy
Ban
này
do
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
chủ
tọa,
được
coi
như
một
tiểu
Công
Ðồng:
gồm
nhiều
Hồng
Y,
Thượng
Phụ
và
Giám
Mục...
của
57
quốc
gia.
Lại
có
một
tiểu
ban
đặc
biệt
chuyên
xem
xét
các
lược
đồ
thuộc
các
Ủy
Ban
khác
nhau
để
tránh
sự
lập
lại
chất
liệu.
Khi
một
lược
đồ
được
đệ
trình,
Ủy
Ban
Trung
Ương
sẽ
cẩn
thận
duyệt
xét,
để
xem
có
đáp
ứng
đủ
với
những
tiêu
chuẩn
đã
ấn
định
hay
không.
Sau
đó
Ủy
Ban
sẽ
bỏ
phiếu:
đồng
ý,
không
đồng
ý,
hay
đồng
ý
với
vài
sửa
đổi.
Nếu
hơn
một
phần
ba
không
đồng
ý,
lược
đồ
bị
loại
bỏ;
và
Ủy
Ban
có
trách
nhiệm
phải
soạn
thảo
một
lược
đồ
khác.
Nếu
được
chấp
thuận,
lược
đồ
sẽ
được
đệ
trình
lên
Ðức
Giáo
Hoàng,
và
chính
Ngài
sẽ
quyết
định
cho
đem
trình
bày
với
các
Nghị
Phụ
ở
Công
Ðồng.
Thành
quả
của
những
công
việc
lâu
dài
này
là
70
dự
án
được
chấp
thuận,
làm
thành
2,060
trang
giấy
in.
Tuy
nhiên,
các
chất
liệu
vẫn
còn
quá
bao
la,
nên
đòi
hỏi
phải
lược
tóm
hơn
nữa.
3.
Kỳ
họp
đầu
tiên
của
Công
Ðồng
(từ
11-10
đến
8-12-1962)
Trong
Tông
Hiến
Humanae
Salutis
(ngày
25-12-1961),
Ðức
Giáo
Hoàng
quyết
định
triệu
tập
Công
Ðồng
vào
năm
1962;
và
ngày
giờ
chính
xác
để
khai
mạc
được
ấn
định
trong
Tự
Sắc
Concilium
(ngày
2-2-1962).
Có
tất
cả
2,904
Nghị
Phụ
được
mời
gọi
tham
dự,
và
con
số
các
Nghị
Phụ
có
mặt
lên
rất
cao
(trong
các
lần
họp,
nhiều
nhất
là
2,449
vị
và
ít
nhất
là
2,086
vị
tham
dự).
Vài
ngày
trước
khi
khai
mạc,
Ðức
Thánh
Cha
đã
hành
lương
đến
Loretto
và
Assisi
(vào
ngày
4-10-1962)
để
cầu
xin
Ơn
Trên.
Trong
bài
diễn
văn
khai
mạc,
Ðức
Gioan
XXIII
đã
đưa
ra
những
tôn
chỉ
hướng
dẫn
Công
Ðồng:
cởi
mở
với
thế
giới;
thông
cảm
chứ
không
lên
án
tuyệt
thông;
xót
thương
hơn
là
khắt
khe;
nhận
chân
rằng
thế
giới
cũng
rất
nhậy
cảm,
không
chấp
nhận
sai
lầm:
loan
truyền
Phúc
Âm
với
niềm
hy
vọng
hơn
là
với
tâm
trạng
của
"những
tiên
tri
loan
báo
sự
dữ".
Khoảng
thời
gian
từ
ngày
13
đến
20-10,
các
Nghị
Phụ
tuyển
chọn
những
thành
phần
các
ủy
Ban
Công
Ðồng.
Mỗi
Ủy
Ban
gồm
16
thành
phần
tuyển
chọn
và
9
thành
phần
do
Ðức
Giáo
Hoàng
chỉ
định.
Vị
chủ
tịch
chính
là
Hồng
Y
chủ
tịch
của
Ủy
Ban
trong
giai
đoạn
chuẩn
bị,
do
Ðức
Giáo
Hoàng
đề
cử.
Có
tất
cả
10
Ủy
Ban,
cộng
với
Hội
Ðồng
chủ
tịch
điều
hành,
Ủy
Ban
đặc
vụ
và
Văn
Phòng
thống
nhất.
Tất
cả
các
thành
phần
là
273
Nghị
Phụ:
54
vị
thuộc
Âu
Châu,
66
vị
thuộc
Mỹ
Châu,
38
vị
thuộc
Á
Châu,
12
vị
thuộc
Phi
Châu
và
3
vị
thuộc
Ðại
Dương
Châu.
Ngày
20
tháng
10,
trong
phiên
họp
khoáng
đại
lần
thứ
ba,
Công
Ðồng
đã
gởi
"một
sứ
điệp
cho
thế
giới".
Sau
đó,
các
Nghị
Phụ
bắt
đầu
công
việc
theo
các
lược
đồ
đề
nghị.
Bảy
lược
đồ
đã
được
phân
phát
cho
các
Nghị
Phụ,
và
các
Ngài
bắt
đầu
lược
đồ
về
Phụng
Vụ.
Những
cuộc
bàn
luận
không
phải
lúc
nào
cũng
dễ
dàng,
vì
có
nhiều
giờ
phút
thật
căng
thẳng,
giằng
co.
Cuối
cùng
vào
ngày
14
tháng
11
lược
đồ
đầu
tiên
này
được
bỏ
phiếu
và
được
chấp
thuận
với
2,162
phiếu
thuận,
và
46
phiếu
chống.
Công
Ðồng
đã
đạt
được
một
bước
thắng
lợi.
Ngay
sau
đó,
cuộc
bàn
cãi
được
tiếp
tục
với
lược
đồ
về
các
nguồn
mạc
khải.
Ðây
là
vấn
đề
gai
góc
hơn
vì
tầm
quan
trọng
của
nó
trong
lãnh
vực
thần
học.
Có
một
nguồn
hay
hai
nguồn?
Ðó
là
vấn
đề,
và
thực
tế
hai
trường
phái
thần
học
đều
phải
đương
đầu
trước
khó
khăn
của
quan
niệm
về
"mạc
khải",
về
"chân
lý",
về
"linh
ứng",
về
"thánh
truyền"
và
về
những
tương
quan
của
chúng.
Các
ý
kiến
bênh
vực
hay
chống
đối
đã
được
phát
biểu
trong
bầu
không
khí
thật
sôi
động
và
căng
thẳng.
Nhưng
rồi
lược
đồ
bị
đa
số
bác
bỏ
và
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
phải
gởi
trả
về
cho
Ủy
Ban
liên
hệ.
Ngày
23
tháng
11,
các
Nghị
Phụ
đề
cập
tới
lược
đồ
về
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội,
nhưng
cũng
bị
gởi
trả
về
cho
ủy
Ban
soạn
thảo
để
sửa
lại.
Lược
đồ
về
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu
cũng
bị
bác
bỏ,
lý
do
là
vì
lược
đồ
này
chỉ
được
Ủy
Ban
phụ
trách
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
soạn
thảo,
đang
khi
đáng
lý
nó
thuộc
thẩm
quyền
của
Ủy
Ban
về
hiệp
nhất.
Và
chính
Ủy
Ban
này
cũng
đang
soạn
thảo
một
lược
đồ.
Lại
nữa,
một
Ủy
Ban
thần
học
khác
lại
cũng
đề
cập
đến
vấn
đề
hiệp
nhất
này
trong
một
lược
đồ
về
Giáo
Hội.
Cuối
cùng,
các
Nghị
Phụ
bỏ
phiếu
tổng
hợp
cả
ba
lại
thành
một
lược
đồ
duy
nhất
về
vấn
đề
này.
Vào
cuối
tháng
11,
các
Nghị
Phụ
lại
nhận
được
một
lược
đồ
về
Giáo
Hội
(123
trang),
gồm
cả
một
chương
về
Ðức
Trinh
Nữ
Maria.
Một
số
Nghị
Phụ
muốn
bàn
luận
ngay
về
chương
này;
nhưng
vì
các
lý
do
hiệp
nhất
và
giáo
hội
học,
lược
đồ
về
Giáo
Hội
được
khởi
sự
bàn
cãi
ngay
từ
chương
đầu
vào
ngày
1
tháng
12
năm
1962.
Cuộc
bàn
cãi
mang
lại
nhiều
lợi
ích
và
chuẩn
bị
cho
công
việc
giữa
hai
kỳ
họp.
Ở
cuối
kỳ
họp,
các
Nghị
Phụ
nhận
thấy
rằng
chất
liệu
còn
quá
bao
la,
số
lược
đồ
lại
tăng
lên
tới
73,
và
nếu
so
sánh
với
tất
cả
những
Công
Ðồng
trước,
số
trang
tài
liệu
của
các
lược
đồ
đã
nhiều
hơn
gấp
ba
lần.
Vì
thế,
Ðức
Giáo
Hoàng
quyết
định
rút
lại
còn
20
lược
đồ.
Các
Nghị
Phụ
có
chín
tháng
để
lo
đúc
kết
các
lược
đồ
này
và
soạn
thảo
công
việc
cho
kỳ
họp
tới.
Nhưng
trong
thời
gian
đó,
Ðức
Gioan
XXIII,
Người
tôi
tớ
trung
thành
của
Thiên
Chúa,
đã
được
cất
về
Trời.
Ðức
Hồng
Y
Montini
lên
ngôi
Giáo
Hoàng
kế
vị,
lấy
danh
hiệu
Phaolô
VI.
4.
Kỳ
họp
thứ
hai
(từ
29-9
đến
4-12-1963)
Có
những
dư
luận
đối
nghịch
nhau
về
vị
Tân
Giáo
Hoàng.
Nhiều
người
cho
rằng
Ngài
"bảo
thủ",
một
số
khác
tiên
đoán
Ngài
thuộc
phái
"cấp
tiến".
Người
ta
có
cảm
tưởng
những
hướng
đi
đầu
tiên
của
triều
đại
Giáo
Hoàng
của
ngài
nằm
trong
con
đường
"bảo
thủ".
Nhưng
về
sau,
mọi
người
mới
nhận
ra
tinh
thần
của
ngài
vượt
trên
mọi
thành
kiến
và
còn
tiến
xa
hơn
cả
Ðức
Gioan
XXIII:
Ngài
cải
tổ
lại
các
qui
tắc
của
Công
Ðồng
để
đem
đến
nhiều
hiệu
năng
hơn;
Ngài
mạnh
dạn
tuyên
bố
chỉnh
đốn
lại
giáo
triều
Roma
vào
ngày
21-9-1963,
đó
là
điều
Ðức
Gioan
XXIII
không
dám
nghĩ
tới.
Trong
bài
diễn
văn
khai
mạc,
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
đã
cụ
thể
hóa
chương
trình
làm
việc
của
Công
Ðồng;
ngài
tuyên
bố:
"Thánh
Công
Ðồng
phải
đào
sâu
giáo
lý
về
chức
Giám
Mục,
về
những
nhiệm
vụ
và
những
liên
lạc
của
chức
vụ
đó
với
Phêrô".
Giáo
lý
cần
trở
nên
thiết
thực
và
thích
ứng
hơn.
Ngài
nói
đến
"những
anh
em
bất
hòa
(chứ
không
phải
"ly
khai")
là
những
người
được
kêu
mời
để
trở
nên
đồng
tâm
nhất
trí
với
Giáo
Hội";
và
một
điều
được
xem
là
táo
bạo,
mới
lạ
chưa
từng
có
từ
bao
nhiêu
thế
kỷ
qua
đó
là
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
lên
tiếng
cầu
xin
sự
tha
thứ
của
Thiên
Chúa
và
của
những
anh
em
bất
hòa
này
vì
những
lỗi
lầm
của
Giáo
Hội
Roma
trong
việc
chia
rẽ
Kitô
giáo.
Phiên
họp
bắt
đầu
với
những
bàn
cãi
về
lược
đồ
Giáo
Hội.
Lược
đồ
được
chấp
thuận
như
là
nền
tảng
cho
các
cuộc
tranh
luận
sau
này,
với
2,301
phiếu
thuận
và
43
phiếu
chống.
Trong
suốt
thời
gian
tranh
luận,
phiên
họp
đã
có
những
lúc
thật
căng
thẳng,
những
cuộc
bênh
vực
cũng
như
những
cuộc
chống
đối
đều
rất
dữ
dội,
đến
nỗi
lúc
đó
người
ta
gọi
là
"cơn
sốt
tháng
10".
Sau
cùng,
vào
cuối
tháng
10,
các
Nghị
Phụ
bỏ
phiếu
quyết
định
về
"vấn
đề
Ðức
Maria":
lược
đồ
về
Ðức
Trinh
Nữ
được
sát
nhập
vào
lược
đồ
về
Giáo
Hội
với
1,114
phiếu
thuận
và
1,074
phiếu
chống.
Ngày
5
tháng
11,
lược
đồ
về
"các
Giám
Mục
và
sự
điều
khiển
giáo
phận"
được
đưa
ra
bàn
luận.
Khái
niệm
và
sự
thực
thi
"cộng
đoàn
tính
của
các
Giám
Mục"
đã
gây
ra
nhiều
cuộc
tranh
luận
sôi
nổi.
Rồi
từ
ngày
18
đến
21
tháng
11,
các
Nghị
Phụ
đi
đến
một
vấn
đề
tế
nhị,
quan
trọng
và
sôi
nổi
nhất:
vấn
đề
hiệp
nhất.
Chương
về
những
người
Do
Thái
do
Ðức
Hồng
Y
Bea
viết
đã
bị
các
Nghị
Phụ
Ả
Rập
chống
đối
mãnh
liệt.
Chương
về
tự
do
tôn
giáo,
được
Ðức
Cha
De
Smedt
trình
bày
khéo
léo,
cũng
là
đối
tượng
của
cuộc
bàn
cãi
sôi
nỗi
nhất.
Trong
thời
gian
đó,
Sắc
Lệnh
về
các
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội
và
những
đề
nghị
tu
chỉnh
của
Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
được
bỏ
phiếu.
Ngày
4
tháng
12,
sau
Thánh
Lễ,
các
Nghị
Phụ
đã
bỏ
phiếu
và
cả
hai
đều
được
chấp
thuận.
Sau
đó
Ðức
Thánh
Cha
chính
thức
công
bố
các
văn
kiện
được
chấp
thuận.
Trước
đó
theo
luật
qui
định
thì
công
thức
ban
hành
sẽ
là:
"Ta
ra
sắc
lệnh,
thiết
lập
và
phê
chuẩn...
với
sự
chấp
thuận
của
Thánh
Công
Ðồng"
(kh
46).
Như
thế
có
nghĩa
là
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
công
bố
và
Công
Ðồng
chỉ
có
việc
chấp
nhận,
và
như
vậy
"cộng
đoàn
tính"
của
các
Giám
Mục
vẫn
còn
là
một
vấn
nạn.
Bởi
đó,
Ðức
Phaolô
VI
đã
sử
dụng
một
công
thức
khác:
"Tất
cả
và
từng
điều
được
ban
bố
trong
Hiến
Chế...
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và,
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính...
Chúng
Tôi
phê
chuẩn...".
Ðó
là
một
bước
tiến
biểu
lộ
tính
cách
cộng
đoàn
của
các
Giám
Mục.
Cho
tới
cuối
kỳ
họp
lần
thứ
hai
này,
chương
trình
dự
định
vẫn
chưa
được
hoàn
thành.
Bốn
lược
đồ
về
Giáo
Hội,
về
Giám
Mục,
về
Giáo
Dân
và
về
Hiệp
Nhất
kéo
dài
từ
kỳ
họp
đầu
tiên
và
cho
đến
kỳ
họp
này
vẫn
còn
nhiều
phần
chưa
được
giải
quyết.
5.
Giai
đoạn
giữa
kỳ
họp
thứ
hai
và
kỳ
họp
thứ
ba
Vào
cuối
kỳ
họp
thứ
hai
người
ta
có
cảm
tưởng
Công
Ðồng
như
thất
bại.
Và
cuộc
hành
hương
của
Ðức
Giáo
Hoàng
đến
Palestina
ngày
4
và
5
tháng
1
năm
1964,
đối
với
nhiều
người,
đó
là
một
chuyến
đi
nhằm
thoái
thác
công
trình
dang
dở.
Tuy
nhiên,
thực
sự
thì
lúc
đó
tình
trạng
phải
được
coi
là
đáng
lạc
quan
hơn.
Dĩ
nhiên,
còn
rất
nhiều
công
việc
phải
làm,
và
các
Nghị
Phụ
bắt
đầu
thực
hiện
chương
trình
mà
người
ta
gọi
là
"Dopfner",
và
đó
cũng
chính
là
ý
kiến
trước
kia
của
Ðức
Hồng
Y
Montini.
Theo
chương
trình
đó,
tất
cả
các
lược
đồ
của
Công
Ðồng
sẽ
được
bố
cục
lại
dựa
theo
một
trục
chính
là
Giáo
Hội.
Trong
thực
tế,
các
Nghị
Phụ
vẫn
giữ
nguyên
các
lược
đồ
quan
trọng
như
lược
đồ
về
Giáo
Hội,
Giám
Mục,
Giáo
Dân,
Mạc
Khải,
Hiệp
Nhất
và
"Lược
đồ
XIII"
rất
nổi
tiếng.
Những
lược
đồ
khác
đều
được
rút
gọn
thành
những
đề
mục
ngắn.
Các
ủy
Ban,
nhất
là
Ủy
Ban
Thần
Học,
đã
làm
việc
cách
tuyệt
hảo,
đã
cộng
tác
với
nỗ
lực
của
Ðức
Giáo
Hoàng
để
đem
lại
can
đảm
và
hy
vọng
cho
Công
Ðồng
(diễn
văn
của
Ðức
Giáo
Hoàng
cho
hàng
Giám
Mục
Ý
ngày
14-3-1964,
và
Thông
điệp
Ecclesiam
suam).
6.
Kỳ
họp
thứ
ba
(từ
14-9
đến
21-11-1964)
Kỳ
họp
được
khai
mạc
bằng
một
Thánh
Lễ
đồng
tế,
là
kết
quả
đầu
tiên
của
việc
canh
tân
phụng
vụ.
Trong
bài
diễn
văn
khai
mạc,
Ðức
Thánh
Cha
một
lần
nữa
xác
quyết
giáo
lý
về
tính
cách
cộng
đoàn
của
Giám
Mục.
Qui
luật
của
Công
Ðồng
lại
được
sửa
đổi
cho
thích
hợp
trong
việc
thẩm
định
quyền
của
các
Nghị
Phụ
điều
hành.
Các
Nghị
Phụ
phải
báo
trước
5
ngày
những
ý
kiến
muốn
phát
biểu
trong
các
phiên
họp,
với
mục
đích
tránh
những
ý
kiến
lập
lại;
các
Hồng
Y
cũng
mất
đặc
ân
phát
biểu
không
cần
báo
trước
v.v...
Nhờ
đó
các
công
việc
tiến
hành
nhanh
hơn.
Trong
kỳ
họp
đầu
tiên,
có
33
điểm
được
bỏ
phiếu,
ở
kỳ
họp
thứ
hai
có
94
và
trong
kỳ
họp
thứ
ba
này
có
150
điểm
được
chung
quyết.
Phiên
họp
bắt
đầu
với
những
tranh
luận
về
chương
VII
của
lược
đồ
Giáo
Hội
nói
đến
sự
cánh
chung.
Ðề
mục
này
đã
được
chính
Ðức
Gioan
XXIII
đề
nghị,
với
mục
đích
minh
chứng
bộ
mặt
siêu
việt
hơn
của
Giáo
Hội.
Nhưng
rồi
cuộc
tranh
luận
đã
đưa
tới
thất
vọng:
chỉ
có
17
diễn
giả
phát
biểu
và
một
số
Nghị
Phụ
lại
không
thấu
triệt
được
vấn
đề.
Từ
ngày
16
đến
ngày
18
tháng
9,
Công
Ðồng
đề
cập
trở
lại
đề
mục
về
Ðức
Trinh
Nữ,
chương
sau
cùng
của
lược
đồ
về
Giáo
Hội.
Bản
văn
lại
phải
tu
chỉnh
vì
phần
đầu
của
đề
mục
bị
chống
đối
quá
mạnh;
cũng
chỉ
có
33
Nghị
Phụ
phát
biểu
về
vấn
đề
này,
vì
sự
khe
khắt
của
luật
phát
biểu.
Nhiệm
vụ
mục
vụ
của
Giám
Mục
được
bàn
cãi
từ
ngày
13
đến
23
tháng
9.
Nhờ
đã
sửa
đổi
ở
các
lần
tranh
luận
trước,
bản
văn
này
được
các
Nghị
Phụ
bàn
cãi
và
chấp
thuận
dễ
dàng
hơn.
Từ
ngày
23
đến
28
tháng
9,
các
Nghị
Phụ
bàn
cãi
lần
thứ
hai
về
Tự
Do
Tôn
Giáo.
Trước
kia,
đề
mục
này
là
chương
thứ
ba
của
lược
đồ
Hiệp
Nhất,
bây
giờ
đã
trở
thành
một
Tuyên
Ngôn
riêng
biệt.
Có
thể
nói
đây
là
một
vấn
đề
gây
nhiều
ngộ
nhận,
nghi
ngờ
và
dè
dặt
nhất.
Thông
thường
trên
nguyên
tắc
các
nhà
thần
học
vẫn
chủ
trương
rằng
sự
lầm
lẫn
tôn
giáo
của
những
người
ngoài
công
giáo
đều
bị
kết
án;
nhưng
theo
hoàn
cảnh
thực
tế
người
ta
cảm
thấy
cần
có
sự
khoan
hồng,
nhượng
bộ
và
chấp
nhận.
Các
ý
kiến
bênh
vực
và
bác
bỏ
của
các
Nghị
Phụ
rất
sôi
nổi
và
xung
khắc
nhau.
Dư
luận
bên
ngoài
cũng
chia
làm
hai
phe
và
hồi
hộp
theo
dõi.
Ðồng
thời,
các
Nghị
Phụ
cũng
tranh
luận
nẩy
lửa
"về
những
người
Do
Thái".
Cuối
cùng
các
Nghị
Phụ
quyết
định
bỏ
phần
tố
cáo
"tội
giết
Thiên
Chúa"
của
toàn
dân
Do
Thái,
cũng
như
bãi
bỏ
tất
cả
những
đoạn
nào
mang
ý
nghĩa
kết
án
tương
tự
đối
với
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo.
Ngày
30
tháng
9,
Công
Ðồng
bàn
lại
lược
đồ
về
Mạc
Khải;
cuộc
tranh
luận
kéo
dài
tới
ngày
6
tháng
10.
Khi
lược
đồ
này
bị
bác
bỏ
ở
kỳ
họp
đầu
tiên
và
không
được
nhắc
tới
ở
kỳ
họp
thứ
hai,
người
ta
cứ
nghĩ
rằng
vấn
đề
có
lẽ
thông
qua.
Nhưng
Ðức
Phaolô
VI
cương
quyết
cho
soạn
thảo
lại
lược
đồ
vì
nó
có
tầm
mức
quan
trọng
về
thần
học
cũng
như
về
hiệp
nhất.
Ðức
Hồng
Y
Ottaviani
và
Bea
hợp
tác
với
nhau
trong
việc
soạn
thảo.
Và
trong
kỳ
họp
thứ
ba
này,
cuộc
tranh
luận
đã
đem
lại
nhiều
đề
nghị
mới,
giúp
cho
lược
đồ
hoàn
mỹ
hơn.
Tuy
thế,
lược
đồ
này
vẫn
chưa
được
bỏ
phiếu.
Ngày
7
tháng
10,
Công
Ðồng
đề
cập
tới
lược
đồ
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân.
Phải
nói
rằng
Giáo
Hội
Tây
Phương
đã
quên
lãng
giáo
dân,
những
thành
phần
của
dân
Thiên
Chúa.
Ngay
cả
những
văn
kiện
chính
thức
cũng
chấp
thuận
phân
chia
Giáo
Hội
thành
hai
cấp,
như
trong
"Tự
điển
biện
giáo
Ðức
Tin
Công
Giáo":
Truyền
lệnh
là
quyền
của
hàng
giáo
sĩ
và
vâng
lời
là
bổn
phận
của
giáo
dân
(DAFC,
bộ
II,
cột
1769).
Vaticanô
II
là
Công
Ðồng
đầu
tiên
đề
cập
tới
vấn
đề
này,
và
các
Nghị
Phụ
đã
hăng
say
bàn
luận:
có
đến
65
lần
phát
biểu
ý
kiến,
và
còn
nhiều
đề
nghị
viết
khác.
Tuy
nhiên,
vì
bản
văn
chưa
mỹ
mãn,
các
Nghị
Phụ
quyết
định
sẽ
hoàn
tất
trong
kỳ
họp
sau.
Lược
đồ
về
Linh
Mục
đã
được
rút
ngắn
thành
một
vài
tiểu
đề,
và
được
bàn
cãi
từ
ngày
13
đến
15
tháng
10;
nhưng
lại
phải
gởi
trả
về
cho
Ủy
Ban
liên
hệ
vì
có
tới
930
phiếu
chống
với
1,199
phiếu
thuận.
Sau
đó
các
Nghị
Phụ
khảo
cứu
lược
đồ
về
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương,
từ
ngày
15
đến
20
tháng
10.
Lược
đồ
được
chấp
thuận.
Ngày
20
tháng
10,
Công
Ðồng
bắt
đầu
cuộc
bàn
cãi
về
lược
đồ
XIII
sẽ
trở
thành
Hiến
Chế
Mục
Vụ
về
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay.
Ðây
là
vấn
đề
quan
trọng
nhất
trong
kỳ
họp
thứ
ba
này
và
được
thế
giới
hồi
hộp
theo
dõi.
Các
nghị
Phụ
đã
thành
thật
nhìn
nhận
sự
chia
cách
của
Giáo
Hội
với
thế
giới,
và
cảm
thấy
cần
phải
góp
phần
giải
quyết
những
vấn
nạn
của
xã
hội;
nhưng
các
Ngài
không
biết
phải
làm
thế
nào.
Lược
đồ
được
khen
ngợi
nhiều
nhưng
cũng
bị
chỉ
trích
mạnh
mẽ.
Tính
cách
pháp
chế
tuyệt
đối
trong
nhiều
giới
luật
của
Giáo
Hội
bị
đã
kích
và
chê
bai.
Các
Nghị
Phụ
yêu
cầu
đời
sống
các
giáo
sĩ
nên
mang
sắc
thái
đơn
giản
hơn
theo
tinh
thần
Phúc
Âm.
Các
Ngài
đề
cập
tới
những
vấn
đề
sôi
nổi
như
quyền
lợi
của
nhân
vị
con
người,
sự
điều
hòa
sinh
sản,
sự
chênh
lệch
trầm
trọng
về
văn
hóa
và
kinh
tế
trong
thế
giới
v.v...
Bản
văn
của
lược
đồ
bị
bác
bỏ;
và
Công
Ðồng
thành
lập
một
hội
đồng
với
mục
đích
soạn
thảo
lại
lược
đồ,
để
đem
ra
bàn
cãi
trong
kỳ
họp
tới
và
cũng
là
kỳ
họp
sau
cùng
của
Công
Ðồng.
Trong
lúc
lược
đồ
XIII
còn
dang
dỡ,
vào
ngày
6-11-1964
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
đến
Ðại
Hội
Ðường
và
bằng
những
lời
khen
ngợi,
Ngài
giới
thiệu
lược
đồ
về
Truyền
Giáo.
Nhưng
sau
nhiều
cuộc
tranh
luận,
các
Nghị
Phụ
đã
thẳng
tay
bác
bỏ
lược
đồ
khái
quát
gồm
14
mệnh
đề
đó,
bởi
quá
cô
đọng
và
giản
lược
đối
với
tầm
mức
lớn
lao
của
công
việc
truyền
giáo.
Sự
kiện
này
đã
cho
chúng
ta
hai
bài
học
đáng
nhớ:
sự
tự
do
của
Thánh
Công
Ðồng
đối
với
Ðức
Giáo
Hoàng,
và
mối
quan
tâm
đối
với
công
việc
truyền
giáo.
Trong
những
ngày
sau
hết
của
kỳ
họp,
các
Nghị
Phụ
đã
bắt
tay
làm
việc
gấp
rút
về
những
lược
đồ
ngắn.
Từ
ngày
10
đến
11
tháng
11,
lược
đồ
về
Dòng
Tu
được
bàn
luận
và
được
chấp
thuận
với
1,155
phiếu
thuận
và
882
phiếu
chống;
nhưng
lại
có
tới
1,000
đề
nghị
tu
chỉnh,
và
như
vậy
đòi
hỏi
phải
duyệt
xét
lại
lược
đồ.
Ngày
12,
14,
16
và
17
tháng
11,
các
Nghị
Phụ
bàn
về
lược
đồ
Chủng
Viện,
và
dầu
có
những
phê
bình
khắt
khe,
lược
đồ
vẫn
được
chấp
thuận
với
2,117
phiếu
thuận
và
41
phiếu
chống.
Ngày
17,
18
và
19
tháng
11,
lược
đồ
về
Giáo
Dục
Kitô
Giáo
được
đưa
ra
và
được
chấp
thuận
dễ
dàng.
Trong
phiên
họp
cuối
cùng,
các
Nghị
Phụ
bàn
tới
bản
văn
ngắn
nhất
nói
về
các
Bí
Tích,
hay
đúng
hơn
về
qui
luật
hôn
phối.
Nhưng
vì
không
đủ
thời
giờ,
các
Nghị
Phụ
gởi
trả
bản
văn
lại
cho
Ðức
Giáo
Hoàng.
Bởi
vậy,
không
có
sắc
lệnh
của
Công
Ðồng
về
vấn
đề
này.
Trong
buổi
lễ
kết
thúc
kỳ
họp,
ngày
21
tháng
11,
Thánh
Công
Ðồng
đã
công
bố
ba
văn
kiện:
Hiến
Chế
về
Giáo
Hội,
Sắc
Lệnh
về
Hiệp
Nhất
và
Sắc
Lệnh
về
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương.
Dịp
này,
Ðức
Giáo
Hoàng
chính
thức
tuyên
bố
Ðức
Maria
là
Mẹ
Giáo
Hội,
và
loan
báo
kỳ
họp
tới
sẽ
là
kỳ
họp
kết
thúc.
Nhìn
lại
thành
tích
của
kỳ
họp
thứ
ba
này,
người
ta
phải
nhìn
nhận
có
một
bầu
khí
bi
quan
vây
phủ,
vì
những
nguyên
do
đáng
chú
ý.
Trước
hết,
bản
chú
thích
sơ
khởi
được
thêm
vào
Hiến
Chế
Giáo
Hội
dường
như
làm
giảm
giá
trị
của
bản
văn
Công
Ðồng.
Thứ
đến,
19
đề
nghị
tu
chỉnh
của
Ðức
Giáo
Hoàng
xen
kẽ
vào
Sắc
Lệnh
về
Hiệp
Nhất
tạo
cho
niềm
hy
vọng
hiệp
nhất
bớt
hứng
khởi.
Ðàng
khác,
người
ta
cũng
cảm
thấy
hơi
bất
bình
vì
sự
trì
hoãn
việc
chung
quyết
lược
đồ
về
Tự
Do
Tôn
Giáo.
Sau
cùng,
việc
Ðức
Giáo
Hoàng
tuyên
bố
nhận
Ðức
Maria
làm
Mẹ
Giáo
Hội
không
được
tham
khảo
ý
kiến
của
Thánh
Công
Ðồng
và
có
nguy
hiểm
gây
đụng
chạm
anh
em
Tin
Lành.
Tuy
nhiên,
về
phương
diện
tích
cực,
kỳ
họp
này
cũng
đã
đem
lại
những
thành
quả
mỹ
mãn:
các
văn
kiện
giá
trị
được
công
bố,
những
lược
đồ
còn
lại
được
cải
tiến
khả
quan
sẵn
sàng
chuẩn
bị
cho
kỳ
họp
tới;
vì
thế,
bầu
không
khí
bi
quan
cảm
thấy
lúc
đầu
tan
biến
dần
dần
với
thời
gian.
7.
Kỳ
họp
thứ
tư
(từ
14-9
đến
8-12-1965)
Trong
bài
diễn
văn
khai
mạc
kỳ
họp,
Ðức
Phaolô
VI
loan
báo
quyết
định
thành
lập
Thượng
Hội
Ðồng
Giám
Mục.
Quyết
định
này
đã
gây
ngạc
nhiên
cho
mọi
người.
Ngày
hôm
sau,
trong
phiên
họp
khoáng
đại
lần
thứ
128,
Tự
Sắc
"Apostolica
Sollicitudo"
được
long
trọng
đọc
trước
Thánh
Công
Ðồng,
dưới
sự
hiện
diện
của
Ðức
Giáo
Hoàng.
Ðây
là
một
bước
tiến
đáng
kể
trên
con
đường
canh
tân
Giáo
Hội.
Sau
đó,
cuộc
tranh
luận
bắt
đầu
với
lược
đồ
về
Tự
Do
Tôn
Giáo.
Lần
này
tình
thế
có
vẻ
lạc
quan
hơn.
Tuy
nhiên,
lược
đồ
cũng
phải
qua
nhiều
khó
khăn
vì
các
Nghị
Phụ
chống
đối
vẫn
đưa
ra
những
lý
luận
cũ.
Kết
cuộc,
vào
ngày
21
tháng
9
các
Nghị
Phụ
thử
bỏ
phiếu
lược
đồ,
và
kết
quả
cho
thấy
1,997
phiếu
thuận,
224
phiếu
chống,
1
phiếu
bất
hợp
lệ.
Sau
đó,
các
Nghị
Phụ
đề
cập
tiếp
lược
đồ
về
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay.
Trước
kia,
các
Nghị
Phụ
đã
chấp
thuận
cách
tổng
quát
vấn
đề
này,
nhưng
các
Ngài
đòi
hỏi
phải
thay
đổi
nhiều,
và
kết
quả
lần
này
cho
thấy
lược
đồ
đã
đổi
mới,
nhất
là
về
kết
cấu
và
mạch
văn
(nguyên
văn
của
lược
đồ
bằng
Pháp
ngữ
và
do
Ðức
Cha
Haubtmann
viết).
Lược
đồ
bây
giờ
được
gọi
tên
là
"Hiến
Chế
Mục
Vụ",
và
đây
là
một
tựa
đề
mới
trong
lịch
sử
các
Công
Ðồng,
mặc
dầu
có
nhiều
Nghị
Phụ
chỉ
muốn
gọi
là
"Sắc
Lệnh".
Và
thực
sự
Hiến
Chế
đã
bị
một
số
Nghị
Phụ
tố
cáo
có
tính
cách
lạc
quan
ngây
thơ
với
thái
độ
im
lặng
trước
những
hậu
quả
của
tội
lỗi.
Một
số
khác
cho
rằng
Hiến
Chế
có
tính
cách
quá
Tây
Phương,
quá
lý
thuyết
trong
vấn
đề
vô
thần,
và
quan
niệm
về
"thế
giới"
không
minh
bạch.
Một
bản
kiến
nghị
gồm
334
Nghị
Phụ
ký
tên
thỉnh
nguyện
thêm
vào
Hiến
Chế
một
khoản
lên
án
rõ
ràng
chủ
thuyết
cộng
sản.
Ngày
7
tháng
10,
Công
Ðồng
chấm
dứt
các
tranh
luận
về
vấn
đề
này,
nhưng
cho
mãi
cuối
kỳ
họp,
lược
đồ
mới
được
hoàn
tất
và
chung
quyết.
Ngày
7
tháng
10,
Công
Ðồng
bàn
đến
Sắc
Lệnh
về
Truyền
Giáo.
Lược
đồ
được
soạn
thảo
lại
và
chỉ
còn
5
chương.
Quan
điểm
thần
học
về
sứ
mệnh
truyền
giáo
là
công
trình
của
cha
Y.
Congar
và
J.
Ratzinger,
đặt
nền
tảng
trên
Giáo
Hội
học
của
Hiến
Chế
về
Giáo
Hội.
Bản
văn
về
cải
tổ
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Ð
ức
Tin
(số
27;
bản
văn
chung
quyết
là
số
29)
đã
được
ủy
ban
phụ
trách
thay
đổi,
và
trở
thành
đối
tượng
cho
những
cuộc
bàn
cãi
sôi
nổi
ở
nghị
trường.
Ngày
12
tháng
10,
các
Nghị
Phụ
bỏ
phiếu
thuận
trên
nguyên
tắc
bản
văn
ấy
với
2,070
phiếu
thuận
và
15
phiếu
chống.
Ngày
13
tháng
10,
vấn
đề
Chức
Vụ
và
Ðời
Sống
Linh
Mục
được
đưa
ra
bàn
luận,
với
bản
tường
trình
của
Ðức
Cha
Marty.
Trong
suốt
thời
gian
này,
các
Nghị
Phụ
lần
lượt
bỏ
phiếu
chung
quyết
các
bản
văn
đã
bàn
cãi
và
chấp
thuận.
Ngày
6
tháng
10,
Sắc
Lệnh
về
Giám
Mục
được
bỏ
phiếu
chấp
thuận
với
2,167
phiếu
thuận
và
14
phiếu
chống.
Ngày
11
tháng
10,
Sắc
Lệnh
về
đời
sống
Dòng
Tu
được
chấp
thuận
do
2,161
phiếu,
có
13
phiếu
chống.
Ngày
13
tháng
10
các
Nghị
Phụ
chấp
thuận
Sắc
Lệnh
về
Ðào
Tạo
Linh
Mục
với
2,196
phiếu
thuận,
15
phiếu
chống
và
1
phiếu
bất
hợp
lệ.
Ngày
hôm
sau
tuyên
ngôn
về
Giáo
dục
Kitô
giáo
được
bỏ
phiếu
thuận
với
1,912
phiếu
và
183
phiếu
chống
(Tuyên
Ngôn
này
đã
gặp
sự
chống
đối
gắt
gao
của
nhiều
Nghị
Phụ
Châu
Mỹ
La
Tinh
và
Indonesia).
Cùng
ngày,
Ðức
Hồng
Y
Bea
đọc
bản
tường
trình
lược
đồ
về
Các
Tôn
Giáo
ngoài
Kitô
giáo,
và
cuộc
bỏ
phiếu
ngay
sau
đó
với
kết
quả
1,763
phiếu
thuận,
250
phiếu
chống,
10
phiếu
bất
hợp
lệ.
Ngày
28
tháng
10,
khóa
VII
được
khai
mạc.
Dịp
này,
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
cử
hành
Thánh
Lễ
đồng
tế
cùng
với
24
Nghị
Phụ
(trong
số
này
có
Ðức
Tổng
Giám
Mục
Nguyễn
Văn
Bình)
và
nhân
danh
"Thiên
Chúa
Ba
Ngôi
rất
thánh
và
cả
vị
là
Cha,
Con
và
Thánh
Thần",
Ngài
chính
thức
công
bố
5
văn
kiện
đã
được
chấp
thuận.
Ðức
Cha
De
Smedt
một
lần
nữa
giới
thiệu
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo;
cuộc
bỏ
phiếu
diễn
ra
trong
vòng
2
ngày
và
cuối
cùng
bản
văn
được
chấp
thuận
nhưng
với
1,640
đề
nghị
tu
chỉnh.
Ngày
29
tháng
10,
các
Nghị
Phụ
bỏ
phiếu,
và
27
phiếu
chống.
Từ
ngày
9
đến
10
tháng
11,
các
Nghị
Phụ
lại
bỏ
phiếu
cho
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân.
Công
Ðồng
có
bàn
cãi
một
"quan
điểm"
về
các
ân
xá,
và
có
nhiều
ý
kiến
gay
gắt
chống
lại
quan
điểm
chính
thức
của
Giáo
Hội.
Nhưng
xem
ra
giới
thẩm
quyền
đã
ngăn
cản
cuộc
tranh
luận.
Cuối
cùng
Sắc
Lệnh
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
được
chấp
thuận
với
đa
số
phiếu
tuyệt
đối:
2,201
phiếu
thuận
với
2
phiếu
chống.
Từ
ngày
10
đến
12
tháng
11,
Sắc
Lệnh
về
Truyền
Giáo
được
bỏ
phiếu
chấp
thuận
với
đa
số
tuyệt
đối,
ngoại
trừ
vấn
đề
cải
tổ
Thánh
bộ
truyền
bá
Ðức
Tin
(số
29)
có
tới
712
đề
nghị
tu
chỉnh.
Kế
đó,
các
Nghị
Phụ
lại
bỏ
phiếu
chấp
thuận
Sắc
Lệnh
về
Chức
Vụ
và
Ðời
Sống
các
Linh
Mục
(bỏ
phiếu
15
lần).
Như
vậy,
đến
lúc
này,
Công
Ðồng
đã
thu
lượm
được
kết
quả
của
công
việc
lâu
dài.
Ngày
15
tháng
11,
các
Nghị
Phụ
lại
được
nghe
đọc
2
bản
tường
trình
về
Hiến
Chế
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay,
do
Ðức
Cha
Garrone
và
Ðức
Cha
Mc.
Grath
viết;
sau
đó
các
Nghị
Phụ
bỏ
phiếu
chấp
nhận.
Trong
khóa
VIII
ngày
18
tháng
11,
Ðức
Giáo
Hoàng
công
bố
2
văn
kiện
mới:
Hiến
chế
về
Mạc
Khải
và
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân.
Vào
thời
gian
cuối
Công
Ðồng,
công
việc
được
giới
hạn
trong
vấn
đề
xem
xét
lại
các
đề
nghị
tu
chỉnh
của
4
văn
kiện
còn
lại.
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo
vẫn
còn
gặp
nhiều
khó
khăn.
Nhóm
Coetus
internationalis
patrum
(các
Nghị
Phụ
bảo
thủ)
đã
cho
đó
là
một
trong
những
"thành
phần
gây
bế
tắc
cho
công
trình
chung",
và
ngày
18
tháng
11
đã
cho
in
một
truyền
đơn
nhằm
chống
lại
tuyên
ngôn
đó,
đồng
thời
họ
cũng
đệ
đơn
lên
Ðức
Giáo
Hoàng
để
phản
đối.
Kế
đến,
hai
bản
văn
về
Truyền
Giáo
và
về
Linh
Mục
được
đưa
ra
xem
xét;
cả
hai
được
chấp
thuận
dễ
dàng
hơn
(trừ
số
29
của
Sắc
Lệnh
Truyền
Giáo
vẫn
còn
khúc
mắc).
Bản
văn
sau
cùng
được
bỏ
phiếu
quyết
định
Hiến
Chế
Mục
Vụ
về
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay.
Ủy
Ban
liên
hệ
đã
phải
làm
việc
tối
đa
để
sửa
đổi
Hiến
Chế
vì
có
đến
2,247
đề
nghị
tu
chỉnh.
Tuy
thế,
sau
những
cố
gắng
tu
chỉnh,
tất
cả
những
văn
kiện
kể
trên
đều
đã
sẵn
sàng
để
được
bỏ
phiếu
quyết
định,
và
để
được
công
bố,
trong
khóa
IX,
vào
ngày
7
tháng
12.
Những
ngày
sau
hết
của
Công
Ðồng
được
đánh
dấu
bằng
những
sự
kiện
mang
ý
nghĩa
hiệp
nhất
đáng
nhớ.
Ngày
4
tháng
12,
Ðức
Cha
Felici,
Tổng
thư
ký
Công
Ðồng,
đọc
một
sứ
điệp
ca
ngợi
và
tin
tưởng
của
tất
cả
các
quan
sát
viên
gởi
đến
các
Nghị
Phụ,
trong
đó
họ
đặc
biệt
thán
phục
tinh
thần
hiệp
nhất
của
các
Ngài.
Trong
khi
ấy,
tại
Vương
Cung
Thánh
Ðường
Thánh
Phaolô,
cùng
với
các
quan
sát
viên
ngoài
Công
Giáo,
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
dự
một
lễ
nghi
cầu
cho
hiệp
nhất.
Tinh
thần
hiệp
nhất
đạt
tới
mức
độ
tuyệt
vời
khi
Ðức
Phaolô
VI
ở
Roma
và
Ðức
Thượng
Phụ
Athenagoras
ở
Istambul,
vào
ngày
7
tháng
12,
đã
cùng
một
lúc
xóa
bỏ
án
tuyệt
thông
lẫn
nhau,
một
nguyên
do
phát
sinh
sự
ly
khai
vào
năm
1054.
Chính
sự
kiện
này
cũng
đã
là
thành
quả
tốt
đẹp
và
giá
trị
nhất
của
Công
Ðồng!
C.
Một
vài
đặc
điểm
tiêu
biểu
của
Công
Ðồng
Vaticanô
II
Với
mục
đích
giúp
thấu
triệt
hơn
Công
Ðồng
quan
trọng
này,
chúng
ta
nêu
ra
đây
một
vài
đặc
điểm
tiêu
biểu:
1.
Công
Giáo
tính
Chưa
có
một
Công
Ðồng
nào
đã
tạo
được
tính
cách
"Công
Giáo"
đầy
đủ
như
Vaticanô
II.
Hãy
tạm
miễn
bàn
vấn
đề
"giáo
lý
về
công
giáo
tính"
mà
chỉ
đề
cập
đến
các
sự
kiện.
Chưa
có
một
Công
Ðồng
nào
đã
đề
cập
tới
nhiều
vấn
đề
phức
tạp
và
phong
phú
cùng
với
những
tầm
mức
rộng
rãi
như
vậy.
Chỉ
cần
nhìn
vào
những
con
số
biểu
trưng,
chúng
ta
cũng
có
đủ
lý
do
để
xác
nhận
sự
kiện
này.
Trước
hết
chúng
ta
nói
đến
thành
phần
các
Nghị
Phụ.
Ðây
là
lần
đầu
tiên
trong
lịch
sử
mà
chúng
ta
có
quyền
quả
quyết
rằng
toàn
thế
giới
có
mặt
ở
Công
Ðồng.
Con
số
các
Nghị
Phụ
được
triệu
tập
là
3,058,
trong
đó
có
129
Bề
Trên
Tổng
Quyền
các
dòng.
Trong
kỳ
họp
đầu
tiên,
có
2,449
Nghị
Phụ
tham
dự
trong
số
2,904
vị
được
triệu
tập,
như
vậy
tỉ
số
tham
dự
là
84.34%.
Ở
kỳ
họp
thứ
hai,
có
2,488
Nghị
Phụ
đến
tham
dự,
trong
số
3,022
vị
được
triệu
tập,
tức
82.34%
tham
dự.
Và
trong
số
3,074
vị
được
mời
cho
kỳ
họp
thứ
ba,
có
mặt
2,466
Nghị
Phụ,
nghĩa
là
80.23%
tham
dự.
Cuối
cùng
ở
kỳ
họp
thứ
bốn,
trong
số
3,093
vị
được
triệu
tập,
có
2,625
Nghị
Phụ
đến
Công
Ðồng,
và
như
thế
tỉ
số
tham
dự
lên
tới
84.88%.
Như
vậy
chúng
ta
có
thể
kết
luận
rằng
đại
đa
số
thành
phần
Giám
Mục
Ðoàn
đã
tham
dự
Công
Ðồng.
Nếu
xét
qua
nguồn
gốc
địa
dư,
chúng
ta
thấy
rằng
các
Nghị
Phụ
từ
khắp
năm
châu
trên
toàn
thế
giới
đều
tựu
về:
1,060
vị
ở
Âu
Châu,
408
Nghị
Phụ
ở Á
Châu,
351
ở
Phi
Châu,
416
ở
Bắc
Mỹ,
89
ở
Trung
Mỹ,
531
ở
Nam
Mỹ,
và
74
vị
ở
Ðại
Dương
Châu.
Trong
các
phiên
họp,
có
tất
cả
695
Nghị
Phụ
lên
tiếng
tại
nghị
trường.
Tổng
cộng
tất
cả,
các
ngài
đã
nói
tới
2,234
lần;
trong
đó
các
Nghị
Phụ
Pháp
231
lần,
các
Nghị
Phụ
Ðức
141
lần,
các
Nghị
Phụ
Ba
Lan
75
lần
v.v...,
các
Nghị
Phụ
Việt
Nam
lên
tiếng
16
lần.
Nghị
Phụ
được
xem
là
hùng
biện
nhất
là
Hồng
Y
Ruffini,
ngài
lên
tiếng
36
lần.
Trong
thời
gian
họp
Công
Ðồng
có
253
Nghị
Phụ
qua
đời,
và
cùng
lúc
có
296
người
được
tấn
phong
Giám
Mục.
Ngoài
sự
tham
dự
của
các
Nghị
Phụ,
chúng
ta
còn
phải
kể
đến
sự
có
mặt
của
những
phần
tử
khác
của
Dân
Chúa.
Trước
hết
phải
nói
đến
các
nhà
chuyên
môn,
vì
họ
đã
tích
cực
góp
phần
cho
công
việc
có
kết
quả.
Ðược
đề
cử
từ
giai
đoạn
chuẩn
bị
Công
Ðồng,
các
nhà
chuyên
môn
này
đã
tham
gia
vào
công
việc
của
các
Ủy
Ban,
trong
việc
soạn
thảo
các
lược
đồ,
thăm
dò
ý
kiến
của
các
Giám
Mục
v.v...
Con
số
các
nhà
chuyên
môn
lên
tới
460
vị,
gồm
235
linh
mục
giáo
phận,
45
tu
sĩ
Dòng
Tên,
42
tu
sĩ
Ða
Minh,
15
tu
sĩ
Phanxicô,
12
đan
sĩ
Dòng
Ðức
Mẹ
Vô
Nhiễm,
6
tu
sĩ
Biển
Ðức,
5
tu
sĩ
Dòng
Don
Boscô,
với
nhiều
thành
phần
Tu
Hội
và
giáo
dân.
Công
Ðồng
cũng
kêu
mời
nhiều
Cha
Sở,
với
tư
cách
là
cộng
tác
viên
thân
cận
của
các
Giám
Mục.
Thực
sự
họ
chỉ
được
mời
gọi
sau
các
dự
thính
viên
giáo
dân.
Trong
kỳ
họp
thứ
ba,
có
tất
cả
39
vị,
chia
ra:
Hoa
Kỳ
và
Ý
mỗi
nước
5
vị;
Tây
Ban
Nha,
Pháp,
Canađa,
Ðức,
mỗi
nước
4
vị;
Argentina,
Úc,
Brazil,
Liban,
mỗi
nước
2
vị;
Bỉ,
Nhật,
Mexicô,
Hòa
Lan,
Palestina,
mỗi
nước
1
vị.
Ở
kỳ
họp
thứ
bốn
con
số
các
cộng
tác
viên
này
lên
tới
45
vị.
Và
ngày
27
tháng
10
năm
1965,
cha
sở
Thomas
Fall,
thuộc
giáo
phận
Philadelphia
Hoa
Kỳ,
lên
tiếng
trước
nghị
trường.
Các
giáo
dân
được
mời
tham
dự
với
tư
cách
là
những
dự
thính
viên.
trong
thời
gian
chuẩn
bị
cho
kỳ
họp
thứ
hai,
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
đề
cử
một
nhóm
gồm
13
giáo
dân
cả
nam
lẫn
nữ
giới,
được
chọn
lựa
trong
các
tổ
chức
tông
đồ
quốc
tế
Công
Giáo.
Ở
kỳ
họp
cuối
cùng,
số
dự
thính
viên
này
lên
tới
42.
Ngoài
ra,
còn
có
sự
tham
dự
của
10
nữ
tu
dự
thính.
sau
cùng,
để
đại
diện
cho
gia
đình
Kitô
giáo
hai
vợ
chồng
Mexicô,
J.
Alvarez
Icaza,
được
mời
tham
dự.
Tất
cả
các
dự
thính
viên
giáo
dân
này
đã
lên
tiếng
6
lần
ở
Công
Ðồng,
và
đã
góp
ý
kiến
về
nhiều
vấn
đề
cho
các
Ủy
Ban.
2.
Tinh
thần
hiệp
nhất
Một
trong
những
ý
tưởng
chính
yếu
của
Ðức
Gioan
XXIII
khi
ngài
triệu
tập
Công
Ðồng
Vaticanô
II
là
nỗ
lực
nối
lại
vòng
dây
thân
ái
giữa
các
Kitô
hữu.
Chúng
ta
nhận
thấy
Công
Ðồng
đã
đạt
được
mục
đích
này,
qua
những
văn
kiện
giáo
lý
và
các
cuộc
gặp
gỡ
thân
thiện
từ
bầu
khí
Công
Ðồng.
Thật
vậy,
Sắc
Lệnh
về
Hiệp
Nhất,
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo
và
Tuyên
Ngôn
về
các
Tôn
Giáo
ngoài
Kitô
giáo
đều
nhấn
mạnh
đến
tinh
thần
hiệp
nhất.
Quan
niệm
mới
mẻ
này
cũng
xuất
hiện
ở
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
nhất
là
ở
Hiến
Chế
Mục
Vụ
về
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay,
khi
Công
Ðồng
đề
cập
tới
thái
độ
phải
có
của
Giáo
Hội
đối
với
thế
giới.
Tìm
hiểu
qua
những
ý
kiến
của
các
Nghị
Phụ
phát
biểu
ở
nghị
trường,
chúng
ta
cũng
thấy
các
ngài
ý
thức
rõ
rệt
tinh
thần
này.
Sau
hết,
một
sáng
kiến
đã
tạo
được
thành
quả
tốt
đẹp
cho
mối
dây
hiệp
nhất,
đó
là
việc
mời
các
quan
sát
viên
ngoài
Công
Giáo.
Sáng
kiến
này
do
Ðức
Hồng
Y
Ben
khởi
xướng
và
chính
Ngài
đã
cố
gắng
can
thiệp
với
Ủy
Ban
Trung
Ương
Chuẩn
Bị
Công
Ðồng.
Sau
đó
ít
lâu,
Hội
Ðồng
Thế
Giới
các
Giáo
Hội
(CME)
đã
mời
5
quan
sát
viên
Công
Giáo
đến
tham
dự
Ðại
Hội
Quốc
Tế
ở
Tân
Ðề
Ly,
với
sự
chấp
thuận
của
Giáo
Triều
Roma,
mặc
dầu
gặp
nhiều
khó
khăn.
Dựa
vào
đó,
Văn
Phòng
Hiệp
Nhất
gởi
lời
mời
các
quan
sát
viên
ngoài
Công
Giáo
đến
tham
dự
Công
Ðồng.
Ban
đầu,
một
số
giáo
hội
từ
chối;
nhưng
cuối
cùng
sau
thời
gian
đắn
đo,
họ
đã
gởi
các
đại
diện
đến
Công
Ðồng.
Như
vậy,
trong
kỳ
họp
đầu
tiên,
con
số
quan
sát
viên
ngoài
Công
Giáo
được
gởi
tới
là
46
người,
cộng
với
8
quan
sát
viên
do
Văn
Phòng
mời:
họ
đại
diện
cho
17
Giáo
Hội
và
Cộng
Ðồng
Kitô
Giáo.
Ở
kỳ
họp
thứ
hai,
có
59
quan
sát
viên
đại
diện
và
9
vị
do
Văn
Phòng
mời.
Trong
kỳ
họp
thứ
ba,
có
70
quan
sát
viên
đại
diện
và
13
do
Văn
Phòng
mời.
Ở
kỳ
họp
cuối
cùng,
con
số
quan
sát
viên
ngoài
Công
Giáo
lên
tới
90,
cộng
với
16
người
do
Văn
Phòng
mời;
và
họ
đại
diện
cho
29
Giáo
Hội
và
Cộng
Ðồng
Kitô
Giáo.
D.
Một
vài
con
số
tiêu
biểu
trong
công
việc
của
Công
Ðồng
Ðể
ý
thứ